Southold, New York
| Southold, New York | |
|---|---|
| — Thị trấn — | |
| Tập tin:Southold Free Library facade (view from Main Street).jpg Thư viện công cộng Southold | |
Hiệu kỳ Ấn chương | |
Vị trí tại Quận Suffolk | |
| Lỗi Lua trong Mô_đun:Mapframe tại dòng 701: attempt to index field 'wikibase' (a nil value). | |
| Lỗi Lua trong Mô_đun:Location_map tại dòng 461: Giá trị "<strong class="error"><span class="scribunto-error mw-scribunto-error-8830ed40">Lỗi Lua trong Mô_đun:Thông_tin_khu_dân_cư tại dòng 426: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).</span></strong>" không phải là kinh độ hợp lệ. | |
| Quốc gia | Hoa Kỳ |
| Tiểu bang | New York |
| Quận | Suffolk |
| Chính quyền | |
| • Giám sát viên | Albert J. Krupski Jr. (D)[1] |
| Diện tích[2] | |
| • Tổng cộng | 404,04 mi2 (1.046,46 km2) |
| • Đất liền | 53,75 mi2 (139,21 km2) |
| • Mặt nước | 350,29 mi2 (907,24 km2) |
| Độ cao | 0 ft (0 m) |
| Dân số (2020)[3] | |
| • Tổng cộng | 23.732 |
| • Mật độ | 441,52/mi2 (170,47/km2) |
| • Mùa hè (DST) | EDT (UTC-4) |
| Mã bưu chính | 11971 |
| Mã FIPS | 36-69463 |
| Mã định danh đặc điểm địa lý GNIS | 0979508 |
| Website | southoldtownny |
Thị trấn Southold thuộc Quận Suffolk, tiểu bang New York, Hoa Kỳ, nằm ở mũi phía đông bắc của North Fork trên Long Island. Theo dữ liệu điều tra dân số năm 2020, nơi đây có 23.732 cư dân.[3] Tại đây cũng có một thôn nhỏ cùng tên Southold, được thành lập từ năm 1640.
Lịch sử
Các bộ lạc nói tiếng Algonquian, có họ hàng với các bộ lạc ở New England phía bên kia eo biển, từng cư trú tại đông đảo Long Island trước thời kỳ thực dân châu Âu. Trong khi đó, phía tây hòn đảo là địa bàn của các nhóm Lenape, một chi tộc cũng thuộc nhóm ngôn ngữ Algonquian.
Ở các vùng lân cận, người Hà Lan đã lập những khu định cư đầu tiên tại phía tây bắc: Pháo đài Orange trên thượng nguồn sông Hudson (1615, sau này Anh đổi tên thành Albany) và New Amsterdam (1625, sau đổi tên thành Manhattan). Năm 1639, Lion Gardiner thành lập một trang viên trên đảo Gardiners thuộc East Hampton. Ở bờ bên kia đảo Long Island, Thuộc địa Connecticut ra đời năm 1636. Đến năm 1638, những người Thanh giáo tiếp tục lập ra Thuộc địa New Haven độc lập, một thể chế thần quyền do các thành viên giáo hội toàn quyền cai trị, dù nằm trọn trong lòng Thuộc địa Connecticut.
Ngày 21 tháng 10 năm 1640, nhóm người Thanh giáo Anh từ thuộc địa New Haven do Mục sư John Youngs và Peter Hallock dẫn đầu đã tới định cư tại Southold (khi đó gọi là Yennicott). Trước đó, vào mùa hè cùng năm, họ đã mua lại vùng đất này từ người bản địa Corchaug (thuộc tộc Pequot). Southold được ghi nhận là thuộc địa đầu tiên của người Anh trên đảo Long Island (nay thuộc tiểu bang New York). Các gia đình định cư tiên phong bao gồm Barnabas Horton, John Budd, John Conklin, John Swazy, William Wells, John Tuthill và Matthias Corwin.[cần dẫn nguồn]
Năm 1650, Hiệp ước Hartford phân chia Long Island giữa người Hà Lan ở phía tây và người Anh ở phía đông, với ranh giới khoảng qua Vịnh Oyster.[cần giải thích] Thời đó, Southold có khoảng 180 dân. Nhờ cảng Greenport ít khi đóng băng, nơi đây phát triển mạnh về thương mại, đánh bắt hải sản và săn cá voi, trong khi vùng nội địa tập trung làm nông nghiệp.
