Bản mẫu:Short description Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “redirect hatnote”. Bản mẫu:Use American English Bản mẫu:Use mdy dates Bản mẫu:Infobox islands

Tập tin:Hawaiianislandchain USGS.png
Bản đồ thể hiện vị trí của đảo san hô Midway trong quần đảo Hawaii.
Tập tin:Midway Atoll map.svg
Rạn san hô vòng Midway
Tập tin:Orthographic projection centred over midway.png
Điểm chiếu trực giao Midway trên địa cầu

Rạn san hô vòng Midway (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “IPAc-en”.; còn gọi là đảo Midway hay quần đảo Midway; Bản mẫu:Langx; Bản mẫu:Langx)[1][2] là một lãnh thổ chưa hợp nhất và chưa tổ chức của Hoa Kỳ, nằm ở Bắc Thái Bình Dương với diện tích khoảng 6,2 km² (2,4 dm²). Đúng như tên gọi "nửa đường", đảo nằm gần như cách đều Bắc Mỹchâu Á, đồng thời đối diện với kinh tuyến Greenwich qua nửa vòng Trái Đất. Về vị trí địa lý, Midway nằm ở phía tây bắc quần đảo Hawaii, cách Honolulu khoảng 1/3 chặng đường đến Tokyo (Nhật Bản).

Đảo san hô Midway gồm ba đảo: Đảo Sand lớn nhất, có người ở và sở hữu đường băng. Ngay phía đông, qua kênh Brooks hẹp, là Đảo Eastern hoang vắng, không còn cơ sở vật chất. Bao quanh hai đảo này và tạo nên đầm phá Midway là Đảo Spit, một rạn san hô nhỏ hẹp.[3]

Nằm cách đều Bắc Mỹchâu Á, các đảo thuộc đảo san hô Midway là ba hòn đảo duy nhất trong quần đảo Hawaii không thuộc tiểu bang Hawaii.[3] Khác với phần còn lại của quần đảo, Midway dùng Giờ Samoa (UTC−11:00), chậm hơn một giờ so với múi giờ Hawaii–Aleutian. Về mặt thống kê, đây là một phần của các đảo nhỏ xa bờ của Hoa Kỳ. Khu bảo tồn động vật hoang dã quốc gia tại đây do Cục Cá và Động vật hoang dã Hoa Kỳ (FWS) quản lý, đồng thời là một phần thuộc Đài tưởng niệm quốc gia biển Papahānaumokuākea.[4]

Từ năm 1941 đến năm 1993, đảo san hô Midway là Căn cứ Không quân Hải quân Hoa Kỳ. Tại đây, sân bay Henderson trên đảo Eastern đã cùng Hải quân Mỹ giáng đòn quyết định trong Trận Midway (47 tháng 6 năm 1942), đánh chìm 4 tàu sân bay và 1 tàu tuần dương hạng nặng của Nhật Bản. Chiến thắng này đã bảo vệ thành công đảo san hô, tạo nên bước ngoặt quan trọng cho phe Đồng minh ở chiến trường Thái Bình Dương trong Thế chiến II.

Đảo Sand có khoảng 50 người sinh sống, gồm nhân viên Cục Cá và Động vật Hoang dã Hoa Kỳ cùng công nhân hợp đồng.[5] Do chương trình du lịch đã dừngLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Category handler”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Category handler”.[<span title="Khoảng thời gian cạnh thẻ này là không rõ ràng (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Ngày chuẩn”.)">khi nào?] từ năm 2012 vì thiếu kinh phí, hiện nay đảo chỉ đón cán bộ, nhà thầu và tình nguyện viên đến làm việc.[6][7][8][9][10] Nền kinh tế tại đây phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách nhà nước, nhu yếu phẩm chủ yếu được vận chuyển bằng đường biển hoặc đường hàng không, kết hợp một phần rau củ tươi tự trồng tại chỗ.

Vị trí

Đảo Midway nằm ở khoảng giữa Bắc MỹChâu Á, đồng thời gần như trung điểm bán cầu theo kinh độ so với Greenwich, Anh. Nằm ở cực tây bắc quần đảo Hawaii, đảo cách Honolulu 2.110 km và nằm trên khoảng một phần ba đường từ Honolulu đến Tokyo. Khác với phần còn lại của quần đảo Tây Bắc Hawaii, Midway không thuộc tiểu bang Hawaii. Dù thuyền trưởng N.C. Brooks từng phát hiện đảo vào năm 1859, Hoa Kỳ được tính là đã tiếp quản độc lập Midway khi Thuyền trưởng William Reynolds (tàu USS Lackawanna) ghé thăm năm 1867. Vì vậy, Đạo luật Tổ chức Hawaii năm 1900 (sáp nhập Hawaii vào Mỹ theo Nghị quyết Newlands 1898) không bao gồm đảo Midway trong lãnh thổ Hawaii.

