Tên người Hungary
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Unsubst”. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Message box”. Tên người Hungary bao gồm họ và tên riêng và theo tên thứ tự họ trước tên sau. Một số người có nhiều hơn một tên riêng, nhưng thông thường chỉ một tên được sử dụng.
Tên người Hungary là một trong số ít tên nguyên gốc ở châu Âu sử dụng trật tự "họ trước tên sau" tương tự tên một số nước châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam. Do hầu hết các loại tên châu Âu khác xung quanh Hungary sử dụng trật tự tên phương Tây là "tên trước họ sau", nên trong một số bối cảnh ngoại ngữ như tiếng Anh, tên Hungary hay được viết đảo ngược với họ ở cuối để đồng bộ. Tuy nhiên ngược lại trong tiếng Hungary, tên người nước ngoài vẫn giữ nguyên thứ tự như nguyên gốc, bất kể thứ tự về họ và tên riêng.
Chính tả
Mặc dù chính tả tiếng Hungary ngày nay đã đơn giản hơn so với thế kỷ 18 và 19, nhiều người Hungary vẫn sử dụng cách viết cũ cho tên của mình. Ví dụ, chữ cái c thường được viết thành cz. Những chữ cái như q, w, x và y thường chỉ xuất hiện trong từ ngoại lai, nhưng cũng có thể thấy trong cách viết cổ của tên người, đặc biệt là các họ quý tộc có nguồn gốc từ thời Trung Cổ.
Những họ chỉ nơi xuất thân và kết thúc bằng hậu tố -i có hai cách viết khác nhau: chúng có thể được viết với hậu tố -i, vốn được dùng trong mọi ngữ cảnh khác, hoặc với hậu tố -y. Cả hai đều mang nghĩa "đến từ" hoặc "thuộc về" một địa danh và được phát âm giống nhau. Một gia đình có nguồn gốc từ Szeged và lấy tên theo tên nơi đó vì vậy có thể viết họ là "Szegedi" hoặc "Szegedy", cả hai đều có nghĩa là "đến từ Szeged" hoặc "thuộc về Szeged".
Đuôi -y thường bị hiểu nhầm là dấu hiệu cho thấy nguồn gốc quý tộc. Tuy nhiên, đúng là -y là cách viết cổ hơn, và các tài liệu xưa thường có xu hướng ghi chép những người có địa vị và tài sản cao hơn.
Họ
Trong tiếng Hungary, họ thường được đặt trước tên riêng trong cả lời nói lẫn văn bản, ngoại trừ tên nước ngoài. Một số họ của người Hungary liên quan đến nghề nghiệp, như Szabó (thợ may), Kovács (thợ rèn), Halász (ngư dân). Những họ khác lại chỉ nguồn gốc dân tộc. Ví dụ, các họ phổ biến của Hungary bao gồm Németh (người Đức), Horváth (người Croatia), Tóth (người Slavonia ở Croatia, người Slovak và người Slovenia), Lengyel (người Ba Lan), Oláh (người Romania) và Rác/Rácz/Rátz (cách gọi cũ dành cho người Serbia).
Trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, những người thuộc các dân tộc không phải Hungary trong Vương quốc Hungary, có tổ tiên Do Thái, Đức hoặc Slovak, đã được khuyến khích đổi sang họ Hungary. Một số người mang họ Đức đã dịch trực tiếp họ của mình sang tiếng Hungary. Một số khác thì Hungary hóa họ gốc Đức của họ thành dạng tiếng Hungary. Tuy nhiên, nhiều người Hungary gốc Đức vẫn giữ nguyên họ của mình như Horn, Deutsch, Staller, Keller, Rockenbauer, Hoffmann, v.v.
Một vài tên riêng cũng được dùng làm họ, tương tự quy ước đặt tên trong một số ngôn ngữ khác như tiếng Đức. Ví dụ cho trường hợp này là Károly hoặc László, vốn có thể được dùng cả làm tên riêng lẫn họ.
Ba họ phổ biến nhất tại Hungary là Nagy, Kovács và Tóth.
Tên riêng
Nguồn gốc của tên người Hungary có liên hệ mật thiết với lịch sử tôn giáo và vương triều của đất nước. Nhiều tên thánh và tên của các vị vua có các dạng tương ứng trong tiếng Hungary.