Cả hai thuộc địa New Haven và Connecticut từng muốn biến Southold thành một chế độ thần quyền.[cần dẫn nguồn] Tuy nhiên, New Haven cấm đoán các giáo phái khác, còn Connecticut lại cho phép tự do tôn giáo. New Haven cai quản Southold đến năm 1662, trước khi các thị trấn dần ngả sang Connecticut. Đến năm 1664, toàn bộ cư dân New Haven sáp nhập vào Connecticut, khiến thuộc địa này giải thể. Connecticut tiếp tục quản lý Southold cho tới năm 1674.
Khi người Hà Lan giành lại New York vào năm 1673, các thị trấn phía đông do người Anh lập nên như Southold, East Hampton và Southampton đã không đầu hàng. Người Hà Lan tìm cách cưỡng ép nhưng bị cư dân các nơi này đánh lui nhờ sự trợ giúp từ Connecticut. Năm 1674, khi người Anh tái chiếm New York, các thị trấn này nguyện vọng tiếp tục thuộc về Connecticut. Dù Connecticut chấp thuận, chính quyền của Công tước James xứ York vẫn ép họ sáp nhập vào Tỉnh New York. Đến năm 1676, họ đành chấp nhận sau khi Thống đốc Edmund Andros dọa tước đất đai.[5] Công tước xứ York vốn hận Connecticut vì New Haven từng che chở ba thẩm phán kết án tử hình cha ông là Vua Charles I vào năm 1649.
Thị trấn đã bổ nhiệm Mục sư Joshua Hobart (tốt nghiệp Harvard, quê ở Hingham, Massachusetts) làm mục sư thứ hai. Ông là con trai của Mục sư Peter Hobart là người sáng lập Nhà thờ Old Ship, nhà thờ lâu đời nhất Hoa Kỳ còn hoạt động.[6] Nhậm chức từ năm 1674, Mục sư Joshua cống hiến cho đến khi qua đời năm 1717 ở tuổi 88.[7] Anh trai ông, ông Josiah Hobart, là một trong những người định cư đầu tiên, ủy viên quản trị đầu tiên của East Hampton (Long Island) và từng giữ chức Cao ủy trưởng Quận Suffolk.[8]
Tên gọi Southold được cho là biến thể của Southwold, một thị trấn ven biển thuộc hạt Suffolk (Anh), quê hương của John Youngs, một trong những mục sư sáng lập thị trấn. Ông từng sinh hoạt tại Nhà thờ St. Margaret ở Reydon gần đó; đây nhiều khả năng là nguồn gốc tên gọi khu vực Reydon Shores trong thị trấn.[9] Ngoài ra, tên gọi này cũng có thể mang ý nghĩa chỉ "vùng đất phía nam" của New Haven, nơi những người định cư đầu tiên xuất phát.
Trong khi đó, dân số của Southold tăng từ 180 người vào năm 1650 lên 880 người vào năm 1698.
Cuối thế kỷ 19, Đường sắt Long Island mở rộng tuyến Bờ Bắc tới Greenport, giúp du khách đi tàu đến nghỉ hè. Ánh sáng từ hai mặt biển North Fork cũng thu hút nhiều nghệ sĩ, bao gồm William Merritt Chase.
Vốn là vùng nông nghiệp chuyên trồng khoai tây, North Fork sau đó đã chuyển đổi nhiều diện tích sang trồng nho từ cuối thế kỷ 20, hình thành nên một ngành sản xuất rượu vang phát triển. Riêng tại làng Greenport, địa phương này đã giải thể sở cảnh sát riêng từ tháng 11 năm 1994 và chuyển giao công tác trị an cho Cảnh sát thị trấn Southold.
