Bước tới nội dung

Lai Châu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bản mẫu:Thông tin đơn vị hành chính Việt Nam Lai Châu là một tỉnh thuộc vùng Tây Bắc Bộ, Việt Nam.

Địa lý

Tập tin:Đèo Ô Quy Hồ 1.JPG
Đèo Ô Quy Hồ trên quốc lộ 4D nối thành phố Lai Châu và thành phố Lào Cai

Tỉnh Lai Châu có trung tâm hành chính của tỉnh là phường Tân Phong, cách Thủ đô Hà Nội 397 km, nằm ở phía tây bắc của Việt Nam, có toạ độ địa lý từ 21°41' đến 22°49' vĩ độ Bắc và 102°19' đến 103°59' kinh độ Đông, có vị trí địa lý:

Các điểm cực của tỉnh Lai Châu

Lai Châu có 265,165 km đường biên giới (theo Hiệp định về Quy chế quản lý biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc) với cửa khẩu song phương Ma Lù Thàng - Kim Thủy Hà và nhiều đường mòn qua lại trên tuyến biên giới Việt – Trung trực tiếp giao lưu với các lục địa rộng lớn phía tây nam Trung Quốc. Lai Châu có tiềm năng để phát triển dịch vụ – thương mại, xuất nhập khẩu và du lịch, đồng thời, cũng có vị trí chiến lược hết sức quan trọng về quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia. Lai Châu nằm trong khu vực đầu nguồn và phòng hộ đặc biệt xung yếu của sông Đà, sông Nậm Na và sông Nậm Mu, điều tiết nguồn nước trực tiếp cho các công trình thủy điện lớn trên sông Đà, đảm bảo sự phát triển bền vững cả vùng châu thổ sông Hồng.

Địa hình được tạo bởi những dãy núi chạy dài theo hướng tây bắc - Đông Nam, có nhiều đỉnh núi cao như đỉnh Pu Ta Leng cao 3.096 m (đỉnh núi cao thứ 2 tại Việt Nam), đỉnh Bạch Mộc Lương Tử cao 3.046 m. Núi đồi cao và dốc, xen kẽ nhiều thung lũng sâu và hẹp, có nhiều cao nguyên, sông suối. Sông có nhiều thác ghềnh, dòng chảy lưu lượng lớn nên tiềm năng thủy điện rất lớn. Lai Châu có đặc điểm địa hình với nhiều dãy núi và cao nguyên, phía đông là dãy núi Hoàng Liên Sơn. Giữa hai dãy núi đồ sộ trên là phần đất thuộc vùng núi thấp tương đối rộng lớn và lưu vực sông Đà với nhiều cao nguyên đá vôi (dài 400 km, rộng từ 1 – 25 km, cao 600 – 1.000 m). Trên 60% diện tích có độ cao trên 1.000 m, trên 90% diện tích có độ dốc trên 25°, bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi chạy dài theo hướng tây bắc – Đông Nam, xen kẽ là các thung lũng có địa hình tương đối bằng phẳng như: Mường So, Tam Đường, Bình Lư, Than Uyên... Có đỉnh núi Fansipan cao 3.143 m, Pu Sam Cáp cao 1.700 m... Núi đồi cao và dốc, xen kẽ nhiều thung lũng sâu và hẹp, có nhiều sông suối, nhiều thác ghềnh, dòng chảy lưu lượng lớn nên có nhiều tiềm năng về thủy điện.

Lai Châu có khí hậu cận nhiệt đới ẩm. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 21 °C-23 °C chia làm hai mùa theo độ ẩm là mùa mưamùa khô, chia làm 4 mùa theo nhiệt độ: xuân, hè, thu, đông.

Lịch sử

Trước năm 1945

Tập tin:Son-la Province 1891.jpg
Bản đồ Sơn La năm 1891
Tập tin:Lao-kay Province 1891.jpg
Bản đồ Lào Cai năm 1891

Xưa kia Lai Châu hay Mường Lai được đặt dưới quyền điều hành của tù trưởng các dân tộc Thái, quy phục triều đình Việt Nam. Đây vốn là một châu thuộc phủ Điện Biên, tỉnh Hưng Hóa xưa.

Tiểu quân khu phụ Lai Châu gồm châu Lai (trung tâm tại thị xã Mường Lay ngày nay), châu Luân (Tủa Chùa), châu Quỳnh Nhai, châu Phong Thổ được thành lập theo Nghị định ngày 5 tháng 6 năm 1893 của Toàn quyền Đông Dương và trực thuộc tỉnh Vạn Bú từ ngày 10 tháng 10 năm 1895. Tỉnh Vạn Bú đổi tên thành tỉnh Sơn La năm 1904, do đó Lai Châu lại thuộc tỉnh Sơn La.

