Bước tới nội dung

Trung du và miền núi phía Bắc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Vùng trung du miền núi phía Bắc,[1] trước năm 1954 còn gọi là Trung du và thượng du, là khu vực sơn địabán sơn địamiền Bắc Việt Nam.

Bản mẫu:Infobox settlement

Xét về mặt hành chính, vùng này bao gồm 9 tỉnh: Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La.[2]

Xét về mặt địa lý, vùng này bao gồm ba tiểu vùng là Tây Bắc BộĐông Bắc Bộ và Tây Thanh Hóa, Tây Nghệ An.

Vùng trung trung du Bắc Bộ chủ yếu nằm tại 3 tỉnh Phú Thọ, Tuyên Quang, Thái Nguyên (thuộc Đông Bắc Bộ) và tỉnh Bắc Ninh (thuộc Đồng bằng sông Hồng).

Trung tâm vùng là đô thị Thái Nguyên; đô thị Việt Trì (Phú Thọ). Theo quy hoạch vùng công nghiệp của Chính phủ Việt Nam đến năm 2030, vùng trung du và miền núi phía bắc nằm trong vùng 1.

Trung du và miền núi bắc bộ có diện tích 92,5 ngàn km2, dân số 12,6 triệu người (2024). Gồm Đông Bắc BộTây Bắc Bộ.

Vị trí địa lý

Trung du và miền núi Bắc Bộ là vùng lãnh thổ ở phía Bắc, chiếm 30,7% diện tích và 14,4% dân số cả nước.[3] Nơi đây có vị trí địa lý khá đặc biệt, lại có mạng lưới giao thông vận tải đang được đầu tư, nâng cấp, nên ngày càng thuận lợi cho việc giao lưu với các vùng khác trong nước và xây dựng nền kinh tế mở. Đây là vùng lãnh thổ có diện tích rộng nhất trong các vùng kinh tế, gồm 14 tỉnh.

Trung du và miền núi Bắc Bộ giáp với 2 tỉnh Quảng TâyVân Nam của Trung Quốc ở phía bắc, phía tây giáp Lào, phía nam và đông nam giáp Đồng bằng sông HồngBắc Trung Bộ.

Việc phát triển mạng lưới giao thông vận tải sẽ giúp cho việc thông thương trao đổi hàng hóa dễ dàng với các vùng Đồng bằng sông Hồng và Bắc trung Bộ, cũng như giúp cho việc phát triển nền kinh tế mở.

Trung du và miền núi Bắc Bộ có tài nguyên thiên nhiên đa dạng, có khả năng đa dạng hóa cơ cấu kinh tế, với thế mạnh về công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, thủy điện, nền nông nghiệp nhiệt đới có cả những sản phẩm cận nhiệt và ôn đới, phát triển du lịch.

Trung du miền núi bắc bộ có một địa hình chia cắt mạnh chủ yếu là đồi núi tạo nhiều thuận lợi cho nghề khai thác thủy điện, gồm hai tiểu vùng: Đông Bắc và Tây Bắc.

Cải thiện đời sống của nhân dân, phát triển cơ sở hạ tầng, nước sạch, đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo là những vấn đề đang được quan tâm trong các dự án phát triển kinh tế xã hội của trung du miền núi bắc bộ. Những việc đó đang là những thách thức hàng đầu trong việc cải tạo đời sống nhân dân nơi đây.

Dân cư - xã hội

Trung du và miền núi Bắc Bộ là vùng thưa dân. Các dân tộc sinh sống chủ yếu là Thái, Mường, Dao, Mông,... ở Tây Bắc; Tày, Nùng, Dao, Mông,... ở Đông Bắc. Người Kinh cư trú ở hầu hết địa phương.[3] Mật độ dân số ở miền núi là 50 – 100 người/km2. Vì vậy, có sự hạn chế về thị trường tại chỗ và về lao động, nhất là lao động lành nghề. Đây là vùng có nhiều dân tộc ít người có kinh nghiệm trong lao động sản xuất và chinh phục tự nhiên. Tuy nhiên, tình trạng lạc hậu, nạn du canh du cư,... vẫn còn ở một số tộc người. Tỉnh có dân số đông nhất vùng là tỉnh Bắc Giang với khoảng gần 2 triệu người.