Tên nữ giới
- Anna: theo tên Thánh Anna
- Boglárka: theo tên loài hoa mao lương
- Csilla: bắt nguồn từ từ csillag, nghĩa là "ngôi sao"
- Enikő: do nhà thơ Vörösmarty Mihály đặt ra vào thế kỷ 19, bắt nguồn từ Enéh ("nai cái")
- Erzsébet: phổ biến từ tên Công chúa Erzsébet
- Eszter: theo tên nhân vật Esther trong Kinh Thánh
- Éva: theo tên nhân vật Eva trong Kinh Thánh
- Ildikó: có nguồn gốc German; tương đương với tên Hilda
- Ilona: theo tên Thánh Helena
- Katalin: theo tên Thánh Catarina thành Alexandria, người có sự sùng bái lớn vào thế kỷ 15
- Magdolna: theo tên nhân vật Maria Madalena trong Kinh Thánh
- Margit: theo tên Thánh Margit của Hungary
- Mária: theo tên Đức Trinh Nữ Maria
- Márta: được nhắc đến trong Kinh Thánh
- Melinda: được phổ biến bởi nhà viết kịch Katona József, người đã dùng tên này trong vở bi kịch lịch sử Bánk bán năm 1815
- Orsolya: dạng tiếng Hungary của tên Latin Ursula ("gấu nhỏ")
- Piroska: có nguồn gốc ngoại giáo, trở nên phổ biến nhờ Thánh Piroska (đổi tên thành Eirēnē), con gái của vua László I
- Ráhel: theo tên nhân vật Rachel trong Kinh Thánh
- Réka: theo tên vợ của Attila
- Tünde: do nhà thơ Vörösmarty Mihály đặt vào thế kỷ 19 trong tác phẩm Csongor és Tünde, bắt nguồn từ từ tündér ("tiên nữ")
- Zsófia: dạng tiếng Hungary của tên Hy Lạp Sofia
- Zsuzsanna: dạng tiếng Hungary của tên Hy Lạp Susanna
Tên nam giới
- Ádám: theo tên nhân vật Adam trong Kinh Thánh
- András: phổ biến sau thời vua András I, được đặt cho ba vị vua cùng nhiều hoàng tử
- Antal: theo tên Thánh Antôn thành Lisboa
- Attila: theo tên Attila, vua của người Hung, người mà các quốc vương Hungary xem là tổ tiên trực hệ của mình, khiến cái tên này trở thành một phần của văn hóa đại chúng
- Béla: một cái tên có nguồn gốc ngoại giáo, từng được đặt cho bốn vị vua Hungary thời trung đại và đến nay vẫn được sử dụng phổ biến
- Csaba: theo tên một trong những người con trai của Attila
- Géza: một cái tên có nguồn gốc ngoại giáo, từng được đặt cho hai vị vua Hungary thời trung đại và nhiều hoàng tử, hiện vẫn còn phổ biến
- György: theo tên của Thánh George, người từ rất sớm đã trở thành một trong những vị thánh quan trọng nhất của Hungary
- Ferenc: theo tên Rákóczi Ferenc II, Thân vương Transylvania và người cai trị Hungary trong thời chiến
- István: theo tên vị vua đầu tiên của Hungary, István I
- Imre: theo tên Thánh Emeric, con trai của Vua István I
- János: theo tên Gioan Baotixita
- Jenő: theo tên Eugène de Savoie-Carignan, người giải cứu Hungary và là anh hùng dân tộc
- József: theo tên Thánh Giuse
- Károly: theo tên vua Károly I
- Lajos: theo tên vua Lajos I
- László: một cái tên được phổ biến nhờ Thánh László I
- Lőrinc: theo tên Thánh Lôrensô
- Márk: theo tên Thánh sử Máccô, tác giả Phúc Âm
- Márton: theo tên Martinô thành Tours, người sinh ra vào đầu thời Trung Cổ trên vùng đất thuộc Hungary ngày nay, trước khi quốc gia này tồn tại
- Mátyás: theo tên Thánh Mátthia, cái tên này càng trở nên phổ biến hơn sau triều đại của vua Mátyás Corvin (1458-1490)
- Mihály: theo tên Tổng lãnh thiên thần Micae
- Péter: theo tên Thánh Phêrô
- Sándor: theo tên Alexandros Đại đế, người có câu chuyện được dịch sang tiếng Hungary thời trung đại và trở nên cực kỳ phổ biến trong thế kỷ 14
- Tamás: theo tên nhân vật Thánh Tôma Tông đồ trong Kinh Thánh
- Vilmos: dạng tiếng Hungary của tên tiếng Đức Wilhelm
- Zoltán: theo tên Zoltá, một thủ lĩnh bộ tộc vào đầu thế kỷ 10, một tên phổ biến có nguồn gốc ngoại giáo
- Zsigmond: theo tên Sigismund của Thánh chế La Mã, thành viên của Nhà Luxemburg, người vào cuối đời đã trở thành hoàng đế Đế quốc La Mã Thần thánh
Tên thứ hai và tên theo tôn giáo
Mặc dù việc người Hungary có tên riêng thứ hai ngày càng trở nên phổ biến, họ thường sẽ chọn một tên mà mình thích để sử dụng thường xuyên.