Tỉnh Lai Châu được thành lập theo Nghị định ngày 28 tháng 6 năm 1909 của Toàn quyền Đông Dương. Lúc đó tỉnh Lai Châu gồm các châu Lai, châu Quỳnh Nhai, châu Điện Biên tách ra từ tỉnh Sơn La, tỉnh lỵ đặt tại thị xã Lai Châu (nay là thị xã Mường Lay thuộc tỉnh Điện Biên), quản lý đầu tiên là công sứ E. Gilles. Ngày 16 tháng 1 năm 1915 tỉnh Lai Châu bị thay thế bằng Đạo Quan binh 4 Lai Châu dưới sự cai trị quân sự.

Sau năm 1945

Năm 1948, Lai Châu thuộc Khu tự trị Thái trong Liên bang Đông Dương đến năm 1950 thì gộp và Hoàng triều Cương thổ của Quốc trưởng Bảo Đại.

Thời kỳ 1953-1955, khi Việt Minh tiếp quản thì tỉnh Lai Châu thuộc Khu tây bắc, tách khỏi Liên khu Việt Bắc.

Ngày 29 tháng 4 năm 1955, tỉnh Lai Châu giải thể, 6 châu của tỉnh Lai Châu cũ (Mường Tè, Mường Lay, Sình Hồ, Điện Biên, Quỳnh Nhai, Tuần Giáo) trực thuộc Khu tự trị Thái Mèo.

Ngày 18 tháng 10 năm 1955, thành lập châu Tủa Chùa gồm 8 xã, tách từ châu Mường Lay.

Tái lập tỉnh Lai Châu

Ngày 27 tháng 10 năm 1962, đổi tên Khu tự trị Thái Mèo thành Khu tự trị Tây Bắc, đồng thời tái lập tỉnh Lai Châu, gồm 7 huyện: Mường Tè, Mường Lay, Sình Hồ (nay là Sìn Hồ), Điện Biên, Phong Thổ, Tuần Giáo, Tủa Chùa. Đến cuối năm 1975, giải thể cấp Khu tự trị.

Sau năm 1975, tỉnh Lai Châu có tỉnh lị là thị xã Lai Châu và 7 huyện: Điện Biên, Mường Lay, Mường Tè, Phong Thổ, Sìn Hồ, Tủa Chùa, Tuần Giáo.

Năm 1979, Trung Quốc đã xâm lăng, đánh chiếm thị trấn Phong Thổ huyện Phong Thổ, phá hủy nhiều cơ sở trước khi rút quân về bên kia biên giới. Sau này tỉnh lỵ chuyển về thị xã Điện Biên Phủ.

Năm 1990, cơ sở hạ tầng của thị xã Lai Châu bị phá huỷ nặng nề bởi trận lũ lịch sử.

Ngày 18 tháng 4 năm 1992, thành lập thị xã Điện Biên Phủ và chuyển tỉnh lỵ từ thị xã Lai Châu về thị xã Điện Biên Phủ.[1]

Ngày 14 tháng 1 năm 2002, thành lập huyện Tam Đường trên cơ sở một phần diện tích và dân số của huyện Phong Thổ; thành lập huyện Mường Nhé trên cơ sở một phần diện tích và dân số của các huyện Mường Tè và Mường Lay.[2]

Ngày 26 tháng 9 năm 2003, thành lập thành phố Điện Biên Phủ trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị xã Điện Biên Phủ.[3]

Chia tách tỉnh Lai Châu năm 2003

Trước khi tách tỉnh, tỉnh Lai Châu có diện tích lớn nhất miền Bắc Việt Nam, thứ hai cả nước (sau tỉnh Đắk Lắk cũ); có diện tích 18.619,22 km², dân số 753.811 người, có 12 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm thành phố Điện Biên Phủ (tỉnh lị), thị xã Lai Châu và 10 huyện: Điện Biên, Điện Biên Đông, Mường Lay, Mường Nhé, Mường Tè, Phong Thổ, Sìn Hồ, Tam Đường, Tủa Chùa, Tuần Giáo.

Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Quốc hội ra Nghị quyết trong đó chia tỉnh Lai Châu thành tỉnh Lai Châu (mới) và tỉnh Điện Biên, đồng thời chuyển huyện Than Uyên của tỉnh Lào Cai về tỉnh Lai Châu mới quản lý:

Tỉnh Lai Châu mới có diện tích tự nhiên là 906.512,30 ha và dân số vào thời điểm đó là 313.511 người, bao gồm các huyện Mường Tè, Phong Thổ, Sìn Hồ, Tam Đường; các xã Pú Đao, Chăn Nưa, Nậm Hàng và bản Thành Chử, xã Xá Tổng của huyện Mường Lay; phường Lê Lợi của thị xã Lai Châu; huyện Than Uyên của tỉnh Lào Cai. Tỉnh lỵ đặt tại thị trấn Phong Thổ, huyện Tam Đường.[4]

Ngày 2 tháng 1 năm 2004, địa giới các huyện Mường Tè và Sìn Hồ được điều chỉnh lại.[5]

Ngày 10 tháng 10 năm 2004, thành lập thị xã Lai Châu mới trên cơ sở một phần diện tích và dân số của huyện Tam Đường.[6] Còn thị xã Lai Châu cũ thuộc tỉnh Điện Biên được đổi tên thành thị xã Mường Lay vào năm 2005.