Đạo luật Gia nhập Hawaii năm 1959 đã loại trừ các đảo Midway, Palmyra, Johnstonrạn san hô Kingman khỏi quyền tài phán của tiểu bang.[11]

Đảo san hô Midway nằm ở phía đông đường đổi ngày quốc tế khoảng 140 hải lý (260 km), phía tây San Francisco chừng 2.800 hải lý (5.200 km) và phía đông Tokyo khoảng 2.200 hải lý (4.100 km).

Địa lý và địa chất

Địa lý của đảo Midway[12]
Đảo Mẫu anh ha
Đảo Sand 1,117 452
Đảo Eastern 336 136
Đảo Spit 15 6
Tổng diện tích đất 1,549 627
Rạn san hô/mặt nước 580,392 234,876
Tập tin:Midway2021OSM.png
Bản đồ chi tiết có thể phóng to của đảo Midway.

Đảo san hô Midway thuộc chuỗi núi ngầm Hawaii-Emperor, nằm giữa đảo san hô Pearl & Hermesđảo Kurequần đảo Tây Bắc Hawaii. Nơi đây gồm một rạn san hô vòng đường kính khoảng 8,0 km cùng các đảo cát nhỏ.[12] Trong đó, hai đảo chính là đảo Sand và đảo Eastern hiện là môi trường sống của hàng triệu chim biển.

Khoảng 28 triệu năm trước, đảo Midway được hình thành từ cùng điểm nóng địa chất đang tạo ra đảo Hawaii ngày nay. Ban đầu, Midway là một núi lửa hình khiên có quy mô tương đương đảo Lanai. Quá trình phun trào dung nham đã bồi đắp nên hòn đảo, nhưng chính sức nặng của nó lại làm lún vỏ Trái Đất, khiến đảo từ từ sụt xuống qua hàng triệu năm theo cơ chế điều chỉnh đẳng tĩnh.

Khi đảo núi lửa cũ sụt lún, rạn san hô xung quanh vẫn phát triển hướng lên để giữ độ cao gần mực nước biển. Rạn san hô này hiện dày trên 157 m (ở đầm phá đạt 384 m),[13] thành phần chủ yếu là đá vôi hậu Miocen, lớp trầm tích Miocen thượng và đá vôi Miocen hạ phủ trên nền đá bazan. Hiện nay, nơi đây là một đảo san hô nước nông rộng khoảng 9,7 km, là đảo san hô cực bắc thứ hai trên thế giới (sau đảo Kure).

Cơ sở hạ tầng

Đảo Midway sở hữu khoảng 32 km đường bộ, 7,7 km đường ống, cảng biển trên đảo Sand (mã WPN 56328) và sân bay Henderson Field. Sân bay này có một đường băng 06/24 dài 2.400 m, từng được chỉ định làm điểm hạ cánh khẩn cấp theo chuẩn ETOPS từ năm 2004. Dù FWS từng ngừng hoạt động sân bay vào tháng 11 năm 2004, việc đón khách quay lại đảo đã được khôi phục từ tháng 3 năm 2008.[14]

Sân bay Đảo Eastern là căn cứ cũ của quân đội Mỹ trong Trận Midway, do lực lượng công binh hải quân (Seabees) xây dựng chủ yếu bằng thảm Marston. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Toàn cảnh”.

Khí hậu

Nằm phía bắc chí tuyến Bắc (vĩ độ 28°12′ B), đảo san hô Midway sở hữu khí hậu xavan nhiệt đới (As),[15] giáp ranh cận nhiệt đới (Cfa) và rừng mưa nhiệt đới (Af). Thời tiết tại đây quanh năm ôn hòa, lượng mưa rải đều các tháng và chỉ riêng tháng 6 xuống dưới 60 mm. Bản mẫu:Weather box

Lịch sử

Bản mẫu:US Census population Đảo Midway không có cư dân bản địa và chỉ bắt đầu có người sinh sống từ thế kỷ 19.

