Mistral (tên lửa)
| Tên lửa phòng không tầm ngắn Mistral | |
|---|---|
| Tập tin:Mistral Atlas launcher of the Hungarian Armed Forces cropped.jpg Hệ thống Mistral ATLAS với ống phóng kép của quân đội Hungary | |
| Loại |
|
| Nơi chế tạo | Pháp |
| Lược sử hoạt động | |
| Phục vụ | 1990–nay |
| Sử dụng bởi | See Operators |
| Trận | Chiến tranh Congo Chiến tranh Nga – Ukraina |
| Lược sử chế tạo | |
| Người thiết kế | Matra Défense (sáp nhập vào MBDA) |
| Năm thiết kế | 1974 |
| Nhà sản xuất | MBDA France |
| Giá thành | Mistral 3: |
| Thông số | |
| Khối lượng | 19,7 kg [2] |
| Chiều dài |
|
| Đường kính | 90 mm |
| Kíp chiến đấu | 1 |
| Tầm bắn hiệu quả | 8 km (Mistral 3)[3] |
| Đầu nổ | Đầu đạn nổ mạnh với bi wolfram mật độ cao |
| Trọng lượng đầu nổ | 2,95 kg |
| Cơ cấu nổ | ngòi nổ laser cận đích hoặc ngòi nổ va chạm |
| Động cơ | Động cơ nhiên liệu rắn 2 tầng |
| Trần bay | 6 km (Mistral 3)[3] |
| Tốc độ | 930 m/s, xấp xỉ Mach 2,71[4] |
| Hệ thống chỉ đạo | Đầu dò hồng ngoại |
Missile Transportable Anti-aérien Léger (tiếng Anh: Transportable lightweight anti-air missile, Tên lửa phòng không hạng nhẹ cơ động), thường được gọi là Mistral, là một họ hệ thống phòng không tầm ngắn đa nhiệm sử dụng đầu dò hồng ngoại do công ty MBDA France (trước đây do Matra Défense và sau đó là Matra BAe Dynamics sản xuất). Dựa trên chương trình SATCP ('Sol-Air à Très Courte Portée' - 'đất đối không tầm cực gần') của Pháp, việc phát triển hệ thống cơ động sau này trở thành Mistral bắt đầu từ năm 1974. Phiên bản đầu tiên của hệ thống được đưa vào trang bị năm 1990 (Mistral 1), phiên bản thứ hai năm 1998 (Mistral 2) và phiên bản thứ ba năm 2013 (Mistral 3).[5]
Mô tả
Mistral là hệ thống phòng không tầm ngắn (SHORAD) có thể được sử dụng trên xe cơ giới, tàu mặt nước, trực thăng hoặc ở cấu hình cơ động mang vác. Tên lửa Mistral được vận chuyển trong một ống chứa kiêm bệ phóng (MPC), đi kèm với thiết bị nhận dạng địch-ta (IFF), nguồn điện và giá ba chân có các thiết bị ngắm bắn.
Hệ thống thường được vận hành bởi hai người, gồm chỉ huy và xạ thủ. Ngoài ra còn có các bệ phóng cho phép tên lửa được phóng từ xe bọc thép, tàu chiến hoặc trực thăng (chẳng hạn như Aérospatiale Gazelle, Denel Rooivalk, hoặc Eurocopter Tiger). Để đánh bại các mồi bẫy nhiệt được phóng ra từ phía sau máy bay mục tiêu, Mistral sử dụng phương pháp dẫn đường tỉ lệ với con quay hồi chuyển làm tham chiếu thay vì phương pháp bám đuổi được sử dụng trên các tên lửa phòng không vác vai dẫn đường hồng ngoại đời trước.