Ngày 30 tháng 10 năm 2008, thành lập huyện Tân Uyên trên cơ sở một phần diện tích và dân số của huyện Than Uyên.[7]

Ngày 2 tháng 11 năm 2012, thành lập huyện Nậm Nhùn trên cơ sở một phần diện tích và dân số của các huyện Mường Tè và Sìn Hồ.[8]

Ngày 27 tháng 12 năm 2013, chuyển thị xã Lai Châu thành thành phố Lai Châu. Từ đó, tỉnh Lai Châu có 1 thành phố Lai Châu (tỉnh lị) và 7 huyện: Mường Tè, Nậm Nhùn, Phong Thổ, Sìn Hồ, Tam Đường, Tân Uyên, Than Uyên.[9]

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, theo nghị quyết sửa đổi Hiến pháp năm 2013, toàn bộ các đơn vị hành chính cấp huyện tại tỉnh Lai Châu được giải thể. Cùng ngày, theo nghị quyết sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã, tỉnh Lai Châu có 38 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 2 phường và 36 xã.[10][11]

Hành chính

Tỉnh Lai Châu có 38 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 2 phường và 36 xã.

Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Lai Châu[12]
Tên Diện tích

(km²)

Dân số

(người)

Phường (2)
Đoàn Kết 134,31 25.403
Tân Phong 106,76 36.456
Xã (36)
Bản Bo 100,82 9.496
Bình Lư 173,91 18.606
Bum Nưa 315,12 7.147
Bum Tở 384,07 11.711
Dào San 137,29 16.123
Hồng Thu 177,99 13.368
Tên Diện tích

(km²)

Dân số

(người)

Hua Bum 355,72 5.697
Khoen On 189,78 10.677
Khổng Lào 188,12 16.924
Khun Há 149,35 9.148
Lê Lợi 288,36 9.110
Mù Cả 384,04 3.299
Mường Khoa 168,82 12.529
Mường Kim 316,32 20.385
Mường Mô 395,16 7.335
Mường Tè 291,99 6.364
Tên Diện tích

(km²)

Dân số

(người)

Mường Than 154,08 13.925
Nậm Cuổi 177,16 10.799
Nậm Hàng 335,92 11.218
Nậm Mạ 112,73 6.504
Nậm Sỏ 263,42 10.598
Nậm Tăm 242,28 12.753
Pa Tần 316,53 9.039
Pa Ủ 444,58 6.084
Pắc Ta 168,58 10.704
Phong Thổ 266,71 23.295
Tên Diện tích

(km²)

Dân số

(người)

Pu Sam Cáp 152,23 11.611
Sin Suối Hồ 255,91 16.338
Sì Lở Lầu 147,80 16.196
Sìn Hồ 159,70 14.012
Tà Tổng 512,01 7.967
Tả Lèng 128,36 12.628
Tân Uyên 296,25 30.415
Than Uyên 132,09 27.283
Thu Lũm 251,55 5.255
Tủa Sín Chải 292,88 16.199

Kinh tế

Theo dữ liệu Sáp nhập tỉnh, thành Việt Nam 2025, Lai Châu có diện tích: 9.069 km², xếp thứ 16; dân số: 512.601 người, xếp thứ 34; GRDP 2024: 31.024.867 triệu VNĐ, xếp thứ 33; thu ngân sách 2024: 2.509.439 triệu VNĐ, xếp thứ 32; thu nhập bình quân: 30,40 triệu VNĐ/năm, xếp thứ 33.[13]

Năm 2025, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của tỉnh Lai Châu ước đạt 7,52%, đạt mục tiêu Chính phủ giao; trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,58%, công nghiệp – xây dựng tăng 11,69%, dịch vụ tăng 7,04%.[14] Tổng sản phẩm bình quân đầu người đạt 79 triệu đồng, tăng 16,4 triệu đồng so với năm 2024.[14] Thu ngân sách trên địa bàn đạt 3.573 tỷ đồng, là mức thu cao nhất từ trước đến nay.[15] Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trên địa bàn ước đạt 58,18 triệu USD, tăng 98,2% so với năm 2024 và vượt 109,1% kế hoạch năm. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước đạt 10.207 tỷ đồng; doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 1.206 tỷ đồng với hơn 1,4 triệu lượt khách.[16]

Nông nghiệp

Nông nghiệp được xác định là một trong những trụ cột kinh tế của tỉnh Lai Châu. Tỉnh đang chuyển dịch từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, tập trung vào sản xuất hàng hóa, ứng dụng công nghệ cao và phát triển bền vững gắn với du lịch xanh.[17]

Lai Châu đã hình thành nhiều vùng sản xuất hàng hóa tập trung. Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2025 đạt 226.000 tấn; toàn tỉnh có 3.954 ha lúa hàng hóa chất lượng cao (với các giống lúa đặc sản như Séng Cù, Tẻ Râu, Nếp Tan), 10.861 ha chè, 8.084 ha cây ăn quả, 7.421 ha mắc ca và 13.854 ha quế.[17] Cây cao su được duy trì với diện tích khoảng 12.900 ha.[18] Sản lượng chè búp tươi năm 2025 đạt hơn 70.000 tấn.[16]