Thế kỷ 19

Đảo san hô được Thuyền trưởng N.C. Brooks thuộc tàu săn hải cẩu Gambia[16][17] phát hiện vào ngày 5 tháng 7 năm 1859 và đặt tên là "Quần đảo Middlebrook".[16] Ông tuyên bố chủ quyền hòn đảo cho Hoa Kỳ theo Đạo luật đảo phân chim năm 1856, dù thực tế không diễn ra hoạt động khai thác phân chim nào.[18] Đến ngày 28 tháng 8 năm 1867, Thuyền trưởng William Reynolds trên tàu USS Lackawanna mới chính thức tiếp quản đảo san hô này cho Mỹ.[19] Sau đó, đảo được đổi tên thành "Midway", trở thành lãnh thổ Thái Bình Dương đầu tiên được Hoa Kỳ sáp nhập và do Hải quân Hoa Kỳ trực tiếp quản lý.[20][21]

Tập tin:Starr 080531-4733 Midway Island Cable station building (nb 643) in May 2008 with cocos nucifera.jpg
Các tòa nhà của Công ty Commercial Pacific Cable Company được xây dựng từ năm 1903 (ảnh năm 2008).

Năm 1870, Công ty Tàu hơi nước Pacific Mail dùng ngân sách do Quốc hội Mỹ cấp để nổ mìn, nạo vét kênh qua rạn san hô vào đầm phá. Mục đích là lập trạm tiếp than giữa đại dương nhằm tránh thuế cao tại các cảng của Vương quốc Hawaii.[22] Tuy nhiên, dự án thất bại. Tháng 10 năm 1870, tàu USS Saginaw tới sơ tán công nhân nhưng mắc cạn tại đảo san hô Kure vào ngày 21 tháng 10, khiến 93 người kẹt lại. Ngày 18 tháng 11, một nhóm 5 người đi thuyền nhỏ tìm viện trợ. Ngày 19 tháng 12, thuyền lật ngoài khơi Kauai làm 4 người thiệt mạng. Người duy nhất sống sót tới Lãnh sự quán Mỹ tại Honolulu vào đêm Giáng sinh. Ngay sau đó, tàu cứu hộ được điều động và giải cứu toàn bộ lực lượng còn lại vào ngày 4 tháng 1 năm 1871, đưa họ về Honolulu an toàn vào ngày 14 tháng 1 năm 1871.[23]

Đầu thế kỷ 20

Tập tin:Aerial view of Midway Atoll on 24 November 1941 (80-G-451086).jpg
Đảo Midway vào tháng 11 năm 1941, nhìn về hướng tây.

Năm 1903, nhân viên Công ty Cáp Thương mại Thái Bình Dương đến định cư tại Midway để lắp đặt đường cáp điện báo xuyên đại dương. Nhằm cải tạo cảnh quan, họ đã chuyển khoảng 9.000 tấn đất từ OahuGuam cùng nhiều loài thực vật, động vật ngoại nhập lên đảo. Quá trình này cũng vô tình đưa nhiều loài côn trùng và sinh vật lạ xâm nhập vào hệ sinh thái nơi đây.[24]

Ngày 20 tháng 1 năm 1903, Hải quân Mỹ thành lập trạm phát thanh tại Midway sau phản ánh từ nhân viên công ty cáp về tình trạng người Nhật xâm nhập, săn bắt trái phép. Từ năm 1904 đến 1908, Tổng thống Theodore Roosevelt đã cử 21 lính thủy đánh bộ đến đồn trú để bảo vệ trạm cáp, ngăn chặn nạn tàn sát chim biển và khẳng định chủ quyền của Mỹ trên đảo.[25]

Năm 1935, hãng Pan American Airways đưa thủy phi cơ Martin M-130 vào khai thác tuyến San FranciscoTrung Hoa.[26] Đây là hành trình sang trọng, đắt đỏ nhất tới Viễn Đông với giá vé gấp ba lần thu nhập trung bình cả năm của người Mỹ thời đó. Trên đường từ Honolulu đến đảo Wake, máy bay đáp xuống đầm phá Midway và neo tại phao nổi.[27] Du khách sau đó di chuyển vào Khách sạn Pan Am (hay "Gooneyville Lodge" được đặt theo tên loài hải âu địa phương) để nghỉ ngơi.[28]