Công nghiệp

Khoáng sản

Trung du và miền núi Bắc Bộ là vùng giàu tài nguyên khoáng sản. Các khoáng sản chính là than, sắt, thiếc, chìkẽm, đồng, apatit, pyrit, đá vôisét làm xi măng, gạch ngói, gạch chịu lửa ... Tuy nhiên, việc khai thác đa số các mỏ đòi hỏi phải có phương tiện hiện đại và chi phí cao.

Tây bắc có một số mỏ khá lớn như mỏ quặng đồng – nickel (Sơn La), đất hiếm (Lai Châu). Ở đông bắc có nhiều mỏ kim loại, đáng kể hơn là mỏ sắt (Yên Bái), thiếc và bôxit (Cao Bằng), Kẽm – chì (Chợ Điền - Bắc Kạn), đồng – vàng (Lào Cai), thiếc ở Tĩnh Túc (Cao Bằng). Mỗi năm vùng sản xuất khoản 1.000 tấn thiếc.

Các khoáng sản phi kim loại đáng kể có apatit (Lào Cai). Mỗi năm khai thác khoảng 600 nghìn tấn quặng để sản xuất phân lân.

Thủy điện

Các sông suối có trữ năng thủy điện khá lớn. Hệ thống sông Hồng(11 triệu kW) chiếm 37% trữ năng thủy điện của cả nước. Riêng sông Đà chiếm gần 6 triệu kW. Nguồn thủy năng lớn này đã và đang được khai thác. Nhà máy thủy điện Thác Bà trên sông Chảy (110 MW). Nhà máy thủy điện Hòa Bình trên sông Đà (1.920 MW). Hiện nay, đang triển khai xây dựng nhà máy thủy điện Sơn La trên sông Đà (2.400 MW), thủy điện Tuyên Quang trên sông Gâm (342 MW). Nhiều nhà máy thủy điện nhỏ đang được xây dựng trên các phụ lưu của các sông. Việc phát triển thủy điện sẽ tạo ra động lực mới cho sự phát triển của vùng, nhất là việc khai thác và chế biến khoáng sản trên cơ sở nguồn điện rẻ và dồi dào. Nhưng với những công trình kỹ thuật lớn như thế, cần chú ý đến những thay đổi không nhỏ của môi trường.

Trong vùng có nhà máy nhiệt điện Cao Ngạn (Thái Nguyên) 116 MW, Na Dương (Lạng Sơn) 110 MW, nhà máy nhiệt điện Sơn Động (Bắc Giang).

Vùng trung du và miền núi Tây Thanh Hóa, Tây Nghệ An có tiềm năng thủy điện nhỏ và vừa trên các dòng chính và phụ lưu của hệ thống sông Mã, sông Lam. Nhà máy thủy điện Trung Sơn trên sông Mã ở Quan Hóa có công suất lên tới 260 MW. Năm huyện miền núi cao phía Tây Nghệ An đang có tới 32 dự án thủy điện với tổng công suất 1.360,95 MW trong đó 21 dự án đã đi vào hoạt động với tổng công suất 930,9 MW.[4] Thủy điện Bản Vẽ ở thượng nguồn phụ lưu Nậm Nơn của sông Lam tại huyện Tương Dương có công suất 320 MW.

Nông nghiệp

Trồng trọt

Trồng và chế biến cây công nghiệp, cây dược liệu, rau quả cận nhiệt và ôn đới. Trung du và miền núi Bắc Bộ có phần lớn diện tích là đất feralit trên đá phiến, đá vôi và các đá mẹ khác, ngoài ra còn có đất phù sa cổ (ở trung du). Đất phù sa có ở dọc các thung lũng sông và các cánh đồng giữa núi như Than Uyên, Nghĩa Lộ, Điện Biên, Trùng Khánh...