Sâm Lai Châu được xác định là sản phẩm chủ lực mang thương hiệu quốc gia, với hàm lượng saponin trong tự nhiên đạt tới 23,85%.[19] Tính đến năm 2025, diện tích trồng sâm đạt hơn 140 ha; tỉnh đặt mục tiêu phát triển lên khoảng 3.000 ha vào năm 2030, sản lượng khai thác khoảng 30 tấn/năm.[20]

Lâm nghiệp

Tỷ lệ che phủ rừng năm 2025 duy trì ở mức 54%, với diện tích trồng rừng mới đạt trên 3.400 ha. Tỉnh đang tập trung phát triển kinh tế dưới tán rừng, đặc biệt là trồng dược liệu quý.[21]

Công nghiệp

Công nghiệp là ngành đóng góp lớn vào tăng trưởng và thu ngân sách của tỉnh Lai Châu, dựa trên thế mạnh về thủy điện, khoáng sản và chế biến nông, lâm sản. Năm 2025, giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010) ước đạt 9.503 tỷ đồng, vượt 4,9% kế hoạch và tăng 10,6% so với năm 2024.[22]

Thủy điện là lĩnh vực chủ đạo trong cơ cấu công nghiệp của tỉnh. Tính đến giữa năm 2025, tổng công suất các nguồn thủy điện đang vận hành trên địa bàn đạt khoảng 3.135 MW, trong đó các nhà máy lớn gồm Thủy điện Lai Châu (1.200 MW), Huội Quảng (520 MW) và Bản Chát (220 MW).[23] Các nhà máy thủy điện hằng năm đóng góp trên 60% tổng số thu ngân sách của tỉnh.[24]

Công nghiệp chế biến tập trung vào nông, lâm sản gắn với vùng nguyên liệu tại chỗ, trong đó chè khô là mặt hàng chế biến và xuất khẩu chủ lực; ngoài ra còn có chế biến mủ cao su, mắc ca, tinh dầu quế, chuối, gỗ và lâm sản ngoài gỗ.[25] Lai Châu là tỉnh có tiềm năng đất hiếm lớn nhất Việt Nam, với mỏ Đông Pao đã được cấp phép khai thác, chế biến; ngoài ra còn có các mỏ đồng, chì – kẽm. Sản xuất vật liệu xây dựng được duy trì với các nhà máy gạch, xi măng và khai thác đá, cát phục vụ nhu cầu nội tỉnh.[25]

Tỉnh Lai Châu có hai khu công nghiệp được bổ sung vào quy hoạch phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam là Khu công nghiệp Mường So và Khu công nghiệp Tam Đường, cùng Khu kinh tế cửa khẩu Ma Lù Thàng. Khu công nghiệp Mường So có diện tích quy hoạch khoảng 200 ha; đồ án quy hoạch phân khu xây dựng tỷ lệ 1/2000 được phê duyệt tại Quyết định số 2232/QĐ-UBND ngày 21 tháng 12 năm 2023 với tổng diện tích khoảng 198 ha.[26] Khu công nghiệp Tam Đường được bố trí diện tích 200 ha, định hướng thu hút các dự án sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến khoáng sản, chế biến nông lâm sản và cơ khí.[27]

Trong quý I năm 2026, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của tỉnh tăng 9,65%, trong đó khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 14,82%; chỉ số sản xuất ngành sản xuất và phân phối điện tăng 38,73% so với cùng kỳ, nhờ các nhà máy thủy điện vận hành tối đa công suất.[28]

Dân số

Bản mẫu:Lịch sử dân số

Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, toàn tỉnh có 5 tôn giáo khác nhau đạt 60.892 người, nhiều nhất là đạo Tin Lành có 57.226 người, tiếp theo là Công giáo đạt 3.577 người, Phật giáo có 80 người. Còn lại các tôn giáo khác như Hồi giáo có bảy người và Phật giáo Hòa Hảo có hai người.[29]

Tính đến năm 2024, tỉnh Lai Châu có diện tích tự nhiên 9.068,73 km²,[30] dân số trung bình là 495.470 người,[30] trong đó dân số nam ước tính đạt khoảng 250.450 người chiếm (50,55%),[30] dân số nữ ước tính đạt khoảng 245.020 người chiếm (49,45%),[30] dân số thành thị ước tính đạt khoảng 87.570 người chiếm (17,67%),[30] dân số nông thôn ước tính đạt khoảng 407.910 người chiếm (82,33%),[30] với mật độ dân số là 54 người/km².[30]

Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2024, tỉnh Lai Châu có diện tích 9.068,73 km², dân số là 512.601 người,[31] mật độ dân số đạt 56 người/km².

Du lịch

Du lịch văn hoá

Lai Châu có 20 dân tộc, mỗi dân tộc đều có những nét riêng trong đời sống văn hoá truyền thống. Chợ phiên vùng cao là nơi biểu hiện rất rõ những nét văn hoá đặc trư­ng đó.