Địa lý
Southold là thị trấn ở cực đông bắc Long Island (New York), nằm trên bán đảo North Fork và bao gồm cả các đảo Plum, Fishers, Robins. Thị trấn giáp Riverhead ở phía tây (cách Orient Point 21 dặm), ngăn cách với bang Connecticut qua eo biển Long Island, và ngăn cách với South Fork cùng thị trấn Đảo Shelter bởi hệ thống vịnh Peconic.[10]
Theo Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, thị trấn có tổng diện tích 1.047 km² (404,1 dặm vuông), gồm 139 km² đất liền và 907 km² mặt nước (chiếm 86,69%).[11] Nơi đây sở hữu khoảng 163 dặm đường bờ biển.[12]
Các môi trường sống quan trọng của cá và động vật hoang dã ven biển tại thị trấn Southold bao gồm: đất ngập nước và bãi biển cửa sông Mattituck, bãi biển đảo Fishers, đảo Pine và vùng nước nông lân cận, cửa sông và bãi biển Goldsmith, suối Pipes Cove, kênh Moores, cùng đảo Dumpling và Flat Hammock.[12]
Thông tin nhân khẩu học
| Lịch sử dân số | |||
|---|---|---|---|
| Thống kê dân số |
Số dân | %± | |
| 1790 | 3.219 | — | |
| 1800 | 2.200 | −31,7% | |
| 1810 | 2.613 | 18,8% | |
| 1820 | 2.968 | 13,6% | |
| 1830 | 2.900 | −2,3% | |
| 1840 | 3.907 | 34,7% | |
| 1850 | 4.723 | 20,9% | |
| 1860 | 5.833 | 23,5% | |
| 1870 | 6.715 | 15,1% | |
| 1880 | 7.267 | 8,2% | |
| 1890 | 7.705 | 6,0% | |
| 1900 | 8.301 | 7,7% | |
| 1910 | 10.577 | 27,4% | |
| 1920 | 10.147 | −4,1% | |
| 1930 | 11.669 | 15,0% | |
| 1940 | 12.046 | 3,2% | |
| 1950 | 11.632 | −3,4% | |
| 1960 | 13.295 | 14,3% | |
| 1970 | 16.804 | 26,4% | |
| 1980 | 19.172 | 14,1% | |
| 1990 | 19.836 | 3,5% | |
| 2000 | 20.599 | 3,8% | |
| 2010 | 21.968 | 6,6% | |
| 2020 | 23.732 | 8,0% | |
| Điều tra dân số 10 năm một lần của Hoa Kỳ[13] | |||
Theo kết quả điều tra dân số năm 2000,[14] thị trấn có 20.599 nhân khẩu với 8.461 hộ gia đình và 5.804 gia đình. Mật độ dân cư đạt 148,1 người/km² (383,5 người/dặm²). Tổng số nhà ở là 13.769 căn, bình quân 99,0 căn/km² (256,3 căn/dặm²). Về cơ cấu chủng tộc, người da trắng chiếm đa số với 93,53%, tiếp đến là người da đen/Mỹ gốc Phi (2,91%), người gốc Á (0,45%), người Mỹ bản địa và cư dân đảo Thái Bình Dương (đều chiếm 0,07%). Tỷ lệ thuộc các chủng tộc khác là 1,51% và lai từ hai chủng tộc trở lên là 1,47%. Riêng cộng đồng người gốc Tây Ban Nha hoặc Latinh (thuộc bất kỳ chủng tộc nào) chiếm 4,77% tổng dân số.
Trong số 8.461 hộ gia đình, 56,8% là vợ chồng sống chung, 26,5% có con dưới 18 tuổi, 8,5% do phụ nữ làm chủ hộ không có chồng và 31,4% là hộ phi gia đình. Ngoài ra, 26,6% số hộ chỉ có một người, 15,1% có người từ 65 tuổi trở lên sống một mình. Bình quân mỗi hộ có 2,40 người, còn quy mô gia đình trung bình là 2,90 người.
Tại thị trấn Southold, dân số phân bố rải rác, với 21,5% dưới 18 tuổi, 5,2% từ 18 đến 24 tuổi, 23,8% từ 25 đến 44 tuổi, 26,5% từ 45 đến 64 tuổi và 23,1% từ 65 tuổi trở lên. Tuổi trung vị là 45 tuổi. Cứ 100 nữ thì có 93,3 nam. Cứ 100 nữ từ 18 tuổi trở lên thì có 90,2 nam.