Khí hậu của vùng mang đặc điểm nhiệt đới ẩm gió mùa, có mùa đông lạnh, lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của địa hình vùng núi. Đông Bắc địa hình tuy không cao, nhưng lại là nơi chịu ảnh hưởng mạnh nhất của gió mùa đông bắc, là khu vực có mùa đông lạnh nhất nước ta. Tây Bắc tuy chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc yếu hơn, nhưng do nền địa hình cao nên mùa đông cũng vẫn lạnh. Bởi vậy, Trung du và miền núi Bắc Bộ có thế mạnh đặc biệt để phát triển cây công nghiệp có nguồn gốc cận nhiệt và ôn đới. Đây chính là vùng chè lớn nhất cả nước, với các loại chè nổi tiếng ở Phú Thọ, Thái Nguyên, Yên Bái, Hà Giang, Sơn La.

Ở các vùng núi giáp biên giới của Cao Bằng, Lạng Sơn cũng như trên vùng núi cao Hoàng Liên Sơn, điều kiện khí hậu rất thuận lợi cho việc trồng các cây thuốc quý (tam thất, đương quy, đỗ trọng, hồi, thảo quả...), các cây ăn quả như mận hậu, đào, . Ở Sa Pa có thể trồng rau ôn đới, cây công nghiệp, cây đặc sản và cây ăn quả của Trung du và miền núi Bắc Bộ còn rất lớn. Nhưng gặp khó khăn là hiện tượng rét đậm, rét hại, sương muối và tình trạng thiếu nước về mùa đông. Mạng lưới các cơ sở công nghiệp chế biến nông sản (nguyên liệu cây công nghiệp) chưa tương xứng với thế mạnh của vùng.

Việc đẩy mạnh sản xuất cây công nghiệp và cây đặc sản cho phép phát triển nền nông nghiệp hàng hóa có hiệu quả cao và có tác dụng hạn chế nạn du canh, du cư trong vùng.

Chăn nuôi

Trung du và miền núi Bắc Bộ có nhiều đồng cỏ, chủ yếu trên các cao nguyên có độ cao 600 – 700 m. Các đồng cỏ tuy không lớn, nhưng ở đây có thể phát triển chăn nuôi trâu, (lấy thịt và lấy sữa), ngựa, . Bò sữa được nuôi tập trung ở cao nguyên Mộc Châu (Sơn La). Trâu, bò thịt được nuôi rộng rãi, nhất là trâu. Trâu khỏe hơn, ưa ẩm, chịu rét giỏi hơn bò, dễ thích nghi với điều kiện chăn thả trong rừng. Đàn trâu có 1,87 triệu con, chiếm 74,6% đàn trâu cả nước. Đàn bò có 1,6 triệu con, chiếm khoảng 20% đàn bò cả nước (năm 2014)

Hiện nay, những khó khăn trong công tác vận chuyển các sản phẩm chăn nuôi tới vùng tiêu thụ (đồng bằng và đô thị) đã hạn chế việc phát triển chăn nuôi gia súc lớn của vùng. Thêm vào đó, các đồng cỏ cũng cần được cải tạo, nâng cao năng suất.

Do giải quyết tốt hơn lương thực ở người, nên hoa màu lương thực dành nhiều hơn cho chăn nuôi đã giúp tăng nhanh đàn lợn trong vùng; tổng đàn lợn đạt khoảng 7 triệu con, chiếm 26% đàn lợn cả nước (năm 2014).

Hành chính

Stt Tỉnh Trung tâm hành chính Phường Đặc khu Diện tích

(km²)

Dân số

(người)

Mật độ

(km²)

Biển số xe Mã vùng ĐT
1
Sơn La
Chiềng Cơi
8
67
0
14.108,89
1.404.587
100
26
212
2
Điện Biên
Điện Biên Phủ
3
42
0
9.539,93
673.091
71
27
215
3
Lai Châu
Tân Phong
2
36
0
9.068,73
512.601
57
25
213
4
Lào Cai
Yên Bái
10
89
0
13.256,92
1.778.785
134
21, 24
214, 216
5
Phú Thọ
Việt Trì
15
133
0
9.361,38
4.022.638
429
19, 28, 88
210, 211, 218
6
Tuyên Quang
Minh Xuân
7
117
0
13.795,50
1.865.270
135
22, 23
207, 219
7
Cao Bằng
Thục Phán
3
53
0
6.700,39
573.119
86
11
206
8
Thái Nguyên
Phan Đình Phùng
15
77
0
8.375,21
1.805.432
216
20, 97
208, 209
9
Lạng Sơn
Lương Văn Tri
4
61
0
8.310,18
881.384
106
12
205

Đô thị

Hiện nay, các địa phương còn lại của vùng đều có ít nhất một đô thị loại II. Trong đó, hai tỉnh Phú ThọThái Nguyên bốn đô thị loại II: tỉnh Phú Thọ có đô thị Việt Trì, Vĩnh Yên, Phúc YênHòa Bình; còn Thái Nguyên có các đô thị Thái Nguyên, Sông Công, Phổ YênBắc Kạn.