Khi được làm lễ rửa tội, một đứa trẻ có thể nhận thêm một tên khác (tên rửa tội), đặc biệt nếu tên chính của trẻ không gắn với vị thánh nào, và vì vậy trẻ sẽ nhận một tên liên quan đến vị thánh bảo trợ. Khi làm lễ thêm sức, trẻ em sẽ nhận thêm một tên riêng nữa, nhưng tên này không được sử dụng trong đời sống thường ngày. Cả tên rửa tội lẫn tên thêm sức chỉ mang ý nghĩa tôn giáo và không xuất hiện trong bất kỳ hồ sơ chính thức nào.
Họ và tên sau kết hôn
Có rất nhiều lựa chọn về họ tên sau khi kết hôn. Cho đến khoảng thế kỷ 18, phụ nữ quý tộc vẫn giữ nguyên tên của mình sau khi kết hôn và con cái của họ mang họ của cha; điều này chỉ trở thành bắt buộc dưới triều đại vua Joseph II của Thánh chế La Mã. Khi Hungary nằm dưới sự cai trị của nhà Habsburg và chịu ảnh hưởng từ truyền thống Tây Âu, phụ nữ bắt đầu được gọi theo tên của chồng. Ví dụ, Szendrey Júlia khi kết hôn với Petőfi Sándor sẽ trở thành Petőfi Sándorné (hậu tố -né có nghĩa gần giống "vợ của", tương đương với "Mrs." trong tiếng Anh như "Mrs. John Smith"). Đây vừa là luật pháp vừa là tập quán cho đến những năm 1950. Trong thời kỳ Hungary theo chế độ cộng sản, sự bình đẳng giữa nam và nữ được đặc biệt nhấn mạnh, và từ đó phụ nữ có thể chọn giữ họ khai sinh hoặc lấy họ của chồng. Phần lớn phụ nữ chọn cách thứ hai, ngoại trừ giới nghệ sĩ.
Ngày nay, các lựa chọn dành cho phụ nữ khi kết hôn như sau (dùng ví dụ Szendrey Júlia và Petőfi Sándor – Júlia và Sándor là tên riêng):
- Júlia có thể giữ nguyên tên khai sinh là Szendrey Júlia (hiện rất phổ biến, đặc biệt trong giới phụ nữ có học vấn cao).
- Júlia bỏ tên của mình, thêm hậu tố -né vào toàn bộ tên của chồng và sẽ được gọi là Petőfi Sándorné.
- Júlia thêm hậu tố -né vào họ của chồng, rồi thêm đầy đủ tên của mình, thành Petőfiné Szendrey Júlia.
- Júlia thêm hậu tố -né vào toàn bộ tên của chồng rồi thêm đầy đủ tên của mình, thành Petőfi Sándorné Szendrey Júlia (hiện ít phổ biến vì quá dài).
- Júlia lấy họ của chồng nhưng giữ tên riêng Júlia, trở thành Petőfi Júlia.
Luật áp dụng trước đây[1] đưa ra những lựa chọn rất khác nhau cho nam và nữ, nhưng sau đó bị tuyên bố là phân biệt giới tính và vi hiến. Bản sửa đổi có hiệu lực từ năm 2004 cũng đưa thêm các lựa chọn cho nam giới:
- Sándor có thể giữ nguyên tên khai sinh là Petőfi Sándor (lựa chọn phổ biến nhất).
- Sándor có thể lấy họ của vợ nhưng giữ tên riêng Sándor, trở thành Szendrey Sándor (thường được cân nhắc khi họ của vợ nghe hay hơn đáng kể so với họ của chồng).
Một lựa chọn mới khác là sử dụng họ ghép bằng dấu gạch nối. Trong ví dụ trên, họ Petőfi-Szendrey hoặc Szendrey-Petőfi có thể được áp dụng cho một hoặc cả hai người. Người không sử dụng dạng họ ghép sẽ giữ nguyên họ gốc của mình. Tuy nhiên, không được phép dùng hai dạng ghép ngược nhau (ví dụ Szendrey-Petőfi Sándor và Petőfi-Szendrey Júlia) hoặc hoán đổi họ cho nhau (ví dụ Petőfi Sándor và Szendrey Júlia trở thành Szendrey Sándor và Petőfi Júlia). Ngoài ra, một người chỉ được có tối đa hai họ. Nếu một hoặc cả hai người trước khi kết hôn đã có nhiều hơn một họ, họ sẽ phải thống nhất chọn giữ lại những họ nào.