  • Dinh thự Đèo Văn Long thuộc xã Lê Lợi – huyện Nậm Nhùn, là khu dinh thự của vị chúa Thái thời Chiến tranh Đông Dương. Dinh thự trở thành di tích lịch sử, giáo dục lòng tự hào dân tộc và là nơi tham quan tìm hiểu những nét kiến trúc đặc trưng, mang bản sắc văn hóa Thái.
  • Bia Lê Lợi: được khắc trên vách đá bờ Bắc sông Đà, nay thuộc xã Lê Lợi – huyện Nậm Nhùn.
  • Di chỉ khảo cổ học nền văn minh của người Việt cổ như di tích Nậm Phé, Nậm TunPhong Thổ; đã tìm thấy công cụ của thời kỳ đồ đá; những công cụ bằng đồng của nền văn hoá Đông Sơn thời đại Hùng Vương, như­ trống đồng

Lễ hội

  • Lễ hội Then Kin Pang: là lễ hội của người Thái trắng ở Phong Thổ được tổ chức vào ngày 13 - 15 tháng Ba âm lịch hàng năm. Lễ hội thu hút nhiều cư dân trong vùng đến vui chơi, múa hát. Lễ hội còn là dịp thi đánh đàn Tính Tẩu. Các nhạc cụ hòa âm với các quả nhạc đồng tạo nên không khí vui tươi, rộn rã.
  • Ngoài ra còn có lễ Hạn Khuống của người Thái, lễ cơm mới của người La Hủ, lễ hội xuân Căm Mường của người Lào, lễ hội bắt cá của người Kháng ở Than Uyên, lễ hội hoa ban, lễ hội mừng măng mọc...

Cảnh quan thiên nhiên

  • Lai Châu có nhiều cao nguyên cao trên 1.500m, mây, sương phủ bốn mùa, khí hậu trong lành, mát lạnh quanh năm như: cao nguyên Sìn Hồ, hồ Thầu, Dào San...
  • Lai Châu có nhiều đỉnh núi cao, sông suối nhiều thác ghềnh, như: dãy Pu Sam Cáp (cao trên 1.700 m), sông Đà, sông Nậm Na, sông Nậm Mu ...
  • Suối nước nóng, nước khoáng là sản vật thiên nhiên tặng cho Lai Châu như núi đá Ô, động Tiên (Sìn Hồ); động Tiên Sơn (Bình Lư - Tam Đường), thác Tắc Tình (TT Tam Đường), suối nước nóng Vàng Bó (Phong Thổ); suối nước nóng Nà Đông, Nà Đon (Tam Đường); suối nước khoáng (Than Un);... và các hồ thủy điện lớn khác.
  • Pú Đao: Một bản người Mông nhỏ với 887 người dân ở tỉnh Lai Châu được khách hàng của một hãng lữ hành nước Anh bầu là một trong năm điểm đến hấp dẫn nhất ở Đông Nam Á. Xã Pú Đao (tiếng Mông có nghĩa là "điểm cao nhất") thuộc huyện Sìn Hồ, cách thị xã Mường Lay 13 km.

Ẩm thực

Các đặc sản, ẩm thực ở Lai Châu như: lợn cắp nách, bánh bỏng San Thàng, gạo nếp Tan, mắc cọp Sìn Hồ, pa tỉnh tộp, chè san tuyết Sà Dề Phìn, rêu đá, rượu ngô Sùng Chô, bánh chưng đen, chè dây Ka Lăng, thịt sấy gác bếp, rau dớn, mật ong rừng Mường Tè, thắng cố, ớt trung đoàn Thu Lũm, gỏi cá, mắc khén, hạt dổi, cá bống vùi tro Vàng Pheo, gạo Dâu, chè san tuyết Tả Lèng, ve sầu rán, canh gà lá thuốc Dao Khâu Sìn Hồ, quả mắc có, đậu phụ nhự, rau ngót rừng, lam nhọ Lai Châu, rượu sâu chít, nấm hương rừng Phong Thổ, xôi màu xôi tím, sâu măng Sin Súi Hồ, quả óc cho, lá chua trộn thịt, tam thất đen Mường Tè, lòng tiết nhồi gạo nếp Sìn Hồ, thảo quả, phở nhắng Lai Châu, hoa đu đủ, đường phên Tả Lèng, canh tiết lá đắng, mận Sìn Hồ, măng, cá đắng Sàng Mà Pho, rau lá ngón Mường So, măng nộm hoa ban, chè xanh, gạo séng cù Than Uyên, miến rong Bình Lư, khâu nhục, lợn đen Mường Tè, dưa chuột mèo, măng lay chấm chéo.