Trong suốt thời kỳ từ đầu năm 1945 cho đến năm 2002, toàn vùng trung du và miền núi phía Bắc chỉ có hai thành phố là Thái Nguyên và Việt Trì. Từ năm 2002 đến 2025, lần lượt các thị xã được nâng cấp trở thành các thành phố trực thuộc tỉnh, tạo tiền đề cho các đô thị loại II mới sau ngày 1 tháng 7 năm 2025.

Các thành phố lập trước năm 2002

  • Thành phố Việt Trì: lập ngày 04 tháng 6 năm 1962 theo Quyết định của Hội đồng Chính phủ
  • Thành phố Thái Nguyên: lập ngày 19 tháng 10 năm 1962 theo Quyết định của Hội đồng Chính phủ

Các thành phố lập từ năm 2002 đến 2025:

Hiện nay, vùng Trung du và miền núi phía Bắc có 18 đô thị loại II trực thuộc tỉnh:

  • Lào Cai, Yên Bái (tỉnh Lào Cai)
  • Lạng Sơn (tỉnh Lạng Sơn)
  • Sơn La (tỉnh Sơn La)
  • Tuyên Quang, Hà Giang (tỉnh Tuyên Quang)
  • Điện Biên Phủ (tỉnh Điện Biên)
  • Cao Bằng (tỉnh Cao Bằng)
  • Lai Châu (tỉnh Lai Châu)
  • Thái Nguyên, Sông Công, Phổ Yên, Bắc Kạn (tỉnh Thái Nguyên)
  • Việt Trì, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Hòa Bình (tỉnh Phú Thọ)

và hàng trăm đô thị loại III.

Tham khảo

  1. ^ "Nghị quyết số 306/NQ-CP của Chính phủ: Về điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050". Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
  2. ^ vietnamland.vn (ngày 3 tháng 8 năm 2025). "[Cập nhật] Bản đồ Tây Bắc mới nhất sau tháng 7/2025". VIETNAM LAND (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2025.
  3. ^ a ă Bộ Giáo dục và Đào tạo. Sách Giáo Khoa Địa Lý lớp 9. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. ISBN 978-604-0-23511-4.
  4. ^ Một tỉnh "cõng" 32 thủy điện
  5. ^ "Nghị định 05/2002/NĐ". Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2015.
  6. ^ Nghị định 82/2002/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Lạng Sơn thuộc tỉnh Lạng Sơn
  7. ^ Nghị định 110/2003/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Điện Biên Phủ thuộc tỉnh Điện Biên
  8. ^ Nghị định 195/2004/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Lào Cai thuộc tỉnh Lào Cai
  9. ^ Nghị định 75/2005/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Bắc Giang thuộc tỉnh Bắc Giang
  10. ^ "Nghị quyết 126/2006/NĐ-CP". Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2015.
  11. ^ "Nghị quyết 98/NĐ". Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2015.
  12. ^ "Nghị quyết 27/NQ". Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2015.
  13. ^ Nghị quyết 35/NQ-CP năm 2010 thành lập thành phố Hà Giang thuộc tỉnh Hà Giang do Chính phủ ban hành
  14. ^ "Nghị quyết 60/NQ". Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2018.
  15. ^ "Nghị quyết 869/NQ". Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2013.
  16. ^ "Nghị quyết 892/NQ". Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015.
  17. ^ "Nghị quyết 932/NQ". Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2020.
  18. ^ "Nghị quyết số 469/NQ-UBTVQH15 năm 2022 về việc thành lập các phường thuộc thị xã Phổ Yên và thành lập thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên".

Xem thêm

Bản mẫu:Vùng của Việt Nam Bản mẫu:Du lịch Việt Nam