Thế chiến II

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Labelled list hatnote”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Infobox”. Vị trí chiến lược của Midway tại Thái Bình Dương mang tầm quan trọng quân sự đặc biệt, vừa là điểm tiếp nhiên liệu cho tàu chiến và máy bay xuyên đại dương, vừa là căn cứ tàu ngầm chủ lực. Từ năm 1940, trước nguy cơ xung đột với Nhật Bản, đảo san hô này trở thành tuyến phòng thủ Bờ Tây Hoa Kỳ quan trọng chỉ sau Trân Châu Cảng.[29] Do đó, Mỹ đã nhanh chóng nâng cấp luồng tàu, hoàn thiện Căn cứ Không quân Hải quân cùng hệ thống đường băng và trận địa pháo tại đây.[29]

Ngày 14 tháng 2 năm 1941, Tổng thống Franklin D. Roosevelt ban hành Sắc lệnh hành pháp 8682 nhằm thiết lập khu vực phòng thủ hải quân tại các lãnh thổ trung tâm Thái Bình Dương. Theo đó, "Khu vực biển phòng thủ hải quân đảo Midway" được thành lập trong phạm vi 3 dặm (4,8 km) tính từ mép nước cao nhất quanh đảo. Đồng thời, "Khu vực không phận hải quân đảo Midway" cũng ra đời nhằm kiểm soát không phận tương ứng. Ngoại trừ tàu thuyền và máy bay của chính phủ Mỹ, mọi phương tiện khác muốn đi vào các khu vực này đều phải có sự cho phép của Bộ trưởng Hải quân.

Tầm quan trọng của đảo Midway với Hoa Kỳ thể hiện rõ vào ngày 7 tháng 12 năm 1941, khi Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng. Cùng ngày, hai tàu khu trục Nhật bắn phá Midway lần đầu tiên.[29] Một thủy phi cơ của hãng Pan-Am, khi đó đang trên lịch trình tới Guam, đã kịp thời sơ tán hành khách cùng nhân viên từ đảo Wake (vừa bị tấn công) về Midway, rồi bay tiếp qua Honolulu để trở về Hoa Kỳ.[30]

Tàu ngầm Nhật Bản đã bắn phá Midway vào ngày 10 tháng 2 năm 1942.[31] Trước đó, nơi đây từng bị tấn công bốn lần tính từ ngày 7 tháng 12 năm 1941.[31]

Ngày 4 tháng 6 năm 1942, Trận Midway bùng nổ, đánh dấu đòn chấn động của Hải quân Hoa Kỳ vào Hải quân Đế quốc Nhật Bản. Nhật Bản mất bốn tàu sân bay hạm đội (Akagi, Kaga, Hiryū, Sōryū) cùng hàng trăm phi cơ tổn thất không thể phục hồi. Phía Mỹ mất tàu sân bay Yorktown và một số máy bay. Trận chiến này được xem là bước ngoặt chấm dứt sự thống trị của Hải quân Nhật tại Thái Bình Dương.[32]

Từ tháng 7 năm 1942, một tàu tiếp tế tàu ngầm thường trực tại đảo san hô để hỗ trợ các tàu tuần tra vùng biển Nhật Bản. Đến năm 1944, có thêm một ụ nổi cùng hoạt động.[33] Sau Trận Midway, sân bay thứ hai được xây dựng trên đảo Sand, đòi hỏi phải san lấp biển để mở rộng và làm tăng hơn gấp đôi diện tích hòn đảo khi hoàn thành.

KM6CE QSL card
Thẻ QSL KM6CE

Chiến tranh Triều Tiên và Cuộc kháng chiến chống Mỹ

Từ ngày 1 tháng 8 năm 1941 đến năm 1945, quân đội Mỹ chiếm đóng Midway. Năm 1950, Hải quân tạm dừng rồi lại tái kích hoạt Căn cứ Không quân Hải quân Midway để phục vụ Chiến tranh Triều Tiên, tiếp tế nhiên liệu và sửa chữa cho hàng nghìn lượt tàu, máy bay quân sự. Nơi đây duy trì vai trò căn cứ không quân hải quân từ năm 1968 đến ngày 10 tháng 9 năm 1993.

Với khoảng 3.500 dân trên đảo Sand, Midway từng là căn cứ hỗ trợ quân đội Mỹ trong Kháng chiến chống Mỹ. Tháng 6 năm 1969, Tổng thống Richard Nixon đã gặp Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tại "Nhà Midway" (dinh Sĩ quan Chỉ huy).[34]

QSL card from KM6BI
Thẻ QSL từ KM6BI
Tập tin:NAS Midway Terminal.jpg
Nhà ga NAF Midway, năm 1970.