Giáo dục

Tính đến năm học 2023–2024, toàn ngành giáo dục tỉnh có 206 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 62,8%; riêng bậc mầm non, tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đạt 74,1%. Tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2024 đạt 99,61%.[32] Hệ thống trường trung học phổ thông của tỉnh gồm Trường Trung học phổ thông Chuyên Lê Quý Đôn, các trường phổ thông dân tộc nội trú và các trường trung học phổ thông công lập khác.[33]

Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị về xây dựng trường phổ thông nội trú tại các xã biên giới, tỉnh Lai Châu triển khai 11 trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại 11 xã biên giới, trong đó Công an tỉnh làm chủ đầu tư 10 trường.[34] Năm 2025, tỉnh khởi công 5 trường tại các xã Phong Thổ, Pa Tần, Bum Nưa, Hua Bum và Dào San; năm 2026 khởi công thêm 6 trường tại các xã Mù Cả, Thu Lũm, Pa Ủ, Sì Lở Lầu, Khổng Lào và Sin Suối Hồ, với tổng mức đầu tư hơn 1.845 tỷ đồng.[35]

Y tế

Hệ thống y tế tỉnh Lai Châu gồm các bệnh viện tuyến tỉnh (trong đó Bệnh viện Đa khoa tỉnh là cơ sở khám chữa bệnh lớn nhất) và mạng lưới trạm y tế xã. Năm 2024, toàn tỉnh có 1.590 giường bệnh kế hoạch (tuyến tỉnh 670 giường, tuyến huyện 920 giường); tổng số lượt khám bệnh đạt 1.232.826 lượt.[36]

Năm 2023, ngành y tế tỉnh có 12,5 bác sĩ và 32 giường bệnh trên 1 vạn dân; tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 93,2%; toàn tỉnh có 88/106 xã đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế (83,02%); tổng số lượt khám chữa bệnh đạt khoảng 1,24 triệu lượt.[37] Năm 2025, Sở Y tế đặt mục tiêu nâng tỷ lệ bác sĩ trên 1 vạn dân lên 13,11 và đạt tỷ lệ 100% trạm y tế được xây dựng kiên cố.[36]

Cơ sở hạ tầng

Giao thông

Tập tin:Laichautown.jpg
Quảng trường nhân dân tại Thành phố Lai Châu

Lai Châu là một tỉnh vùng cao biên giới, núi đồi dốc, địa hình chia cắt, xen kẽ nhiều thung lũng sâu và hẹp, lại có nhiều cao nguyên, sông suối nên khó khăn cho việc phát triển giao thông. Nhưng Lai Châu lại có đường biên giới dài 265,095 km giáp tỉnh Vân Nam, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa với cửa khẩu song phương Ma Lù Thàng - Kim Thủy Hà là điều kiện thuận lợi cho việc giao thương hàng hoá và dịch vụ du lịch.

Với mạng lưới giao thông chủ yếu là đường bộ. Tỉnh Lai Châu có quốc lộ 12 chạy qua nối từ thành phố Điện Biên Phủ tới Trung Quốc (qua cửa khẩu Ma Lù Thàng), có quốc lộ 4D nối tới thị trấn SaPa (Lào Cai), quốc lộ 32 nối với tỉnh Yên Bái, có đường thủy sông Đà giao lưu với các tỉnh Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình. Tính đến nay đã có 95/98 xã, phường có đường ô tô đến tận trung tâm các xã, phường trên địa bàn toàn tỉnh và 3 xã đang trong giai đoạn xây dựng.

Tính đến năm 2025, toàn tỉnh Lai Châu có hơn 7.267 km đường bộ; 100% các tuyến quốc lộ và đường tỉnh đã được trải nhựa, 82% đường xã được cứng hóa; 100% xã có đường ô tô đến trung tâm và gần 100% thôn, bản có đường cho xe máy đi lại thuận tiện.[38]

Tuyến đường kết nối Lai Châu với cao tốc Nội Bài – Lào Cai dài khoảng 147 km, quy mô cấp III miền núi, thuộc Dự án kết nối giao thông các tỉnh miền núi phía Bắc do Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và Chính phủ Australia tài trợ; tuyến đang được đẩy nhanh tiến độ để hoàn thành vào đầu năm 2026.[39] Hầm đường bộ qua đèo Hoàng Liên kết nối phường Sa Pa (Lào Cai) với xã Bình Lư (Lai Châu) được khởi công ngày 19 tháng 12 năm 2025, tổng mức đầu tư khoảng 3.300 tỷ đồng. Công trình có tổng chiều dài tuyến gần 8,8 km, gồm hầm chính dài 2,63 km và hầm phụ dài 2,65 km; khi hoàn thành sẽ thay thế 22 km đường đèo hiểm trở, giảm thời gian di chuyển từ gần 2 giờ xuống còn khoảng 11 phút, dự kiến hoàn thành năm 2027.[40]