Để tăng cường khả năng chống đối kháng điện tử (ECCM), đầu dò của Mistral có trường quan sát rất hẹp nhằm loại bỏ mồi bẫy và nhiễu. Đầu dò có thể xoay trong phạm vi ±38°. Trên bệ phóng, tên lửa chỉ cần 2 giây để con quay hồi chuyển đạt tốc độ làm việc và tổng thời gian phản ứng là 5 giây. Đầu dò hồng ngoại làm lạnh hai màu có khả năng khóa mục tiêu từ mọi hướng của Mistral hoạt động ở các dải bước sóng 2–4 và 3–5 micromet, do công ty SAT (Societe Anonyme de Telecommunications) phát triển. Tên lửa sử dụng cả ngòi nổ cận đích laser và ngòi nổ va chạm.
Trạm chỉ huy phối hợp Mistral (MCP – Mistral Coordination Post) lần đầu tiên được giới thiệu tại Triển lãm hàng không Paris năm 1991 cùng radar phòng không tầm ngắn SHORAR của Oerlikon Contraves. MCP được thiết kế để sử dụng với các hệ thống Mistral cơ động, ATLAS, ALBI hoặc MPCV, đồng thời là thành phần của các hệ thống phòng không mặt đất (GBAD) của MBDA nhằm bảo vệ các đơn vị quân sự và cơ sở quan trọng.
MCP cung cấp chỉ thị mục tiêu và điều khiển hỏa lực cho tối đa 11 đơn vị hỏa lực Mistral, ALBI, ATLAS hoặc MPCV. MCP được lắp trên khung gầm xe tải hoặc các loại khung gầm địa hình khác. Phiên bản mới hơn của MCP được gọi là IMCP (Improved Missile Control Post – Trạm điều khiển tên lửa cải tiến).[6]
Một hệ thống vũ khí phòng thủ tầm cực gần (CIWS) dựa trên Mistral là phiên bản sáu tên lửa mang tên Sadral, sử dụng bệ phóng ổn định có khả năng nạp đạn nhanh hoàn toàn tự động. Một hệ thống điều khiển hỏa lực do CSEE phát triển được tích hợp với bệ phóng, gồm camera truyền hình và thiết bị ảnh nhiệt FLIR. Hình ảnh từ cả hai cảm biến được hiển thị trên màn hình tại bàn điều khiển của xạ thủ dưới boong tàu, và tên lửa sẽ khóa mục tiêu trước khi phóng. Một bệ Sadral nạp đầy đạn nặng 1080 kg, còn bàn điều khiển nặng 280 kg. Phiên bản hai tên lửa lắp trên tàu được gọi là Simbad, còn phiên bản bệ phóng bốn tên lửa được gọi là Tetral. Một phiên bản cải tiến của Simbad với tên gọi Simbad RC cũng được chào bán. Cả Tetral và Simbad RC đều có thể điều khiển từ xa từ boong tàu, trong khi Simbad nguyên bản được vận hành thủ công với kính ngắm quang học đơn giản.[7]
Lịch sử
Các tên lửa Mistral do lực lượng Rwanda sử dụng trong Chiến tranh Congo lần thứ hai đã bắn hạ một máy bay tiêm kích huấn luyện BAE Hawk của Không quân Zimbabwe ngày 23 tháng 3 năm 1999.[8]
Hai bệ phóng tự động SADRAL (được tháo dỡ từ các khinh hạm lớp Georges Leygues ngừng hoạt động), mỗi bệ mang sáu tên lửa phòng không Mistral Mk 3, đã được lắp đặt trên ba tàu Khinh hạm lớp La Fayette của Hải quân Pháp trong giai đoạn 2021–2023. Hệ thống này đã thay thế cho tổ hợp phòng không Crotale nhằm cải thiện khả năng phòng thủ trước các mục tiêu bay bám mặt biển.[9][10]