Đài phát thanh nghiệp dư

Do vị trí biệt lập và thuộc quản lý của Căn cứ Hải quân Mỹ (không thuộc bang Hawaii), Midway từng được tính là một vùng lãnh thổ riêng cho hoạt động phát thanh nghiệp dư. Các trạm chính như KM6BI (đảo Sand) và KM6CE (đảo Eastern), cùng nhiều trạm cá nhân khác, đã đóng vai trò cầu nối quan trọng giúp kết nối liên lạc và gửi tin nhắn về gia đình.[35][36][37]

Năm 2009, Cục Cá và Động vật hoang dã Hoa Kỳ (USFWS) đã cấp phép cho hoạt động vô tuyến nghiệp dư tại đảo san hô Midway sau 7 năm gián đoạn. Đây là một phần trong nỗ lực thu hút du khách tới trải nghiệm thiên nhiên và lịch sử nơi đây.[35][38] Trong sự kiện mang mật hiệu K4M này, nhóm 19 nhà vận hành đã lên sóng liên tục suốt 10 ngày, kết nối với cộng đồng vô tuyến nghiệp dư toàn cầu trên nhiều băng tần.[38]

Hệ thống định vị va chạm tên lửa

Từ năm 1958 đến 1960, Mỹ đã lắp đặt Hệ thống Định vị Tác động Tên lửa (MILS) tại Trường bắn Tên lửa Thái Bình Dương (sau thuộc Trường bắn phía Tây) để xác định điểm rơi của đầu mũi tên lửa thử nghiệm. Hệ thống này do các đơn vị từng xây dựng SOSUS ở Đại Tây DươngBờ Tây triển khai. Trong đó, trạm MILS tại Midway gồm mảng mục tiêu định vị chính xác và hệ thống diện rộng hỗ trợ thử nghiệm ICBM. Các căn cứ khác như Vịnh Kaneohe hỗ trợ thử nghiệm tên lửa tầm trung, còn Đảo WakeEniwetok hỗ trợ thử nghiệm ICBM.[39][40][41]

Đảo Eastern

Đảo Eastern (thuộc đảo san hô Midway) từng là căn cứ tình báo hải quân quan trọng của Mỹ trong Chiến tranh Lạnh. Từ tháng 7 năm 1954 đến tháng 2 năm 1971, nơi đây đặt trụ sở Nhóm Hoạt động An ninh Hải quân (NSGA) Midway, vận hành hệ thống định hướng vô tuyến HFDF AN/GRD-6. Hệ thống này thuộc mạng lưới HFDF Thái Bình Dương, đóng vai trò then chốt trong việc giám sát và theo dõi các tín hiệu vô tuyến tần số cao.

Hệ thống định hướng vô tuyến tần số cao AN/GRD-6 tự động xác định phương vị tín hiệu trong dải tần từ 2 đến 32 MHz. Thiết bị sử dụng hai mảng anten vòng đặt trên lưới đồng nối đất: mảng tần số thấp (2–8 MHz) và mảng tần số cao (8–32 MHz).[42] Mỗi mảng gồm các anten đơn cực xếp quanh một anten cảm biến trung tâm.[43][42] Hệ thống tích hợp bộ thu siêu phách cùng màn hình ống tia katốt để hiển thị chính xác hướng tín hiệu đến.[42]

Vị trí chiến lược của đảo Eastern giúp NSGA giám sát vùng biển rộng lớn ở Thái Bình Dương, phục vụ công tác tình báo tín hiệu và trinh sát hàng hải của Hải quân Mỹ trong thời kỳ căng thẳng địa chính trị. Dữ liệu từ hệ thống AN/GRD-6 đã hỗ trợ các hoạt động quân sự và nâng cao năng lực nắm bắt tình hình khu vực của Mỹ.

Tập tin:NSGA Midway Sign.jpg
Biển hiệu NSGA, năm 1970
Tập tin:NSGA, Eastern Island 1970.jpg
NSGA đảo Eastern, 1970

Căn cứ hải quân Midway

Tập tin:Watch floor.gif
Các phóng viên của Lofargram đang làm việc tại khu vực giám sát của NAVFAC.

Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Hoa Kỳ vận hành một trạm bờ thuộc Hệ thống giám sát âm thanh (SOSUS) tại Cơ sở Hải quân (NAVFAC) đảo Midway nhằm theo dõi tàu ngầm Liên Xô. Trạm sử dụng Máy phân tích và ghi tần số thấp (LOFAR) để xử lý và hiển thị tín hiệu thu từ mảng cảm biến dưới biển. Cơ sở đi vào hoạt động năm 1968, chính thức biên chế ngày 13 tháng 1 năm 1969 và giữ bí mật hoàn toàn. Năm 1981, dữ liệu từ mảng này được chuyển về NAVFAC Barbers Point và sau đó dẫn trực tiếp đến Cơ sở Xử lý Đại dương Hải quân (NOPF) tại đảo Ford, Hawaii. Trạm Midway chính thức ngừng hoạt động ngày 30 tháng 9 năm 1983.[39][44]

Chuyển giao dân sự

Năm 1978, Hải quân Hạ cấp Midway thành Cơ sở Không quân, khiến lực lượng đồn trú và người thân dần rút đi. Khi Kháng chiến chống Mỹ kết thúc, cùng sự xuất hiện của vệ tinh trinh sát và tàu ngầm hạt nhân, vai trò chiến lược của Midway giảm mạnh. Đến ngày 28 tháng 5 năm 1987, các căn cứ Thế chiến II trên đảo Sand và đảo Eastern chính thức được công nhận là Di tích Lịch sử Quốc gia Hoa Kỳ.[45]

Theo quy trình BRAC, căn cứ Hải quân tại Midway đã đóng cửa từ ngày 10 tháng 9 năm 1993, nhưng Hải quân vẫn chịu trách nhiệm xử lý ô nhiễm môi trường.

Sóng thần năm 2011

Trận động đất và sóng thần Tōhoku ngày 11 tháng 3 năm 2011 đã làm ngập rạn san hô và đảo Spit thuộc Khu bảo tồn quốc gia Midway[46] bởi đợt sóng cao 1,5 m, khiến hơn 110.000 con chim biển làm tổ bị thiệt mạng.[47] Mặc dù vậy, giới khoa học tại đây nhận định sự cố này không gây ảnh hưởng tiêu cực lâu dài đến quần thể chim.[48]

Một nghiên cứu của Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ cho thấy đảo Midway, Laysan và các đảo Thái Bình Dương tương tự có thể bị ngập lụt, không thể sinh sống trong thế kỷ này do sóng bão và mực nước biển dâng.[49][50]

Khu bảo tồn động vật hoang dã quốc gia và di tích quốc gia

Bản mẫu:Infobox protected area

Tập tin:President Barack Obama visits Midway Atoll in 2016.png
Năm 2016, Tổng thống Barack Obama đến thăm đảo Midway để công bố mở rộng Khu bảo tồn biển Papahānaumokuākea.
Tập tin:Flag of the Midway Islands (local).svg
Lá cờ không chính thức của đảo Midway, do nhân viên Cục Cá và Động vật hoang dã Steve Dryden thiết kế, ra mắt ngày 4 tháng 6 năm 2000 nhân dịp kỷ niệm 58 năm trận Midway.[51][52]

Ngày 22 tháng 4 năm 1988, Midway trở thành Khu bảo tồn động vật hoang dã quốc gia chồng lấn, dưới quyền quản lý chính của Hải quân.

Công chúng từng được tham quan đảo san hô qua các tour du lịch sinh thái nghiên cứu (tháng 8 năm 19962002).[53][54] Một chương trình mới tiếp tục được triển khai từ tháng 3 năm 2008 đến năm 2012,[14][55] trước khi bị dừng vào năm 2013 do cắt giảm ngân sách.[8]

Ngày 31 tháng 10 năm 1996, Tổng thống Bill Clinton ký Sắc lệnh 13022, chuyển giao Đảo Midway cho Bộ Nội vụ Hoa Kỳ quản lý dưới dạng Khu bảo tồn động vật hoang dã quốc gia. Sau khi hoàn tất dọn dẹp môi trường, lực lượng Hải quân cuối cùng đã rút khỏi đây vào ngày 30 tháng 6 năm 1997.

Ngày 13 tháng 9 năm 2000, Bộ trưởng Nội vụ Bruce Babbitt chỉ định Khu bảo tồn động vật hoang dã làm Đài tưởng niệm quốc gia Trận Midway.[56] Tên gọi hiện tại là "Khu bảo tồn động vật hoang dã quốc gia đảo Midway và Đài tưởng niệm quốc gia Trận Midway".