Điện

Là địa bàn miền núi biên giới, Lai Châu từng có tỷ lệ điện khí hóa thấp: năm 2015 mới đạt 86,2% và đầu năm 2020 có khoảng 94,3% số hộ sử dụng điện lưới quốc gia. Nhờ các dự án cấp điện nông thôn, miền núi, đến năm 2025, 100% số xã, khoảng 99% số thôn, bản và gần 98% số hộ dân toàn tỉnh đã được sử dụng điện lưới quốc gia, hoàn thành sớm gần 4 năm so với mục tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV; hiện nay điện lưới đã vươn tới cả 11 xã biên giới của tỉnh.[41] Đến hết năm 2025, toàn tỉnh còn khoảng 8 điểm dân cư với hơn 2.000 hộ chưa có điện lưới, chủ yếu là các điểm dân cư phân tán ở vùng sâu, vùng xa hoặc mới chia tách.[41]

Cấp nước

Năm 2024, tỷ lệ dân số nông thôn của tỉnh được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt khoảng 91,5%; tỉnh đặt mục tiêu nâng tỷ lệ này lên 93% trong năm 2025.[42]

Thể thao

Các môn được tập luyện phổ biến gồm bóng đá, bóng chuyền hơi, cầu lông, bóng bàn cùng các môn thể thao dân tộc truyền thống như kéo co, đẩy gậy, bắn nỏ, tù lu (đánh cù) và tung còn (ném còn). Năm 2018, tỷ lệ người dân luyện tập thể dục thể thao thường xuyên của tỉnh đạt khoảng 26,82% dân số.[43]

Hằng năm, ngành văn hóa, thể thao của tỉnh tổ chức khoảng 18 giải thi đấu cấp tỉnh và phối hợp tổ chức hàng trăm giải ở các cấp huyện, xã. Hệ thống cơ sở vật chất thể thao của tỉnh (số liệu năm 2018) gồm 5 sân vận động, 22 sân bóng đá mini cỏ nhân tạo, 228 sân bóng chuyền, 146 sân cầu lông và đá cầu ngoài trời, 18 bể bơi cùng nhiều nhà tập luyện và sân thể thao khác.[43]

Các môn thể thao dân tộc là thế mạnh của tỉnh trong các giải đấu khu vực và toàn quốc. Tại Hội thi thể thao các dân tộc thiểu số toàn quốc lần thứ XII năm 2022, đoàn Lai Châu tranh tài ở 6 môn (đẩy gậy, tù lu, bắn nỏ, tung còn, việt dã, kéo co), giành 4 huy chương vàng, 8 huy chương bạc và 11 huy chương đồng, là một trong 5 đoàn được nhận cờ xuất sắc.[44]

Trong văn hóa

Một số nhạc sĩ địa phương đã sáng tác các ca khúc về Lai Châu mang âm hưởng dân ca các dân tộc Thái, Mông, Lự, tiêu biểu là nhạc sĩ Tô Văn với các ca khúc Về Lai Châu ta đi chợ phiên, Gieo chữ trên rẻo cao, Bình yên nơi biên cương.[45]