Thu nhập trung bình của hộ gia đình tại thị trấn đạt 49.898 USD, trong khi của gia đình là 61.108 USD. Nam giới có thu nhập trung bình 46.334 USD, cao hơn mức 31.440 USD của nữ giới. Mức thu nhập bình quân đầu người ở đây là 27.619 USD. Tỷ lệ hộ nghèo chiếm khoảng 4,1% số gia đình và 5,8% dân số, trong đó có 7,2% người dưới 18 tuổi cùng 5,4% người từ 65 tuổi trở lên.
Cộng đồng và địa điểm
Các làng (đã được hợp nhất)
- Greenport, gần mũi cực đông của đất liền.
Các thôn nhỏ (chưa được hợp nhất)
- Cutchogue, nằm ở phía tây của thị trấn, vốn là một làng nông nghiệp.
- East Marion, ở phía đông của thị trấn.
- Fishers Island, một khu dân cư nhỏ nằm trên đảo Fishers
- Laurel, gần ranh giới phía tây của thị trấn.
- Mattituck, nằm ở phía tây của thị trấn, được thành lập vào năm 1680.
- New Suffolk, nằm ở phía tây nam của thị trấn.
- Orient, điểm cực đông của lục địa.
- Peconic, nằm ở khu vực trung tâm của thị trấn, phía tây nam làng Southold.
- Southold, hay còn gọi là thôn Southold, được thành lập vào năm 1640.
Các địa điểm được chỉ định điều tra dân số khác (CDP)
Các cộng đồng khác
- Arshamomaque, nằm giữa làng Greenport và làng Southold.
- Bay Haven, trên vịnh Little Peconic.
- Bay View, trên Great Hog Neck
- Beixedon Estates, một khu dân cư tư nhân nằm phía đông làng Southold.
- Bãi biển Cedar trên bán đảo Great Hog Neck, phía đông nam của Bay View.
- Corey Creek, một khu dân cư tư nhân trên Great Hog Neck.
- Cove, The
- Ga Cutchogue, phía bắc Cutchogue.
- Fleet's Neck, phía nam Cutchogue.
- Founder's Landing, trung tâm lịch sử của làng Southold.
- East Cutchogue, nằm ở phía đông của Cutchogue.
- Bờ biển Eastwind
- Laughing Water, gần Great Hog Neck.
- Nông trại Nassau
- Nassau Point, trên Little Hog Neck.
- Oregon, dọc theo khu vực đường Oregon giữa Mattituck và Peconic.
- Orient Point, nằm ở cực đông của đất liền.
- Reydon Shores, trên Great Hog Neck (được đặt tên theo Reydon ở Suffolk, Anh, quê hương của vợ Mục sư John Youngs).
- Stirling, phía bắc Greenport.
- Terry Waters bên vịnh Little Peconic.
- Waterville, phía bắc Mattituck.
Chính phủ và chính trị
Các đảo
- Đảo Fishers, nằm ở cực đông của eo biển Long Island
- Đảo Great Gull, (không có người ở) nằm phía đông đảo Plum và phía tây đảo Fisher.
- Đảo Little Gull, (không có người ở) nằm phía đông đảo Great Gull.
- Đảo Plum, một cơ sở nghiên cứu hạn chế nằm phía đông Orient Point.
- Đảo Robins, thuộc Vịnh Great Peconic.
Đặc điểm địa lý
- Great Hog Neck, một bán đảo nhô ra vịnh Little Peconic.
- Little Hog Neck, một bán đảo nhô ra vịnh Peconic.
- Vịnh Long Beach, một vịnh gần Orient.
- Cảng Orient, một vịnh ở phía đông của thị trấn.
- Orient Point, điểm cực đông của đất liền thuộc nhánh phía bắc của Long Island.
Công viên tiểu bang
- Khu bảo tồn công viên tiểu bang Hallock
- Công viên tiểu bang Orient Beach, một công viên tiểu bang nằm trên mũi Orient Point.
Văn hoá
Thị trấn Southold cùng khu vực East End sở hữu chiều sâu lịch sử văn hóa lâu đời. Nơi đây từng là quê hương của nhiều nghệ sĩ tầm vóc thế giới như Douglas Moore,[15] Robert Berks hay Walt Whitman.[16] Hiện nay, thị trấn quy tụ vô số phòng trưng bày, xưởng sáng tác đa dạng phong cách cùng một cộng đồng âm nhạc sôi động.