Ngày 15 tháng 6 năm 2006, Tổng thống George W. Bush đã thành lập Di tích Quốc gia Biển Quần đảo Tây Bắc Hawaii. Với diện tích 362.074 km², di tích này sở hữu 13.411 km² rạn san hô,[57] đồng thời bao gồm hai Khu bảo tồn Động vật hoang dã Quốc gia là Quần đảo Hawaii và Đảo Midway.

Năm 2007, đài tưởng niệm được đổi tên thành Đài tưởng niệm Quốc gia Biển Papahānaumokuākea (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “IPA”.)[58][59][60], do Cục Cá và Động vật hoang dã Hoa Kỳ, NOAAtiểu bang Hawaii đồng quản lý. Đến năm 2016, Tổng thống Barack Obama mở rộng khu vực này và bổ sung Văn phòng Các vấn đề Hawaii làm đồng quản lý thứ tư.

Tượng đài Gooney

Tượng đài chim Gooney được tạc từ cây gỗ gụ dài 9,1 m bởi một nha sĩ Hải quân Mỹ trên đảo, khởi công năm 1949. Tác phẩm cao 3,4 m này tồn tại 40 năm trước khi bị mối phá hủy và được thay bằng một quả trứng giả.[61]

Môi trường

Tập tin:US Navy 100602-N-7498L-021 More than a million Laysan Albatrosses occupy the entire Midway atoll.jpg
Chim hải âu tại đảo san hô Midway

Đảo Midway thuộc Vùng Chim quan trọng (IBA) Quần đảo Tây Bắc Hawaii do BirdLife International công nhận nhờ sở hữu nhiều loài chim biển và chim đất đặc hữu.[62] Hòn đảo này là môi trường sinh sản quan trọng của 17 loài chim biển, trong đó có khoảng 67–70% quần thể hải âu Laysan và 34–39% quần thể hải âu chân đen trên toàn cầu.[63] Bên cạnh đó, một số ít hải âu đuôi ngắn cực kỳ quý hiếm, loài từng bị đe dọa nghiêm trọng do nạn săn bắt lông vũ cuối thế kỷ XIX cũng xuất hiện tại đây.[64] Nhằm bảo tồn giống loài, Cục Cá và Động vật hoang dã Hoa Kỳ từng di dời 42 cá thể vịt Laysan đến sinh sống trên đảo.

Hơn 250 loài sinh vật biển cư trú tại khoảng 120.000 ha đầm phá và vùng nước lân cận. Nơi đây cung cấp nguồn cá rạn, mực, bạch tuộc cùng động vật giáp xác cho loài hải cẩu thầy tu Hawaii đang nguy cấp sinh sống và nuôi con. Ngoài ra, đồi mồi dứa cũng từng ghi nhận làm tổ tại đảo Spit (2006) và đảo Sand (2007), bên cạnh đàn cá heo spinner khoảng 300 con thường xuyên sinh sống ở khu vực ven bờ.[65]

Sự xuất hiện của con người đã thay đổi sâu sắc quần đảo Midway, khởi đầu bằng việc phá rạn san hô xây cảng trên đảo Sand năm 1869.

Một số loài xâm lấn được du nhập vào Midway, như bạch đàn từ Úc dùng làm hàng rào chắn gió. 75% trong 200 loài thực vật trên đảo là loài ngoại lai. Hiện nay, các nỗ lực đang tập trung diệt trừ thực vật ngoại lai và phục hồi cây bản địa.

Sơn chứa chì trên các tòa nhà từng gây ngộ độc và đe dọa quần thể hải âu trên đảo. Tình trạng này đã được khắc phục sau khi dự án loại bỏ lớp sơn hoàn thành vào năm 2018.[66]

Sự ô nhiễm

Tập tin:Starr 080603-5640 Tournefortia argentea.jpg
Rác thải biển chứa chim non hải âu Laysan.