Tham khảo

  1. ^ "Quyết định 130-HĐBT năm 1992 về thành lập thị xã Điện Biên Phủ thuộc tỉnh Lai Châu và di chuyển tỉnh lỵ Lai Châu về thị xã Điện Biên Phủ do Hội đồng Bộ trưởng ban hành".
  2. ^ Nghị định số 08/2001/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Mường Tè, huyện Mường Lay để thành lập huyện Mường Nhé và chia tách huyện Phong Thổ để thành lập huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu.
  3. ^ Nghị định 110/2003/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Lai Châu
  4. ^ "Nghị quyết số 22/2003/QH11 về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh do Quốc hội ban hành". Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 12 năm 2025.
  5. ^ Nghị định số 01/2004/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Sìn Hồ và huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
  6. ^ Nghị định số 176/2004/NĐ-CP về việc thành lập thị xã Lai Châu và thành lập thị trấn thuộc các huyện Tam Đường, Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
  7. ^ Nghị định 41/2008/NĐ-CP về điều chỉnh địa giới hành chính xã, thành lập xã, thị trấn thuộc huyện Than Uyên, huyện Tam Đường, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
  8. ^ Nghị quyết số 97/NQ-CP ngày 14/10/2011 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã để thành lập xã, thị trấn thuộc huyện: Mường Tè, Sìn Hồ, Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
  9. ^ Nghị quyết 131/NQ-CP năm 2013 thành lập thành phố Lai Châu thuộc tỉnh Lai Châu.
  10. ^ Nghị quyết số 203/2025/QH15 ban hành ngày 16/06/2025 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
  11. ^ Nghị quyết 1670/NQ-UBTVQH15 năm 2025 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Lai Châu.
  12. ^ "Phương án sắp xếp, tên gọi, nơi đặt xã phường mới của Lai Châu".
  13. ^ "Danh sách dự kiến tên gọi của 34 tỉnh, thành phố và trung tâm chính trị - hành chính". vtv.vn. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2025.
  14. ^ a ă "Năm 2026: Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng GDP cả nước từ 10% trở lên, Lai Châu phấn đấu GRDP đạt 10%". Báo Lai Châu điện tử. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2026.
  15. ^ "Năm 2025 thu ngân sách trên địa bàn tỉnh Lai Châu đạt 3.573 tỷ đồng - là mức thu cao nhất từ trước tới nay". Cổng thông tin điện tử tỉnh Lai Châu. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2026.
  16. ^ a ă "Lai Châu: Dấu ấn tăng trưởng kinh tế năm 2025". Báo Lai Châu điện tử. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2026.
  17. ^ a ă "Ba đột phá để Lai Châu phát triển xanh, nhanh, bền vững". Tỉnh ủy Lai Châu. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2026.
  18. ^ "Kế thừa, phát huy kết quả đạt được trong nhiệm kỳ 2020-2025". Cổng thông tin điện tử tỉnh Lai Châu. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2026.
  19. ^ "Lai Châu phát triển kinh tế bền vững từ cây dược liệu". Tạp chí Thiên nhiên và Môi trường. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2026.
  20. ^ "Đưa cây sâm Lai Châu trở thành sản phẩm thương hiệu quốc gia". VietnamPlus (Thông tấn xã Việt Nam). Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2026.
  21. ^ "Năm 2025 thu ngân sách trên địa bàn tỉnh Lai Châu đạt 3.573 tỷ đồng". Cổng thông tin điện tử tỉnh Lai Châu. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2026.
  22. ^ "Lai Châu: Năm 2025 - 10 chỉ tiêu kinh tế tăng so với cùng kỳ". Cổng thông tin điện tử tỉnh Lai Châu. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2026.
  23. ^ "EVN khởi động các dự án điện mặt trời nổi, mở rộng thủy điện trên địa bàn Lai Châu". Tạp chí Năng lượng Việt Nam. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2026.
  24. ^ "Lai Châu muốn khai thác tiềm năng thủy điện thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội". Tạp chí Thiên nhiên và Môi trường. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2026.
  25. ^ a ă "Lai Châu tăng cường khai thác tiềm năng, thế mạnh phát triển các ngành công nghiệp". Tỉnh ủy Lai Châu. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2026.
  26. ^ "Lễ công bố công khai đồ án Quy hoạch phân khu xây dựng tỷ lệ 1/2000 Khu công nghiệp Mường So". Sở Xây dựng tỉnh Lai Châu. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2026.
  27. ^ "Phát triển các khu công nghiệp ở Lai Châu: Những nỗ lực vượt khó". Báo Lai Châu điện tử. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2026.
  28. ^ "Kinh tế Lai Châu quý I/2026: GRDP tăng trưởng ấn tượng 9,65%". Báo Thanh tra. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2026.
  29. ^ Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, Tổng cục Thống kê Việt Nam.
  30. ^ a ă â b c d đ Diện tích, dân số và mật độ dân số phân theo địa phương, Trang Thông tin điện tử Cục Thống kê - Bộ Tài chính
  31. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên TT
  32. ^ "Lai Châu: Tổng kết năm học 2023–2024, triển khai nhiệm vụ năm học 2024–2025". Cổng thông tin điện tử tỉnh Lai Châu. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2026.
  33. ^ "Họp Ban Chỉ đạo tuyển sinh Trung học phổ thông năm học 2026–2027 tỉnh Lai Châu". Cổng thông tin điện tử tỉnh Lai Châu. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2026.
  34. ^ "Thứ trưởng Bộ Công an chủ trì giao ban đôn đốc tiến độ xây dựng trường học vùng biên". Công an tỉnh Lai Châu. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2026.
  35. ^ "Lai Châu khởi công xây dựng 6 trường nội trú liên cấp tại các xã biên giới". Báo Nhân Dân điện tử. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2026.
  36. ^ a ă "Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngành Y tế năm 2025". Báo Lai Châu điện tử. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2026.
  37. ^ "Bộ Y tế triển khai công tác y tế năm 2024". Cổng thông tin điện tử tỉnh Lai Châu. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2026.
  38. ^ "Lai Châu bứt phá phát triển hạ tầng giao thông". Báo Lai Châu điện tử. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2026.
  39. ^ "Khởi công tuyến đường kết nối Lai Châu với cao tốc Hà Nội - Lào Cai". Báo Tiền Phong. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2026.
  40. ^ "Hầm đường bộ xuyên đèo Hoàng Liên nối Lào Cai - Lai Châu sẽ được khởi công tháng 12". Báo Xây dựng. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2026.
  41. ^ a ă "Đưa ánh sáng điện về vùng khó của Lai Châu". Báo Nhân Dân điện tử. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2026.
  42. ^ "Hội nghị tổng kết ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Tài nguyên và Môi trường năm 2024". Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lai Châu. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2026.
  43. ^ a ă "Đẩy mạnh phát triển mạnh mẽ phong trào thể dục thể thao quần chúng". Cổng thông tin điện tử UBND tỉnh Lai Châu. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2026.
  44. ^ "Hội thi thể thao các dân tộc thiểu số toàn quốc lần thứ XII: Đoàn Lai Châu là 1 trong 5 Đoàn đạt thành tích xuất sắc". Cổng thông tin điện tử tỉnh Lai Châu. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2026.
  45. ^ "Người "thổi hồn" Lai Châu vào nhạc". Báo Lai Châu điện tử. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2026.

Liên kết ngoài