Cả cô dâu và chú rể đều phải khai báo tại lễ cưới rằng họ sẽ sử dụng tên nào, đồng thời cũng phải khai báo họ mà con cái của họ sẽ mang (có thể thay đổi cho đến khi đứa con đầu tiên ra đời). Con cái có thể mang họ của cha hoặc mẹ nếu họ đó xuất hiện trên giấy chứng nhận kết hôn, nhưng tất cả con cái phải mang cùng một họ. Từ năm 2004, trẻ em cũng có thể mang họ ghép, nhưng chỉ khi cả hai cha mẹ đều giữ tên khai sinh của mình như ít nhất một phần trong tên mới sau kết hôn. Trẻ em thường mang họ của cha, nhưng họ ghép ngày càng trở nên phổ biến hơn.
Các cặp đôi đồng giới không được phép kết hôn tại Hungary, vì vậy họ không thể hợp pháp sử dụng họ của nhau,[2] trừ khi họ đổi tên thông qua thủ tục thay đổi tên hợp pháp.
Luật đặt tên Hungary
Theo luật, trẻ em sinh ra với quốc tịch Hungary không được mang quá hai họ (đa số mọi người chỉ có một họ; những người có hai họ có thể nối chúng bằng dấu gạch nối). Trẻ cũng chỉ có thể có một hoặc hai tên riêng (không tính tên tôn giáo vì chúng không mang tính chính thức; xem phần trên). Tên riêng phải được cha mẹ chọn từ một danh sách chính thức gồm vài nghìn tên (về mặt kỹ thuật là có một danh sách riêng cho mỗi giới tính). Nếu tên mong muốn không có trong danh sách, cha mẹ phải nộp đơn xin phê duyệt. Các đơn này sẽ được xem xét bởi Viện hàm lâm Khoa học Hungary thông qua Viện Nghiên cứu Ngôn ngữ học của tổ chức này, dựa trên một bộ nguyên tắc nhất định.
Theo đó, tên sẽ được chấp thuận nếu chúng không mang tính xúc phạm hoặc quá kiểu tên gọi thân mật, có thể được viết và phát âm dễ dàng, đồng thời có thể nhận biết rõ là tên nam hay nữ, v.v. Những tên được phê duyệt sẽ được bổ sung vào danh sách chính thức, và danh sách này được cập nhật thường xuyên. Nhiều bổ sung gần đây là tên nước ngoài, nhưng chúng phải được viết theo ngữ âm tiếng Hungary: Jennifer trở thành Dzsenifer, còn Joe trở thành Dzsó.
Những người thuộc các nhóm thiểu số được chính thức công nhận tại Hungary cũng có thể chọn tên theo văn hóa riêng của mình, và phải tuân theo danh mục tên riêng do cơ quan quản lý của cộng đồng thiểu số tương ứng duy trì.
Nếu một hoặc cả hai cha mẹ của đứa trẻ là công dân nước ngoài, tên riêng của đứa trẻ có thể được chọn theo luật của quốc gia tương ứng.[3]
Cách thể hiện tên người nước ngoài trong tiếng Hungary
Với tên ngước ngoài, tiếng Hungary vẫn giữ nguyên thứ tự họ tên ở ngôn ngữ gốc. Ví dụ, Tony Blair vẫn sẽ được giữ nguyên là "Tony Blair" theo tên trước họ sau của người Anh, thay vì đảo ngược thành "Blair Tony" trong các văn bản tiếng Hungary. Tuy nhiên, những tên tuổi có ý nghĩa lịch sử thường được dịch lại và viết theo kiểu Hungary, chẳng hạn như Jean Calvin được viết thành Kálvin János, Jules Verne được viết thành Verne Gyula. Tên của nguyên thủ quốc gia hiện nay chỉ được dịch trong trường hợp là quân chủ hoặc thành viên hoàng gia. Ví dụ, Elizabeth II trở thành II. Erzsébet, và Pope Benedict XVI trở thành XVI. Benedek pápa.
Tên từ các ngôn ngữ không sử dụng chữ Latin được phiên âm theo cách phát âm tiếng Hungary thay vì sử dụng hệ thống Latinh hóa chính thức hoặc phổ biến. Ví dụ:
- Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae được viết trong tiếng Hungary là Takaicsi Szanae thay vì Takaichi Sanae theo Hepburn.
- Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình được viết là Hszi Csin-ping thay vì Xi Jinping (hoặc Xí Jìnpíng) theo bính âm.
- Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae-myung được viết trong tiếng Hungary là I Dzsemjong (hay I Dzse-mjong) thay vì dạng tên phổ biến trong tiếng Anh như Lee Jae-myung (hay Lee Jaemyung, Lee Jae Myung) hoặc dạng romaja quốc ngữ là I Jaemyeong (hay I Jae-myeong, I Jae Myeong).
Tham khảo
Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).