Đảo san hô Midway và quần đảo Hawaii hứng chịu lượng lớn rác thải biển từ Bãi rác Thái Bình Dương. Mỗi năm, khoảng 20 tấn rác, trong đó 90% là nhựa tích tụ trên các bãi biển Midway, tương đương ít nhất 45 kg nhựa dạt vào bờ hằng tuần theo ước tính của Cục Cá và Động vật hoang dã Hoa Kỳ.[67] Lượng rác này đe dọa nghiêm trọng đàn chim trên đảo, khi chim hải âu bố mẹ vô tình nhặt rác trên biển và mớm khoảng 5 tấn rác thải cho chim con.[68]

Hầu như toàn bộ 1,5 triệu hải âu Laysan sinh sản vào mùa đông tại Midway đều mang nhựa trong hệ tiêu hóa.[69] [70] Khoảng một phần ba chim non đã tử vong do ăn phải nhựa có màu sắc bắt mắt vốn bị chúng nhầm là hay mực.[71] Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng nhựa đại dương tích tụ mùi hóa học đặc trưng, vô tình thu hút hải âu tìm đến kiếm ăn.[72]

Chim non hải âu dưới bốn tháng tuổi chưa có phản xạ nôn nên không thể tống nhựa ra ngoài.[71] Không chỉ hải âu với nhiều con ở Midway chứa nhựa tới 50% đường ruột, mà rùa biểnhải cẩu thầy tu cũng thường ăn phải rác nhựa từ đồ gia dụng trôi dạt vào bờ.[68]

Vận tải

Phương pháp phổ biến để đến đảo Sand (thuộc rạn san hô vòng Midway) là đi chuyên cơ riêng hạ cánh xuống sân bay Henderson. Đây cũng là đường băng dự phòng khẩn cấp cho các chuyến bay qua Thái Bình Dương. Chẳng hạn năm 2011, chuyến bay 277 của Delta Air Lines (Boeing 747-400) từ Honolulu đi Osaka đã phải hạ cánh khẩn cấp tại đây vì nứt kính chắn gió. Nhân viên Khu bảo tồn Động vật hoang dã Quốc gia Mỹ trên đảo đã hỗ trợ đón tiếp, chăm sóc an toàn cho gần 380 người trong 8 giờ trước khi máy bay thay thế tới.[73][74]

Tập tin:MDY Approach.jpg
Phương pháp MDY

Tham khảo

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  2. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  3. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  4. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  5. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên CIA 2023
  6. ^ Visiting Midway Atoll National Wildlife Refuge. FWS Website.
  7. ^ Volunteer at Midway Atoll NWR. FWS Website.
  8. ^ a ă "Bản mẫu:Deprecated archive". Honolulu Star-Advertiser, November 16, 2012
  9. ^ [1] Bản mẫu:Webarchive. Galápagos Travel Website, November 16, 2012.
  10. ^ [2] Bản mẫu:Webarchive. Photo Safaris Website, November 16, 2012.
  11. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  12. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  13. ^
    1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật Also reprinted here [3] Bản mẫu:Webarchive.
  14. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  15. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  16. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  17. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  18. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  19. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  20. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  21. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  22. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  23. ^ The Pacific Commercial Advertiser, 28 January 1871
  24. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  25. ^ The Editors of Encyclopaedia Britannica. "Midway Islands." Encyclopedia Britannica, December 6, 2024. https://www.britannica.com/place/Midway-Islands
  26. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  27. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  28. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  29. ^ a ă â Preparing for War Bản mẫu:Webarchive Midway Atoll National Wildlife Refuge and Battle of Midway National Memorial.
  30. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  31. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  32. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  33. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  34. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  35. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  36. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  37. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  38. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  39. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  40. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  41. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  42. ^ a ă â Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  43. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  44. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  45. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên nhlsum
  46. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  47. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  48. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  49. ^ "Storm Surges, Rising Seas Could Doom Pacific Islands This Century Bản mẫu:Webarchive: Atolls and other low-lying islands in the Pacific Ocean may not slip under the waves but they will likely become uninhabitable due to overwashing waves" ClimateWire and Scientific American April 12, 2013
  50. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  51. ^
    1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  52. ^
    1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  53. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  54. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  55. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  56. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  57. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  58. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.;
    Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  59. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  60. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  61. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”. (includes a transcription of a 1972 Navy Times article about the statue and a later photo of the monument with the mock egg)
  62. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  63. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  64. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  65. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  66. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  67. ^ Plastic-Filled Albatrosses Are Pollution Canaries in New Doc Bản mẫu:Webarchive Wired. June 29, 2012. Accessed 6-11-13
  68. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  69. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  70. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  71. ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  72. ^
    1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  73. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  74. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.

Đọc thêm

Lịch sử tự nhiên

  1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  1. redirect Bản mẫu:Chú thích tập san học thuật
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.

Lịch sử quân sự

  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  • Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Wikivoyage Bản mẫu:Side box

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “navbox”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Navbox”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Navbox”.

  1. đổi Bản mẫu:Thanh cổng thông tin

Bản mẫu:Authority control