Mistral Mk 3 được trang bị đầu dò ảnh hồng ngoại và có khả năng xử lý ảnh tiên tiến. Điều này cho phép nó tiêu diệt các mục tiêu có tín hiệu nhiệt thấp như máy bay không người lái, tên lửa phản lực cánh bằng và xuồng cao tốc ở cự ly xa, đồng thời được cho là có khả năng kháng các biện pháp đối phó điện tử cao.[11] Hệ thống này cũng được trang bị trên tàu sân bay Charles de Gaulle,[12] các tàu đổ bộ tấn công lớp Mistral[13] và phiên bản (SIMBAD-RC) đang được lắp đặt trên các tàu tiếp vận lớp Jacques Chevallier của Hải quân Pháp.[14]
Hai tháp pháo Sadral có tích hợp tên lửa Mistral cũng từng được lắp trên phần boong nâng cao ở hai bên nhà chứa trực thăng của các khinh hạm lớp Cassard.[15] Không gian dành cho hệ thống SADRAL/Mistral cũng đã được bố trí trên các khinh hạm lớp Horizon của Pháp, và tính đến năm 2025 hệ thống này sẽ được lắp đặt trên các tàu đó cũng như toàn bộ các khinh hạm lớp Aquitaine và lớp FDI của Hải quân Pháp.[16]
Na Uy đã chuyển giao 100 hệ thống Mistral cho Ukraina ngay sau khi cuộc xung đột Nga–Ukraina bùng nổ.[17] Để đáp ứng nhu cầu cung cấp vũ khí nhanh hơn do chiến sự, đầu năm 2023 MBDA bắt đầu tăng tốc độ sản xuất Mistral 3 từ 20 lên 30 tên lửa mỗi tháng,[18] và đến cuối năm 2023 tăng lên 40 tên lửa mỗi tháng.[19]
Các phiên bản
Mistral được đưa vào sản xuất từ năm 1989 và hiện đang được triển khai dưới nhiều hình thức khác nhau trong lực lượng vũ trang của 25 quốc gia, bao gồm Áo, Thủy quân lục chiến Brazil, Chile, Colombia, Síp, Ecuador, Estonia, Phần Lan, Pháp, Hungary, Indonesia, Maroc, New Zealand, Oman, Pakistan, Philippines, Hàn Quốc, Singapore, Tây Ban Nha và Venezuela. Na Uy đã viện trợ toàn bộ kho tên lửa Mistral của mình cho Ukraina vào năm 2022.[20]
Hệ thống phòng không mặt đất
- MANPADS: Phiên bản cơ bản của tên lửa Mistral được sử dụng cùng bệ phóng vác vai cơ động, vận hành thủ công.
- ALAMO: Bệ phóng Mistral mang một tên lửa, được sử dụng trên các phương tiện hạng nhẹ và vận hành thủ công.
- ALBI: Hệ thống bệ phóng mang hai tên lửa Mistral. Được sử dụng trên các xe bánh lốp hoặc xe bọc thép hạng nhẹ, vận hành thủ công.
- ATLAS: Hệ thống bệ phóng cải tiến đặt trên mặt đất hoặc trên phương tiện cơ giới, mang hai tên lửa Mistral và vận hành thủ công.
- ATLAS RC: Phiên bản phát triển tiếp theo của hệ thống ATLAS, được điều khiển từ xa.
- ASPIC: Bệ phóng dành cho xe hạng nhẹ, mang bốn tên lửa Mistral và được điều khiển từ xa.
- MPCV: Tháp pháo dành cho xe hạng nhẹ, trang bị bốn tên lửa Mistral cùng một pháo hoặc súng máy hạng nặng. Hệ thống có điều khiển hỏa lực tự động kết hợp với hệ thống quang điện tử (EO).
- PAMELA: Bệ phóng Mistral mang một tên lửa, sử dụng trên các xe tải VLRA hoặc TRM 2000, vận hành thủ công.
- SANTAL: Dành cho xe bọc thép, mang sáu tên lửa Mistral, được trang bị hệ thống điều khiển hỏa lực tự động kết hợp radar tìm kiếm mục tiêu.
Phòng không hạm
- SIMBAD: Hệ thống bệ phóng Mistral mang hai tên lửa, vận hành thủ công.
- SIMBAD RC: Phiên bản phát triển từ hệ thống SIMBAD tiêu chuẩn, được điều khiển từ xa.
- TETRAL: Hệ thống bệ phóng mang bốn tên lửa Mistral, được trang bị hệ thống điều khiển hỏa lực tự động sử dụng radar điều khiển hỏa lực (FCR) hoặc hệ thống quang điện tử (EO).