Vận tải
Đường sắt
- Tuyến chính của Đường sắt Long Island là tuyến duy nhất qua thị trấn Southold. Khách có thể đi Thành phố New York từ các ga Mattituck, Southold, Greenport. Tuyến này cũng phục vụ Bảo tàng Đường sắt Long Island.
Xe buýt
- Thị trấn Southold được phục vụ bởi các tuyến xe buýt Suffolk County Transit và Hampton Jitney (cho tuyến đi New York).
Các tuyến đường chính
- Tập tin:NY-25.svg Quốc lộ 25 là tuyến chính chạy theo hướng tây - đông qua thị trấn Southold, nên hầu như toàn bộ đoạn đường này đều mang tên "Đường Chính". Tuyến này cũng có hai đường nhánh dành cho xe tải.
- Tập tin:NY-114.svg Quốc lộ 114 kết nối làng Greenport qua các chuyến phà đến đảo Shelter.
- Tập tin:Suffolk County 48.svg Quốc lộ 48 là tuyến giao thông huyết mạch theo hướng tây-đông tại quận Suffolk, New York, kết nối Mattituck với phía bắc Greenport. Sở Giao thông Vận tải bang New York từng lên kế hoạch nâng cấp đoạn đường này thành một phần của cao tốc Long Island.
- Sound Avenue từng là một đoạn thuộc Quốc lộ 25A; tuy không có biển chỉ dẫn, đây vẫn là tuyến đường quan trọng nối Wading River dọc bờ bắc đến Mattituck.
Sân bay
- Sân bay Mattituck
- Sân bay Charles Rose
Phà
- Phà Cross Sound Orient đến New London, Connecticut
- Phà Bắc, Greenport đến đảo Shelter
Tài liệu tham khảo
- ^ "Al Krupski wins race for Southold supervisor". Suffolk Times. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2023.
Ten-year Democrat Albert J. Krupski Jr., 64, of Cutchogue
- ^ "2020 U.S. Gazetteer Files". United States Census Bureau. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2024.
- ^ a b "QuickFacts: Southold town, Suffolk County, New York". United States Census Bureau. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2024.
- ^ English: Presbyterian Church in Southold, New York from a pre-1923 postcard, 1923, truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2024
- ^ Richard Mather Bayles, Sketches of Suffolk County, Historical and Descriptive, with a Historical Outline of Long Island, 1874
- ^ Epher Whitaker, A History of Southold, L.I., Orange, NJ: Press of the Orange Chronicle, 1881
- ^ George B. Jewett, History of Congregationalism, Congregationalism in America, Vol. I, Boston, MA: Congregational Publishing Society, 1880
- ^ Architects, American Institute of; Antiquities, Society for the Preservation of Long Island (ngày 1 tháng 1 năm 1992). AIA Architectural Guide to Nassau and Suffolk Counties, Long Island (bằng tiếng Anh). Courier Corporation. ISBN 978-0-486-26946-7.
- ^ Epher Whittaker, History of Southold, L.I.: Its First Century, Southold, Printed for the Author, 1881
- ^ "Town of Southold Local Waterfront Revitalization Program: Southold LWRP Maps" (PDF). Division of Coastal Resources, New York State Department of State. 2003. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 18 tháng 12 năm 2014.
- ^ "Gazetteer Files". Census.gov. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2023.
- ^ a b "Town of Southold Local Waterfront Revitalization Program" (PDF). New York State Department of State. 2011. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 18 tháng 12 năm 2014.
- ^ "Census of Population and Housing". Census.gov. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015.
- ^ "U.S. Census website". United States Census Bureau. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2008.
- ^ Studenroth, Zachary (ngày 1 tháng 4 năm 2013). "Cutchogue and New Suffolk". Arcadia Publishing.
- ^ URL=https://www.newsday.com/long-island/walt-whitman-the-long-islander-bicentennial-of-his-birth-1.30762823%7Caccessndate=April 13, 2013
Liên kết ngoài
- Town of Southold
- Whitaker, Epher. History of Southold, L.I.: Its First Century (available from HathiTrust)
- North Fork - Southold Town Visitors Guide