- SADRAL: Bệ phóng mang sáu tên lửa Mistral, được trang bị hệ thống điều khiển hỏa lực tự động sử dụng radar điều khiển hỏa lực hoặc hệ thống quang điện tử.
- SIGMA: Hệ thống kết hợp giữa pháo tự động cỡ 25 hoặc 30 mm và ba tên lửa Mistral, có hệ thống điều khiển hỏa lực tự động sử dụng radar điều khiển hỏa lực hoặc hệ thống quang điện tử.
- SAKO M85 Mistral: Tháp pháo hải quân mang sáu tên lửa Mistral, phát triển dựa trên hệ thống SAKO 23 M85 của Phần Lan, được điều khiển từ xa.
Hệ thống dành cho máy bay
- ATAM: Phiên bản dành cho trực thăng, được sử dụng như một loại vũ khí không đối không. Mỗi cụm phóng mang hai tên lửa.
Hệ thống phòng không cho tàu ngầm
- Ngày 26 tháng 9 năm 2012, công ty DCNS đã công bố kế hoạch thiết kế và chế tạo một loại vũ khí phòng không cho tàu ngầm sử dụng ống phóng chứa tên lửa Mistral. Ý tưởng này tương tự hệ thống Submarine Launched Airflight Missile của Anh do hãng Vickers phát triển trong thập niên 1970 và đã được thử nghiệm trên tàu ngầm HMS Aeneas cùng với ba tàu ngầm thuộc lớp Gal.[21]
-
Mistral MANPADS
-
Hệ thống phòng không PAMELA
-
Hệ thống phòng không ALAMO
-
ATLAS
-
ASPIC
-
MPCV
-
Hệ thống phòng không SIMBAD
-
SIMBAD RC
-
TETRAL
-
SADRAL
-
SAKO M85 Mistral
-
ATAM
Xem thêm
Tham khảo
- ^ "Missile Interceptors by Cost". Missile Defense Advocacy Alliance. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2025.
- ^ "MISTRAL MANPADS | Ground Based Air Defence".
- ^ a b c "MISTRAL MANPADS". ngày 27 tháng 8 năm 2023.
- ^ "2019 Mistral MANPADS datasheet" (PDF). MBDA. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2022.
- ^ "MISTRAL FAMILY OF VSHORAD SYSTEMS". MBDA. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2025.
- ^ "MCP / IMCP | Ground Based Air Defence". MBDA (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2021.
- ^ "SIMBAD-RC | Maritime Superiority, MISTRAL SOLUTION". Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2019.
- ^ Cooper, Tom. "Zaire/DR.Congo 1980-2001". ACIG.org. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2013.
- ^ "French Navy Lafayette Class Frigates Crotale SAM Systems May be Replaced with SADRAL". ngày 26 tháng 9 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2021.
- ^ "Sadral".
- ^ "MBDA's Mistral 3 missile scores a double success | Press Release".
- ^ "Charles de Gaulle Nuclear-Powered Aircraft Carrier".
- ^ "Mistral Class – Amphibious Assault Ships".
- ^ "Les bâtiments ravitailleurs de forces seront équipés de Simbad-RC". ngày 7 tháng 1 năm 2022.
- ^ "Cassard Class - Naval Technology".
- ^ Groizeleau, Vincent (ngày 7 tháng 11 năm 2025). "Des Simbad-RC avec missiles Mistral pour les frégates FREMM et FDA françaises". Mer et Marine (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2025.
- ^ "Norway sends air defense systems to Ukraine". The News & Observer. Associated Press. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2022.
- ^ MBDA Accelerates Missile Production in Response to Ukraine War. Aviation International News. 17 March 2023.
- ^ French firms to triple 155mm ammo production, boost weapons output. Defense News. 16 October 2023.
- ^ "Norway sends air defence systems to Ukraine". The Washington Post. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2022.
- ^ Janes International Defence Review Vol 45 France revives hard-kill submarine defences, page XIV