Bước tới nội dung

Tòa án Tối cao Hoa Kỳ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bản mẫu:Infobox High Court Tòa án tối cao Hoa Kỳ[1][2] (tiếng Anh: Supreme Court of the United States, viết tắt: SCOTUS) là tòa án cao nhất trong hệ thống tư pháp liên bang Hoa Kỳ. Tòa án tối cao có thẩm quyền xét xử chung thẩm tất cả các vụ án của các tòa án liên bang Hoa Kỳ và đối với các vụ án của tòa án tiểu bang liên quan đến các vấn đề về luật hiến pháp hoặc luật liên bang của Hoa Kỳ. Tòa án cũng có thẩm quyền xét xử sơ thẩm một số vụ án, cụ thể là "với mọi trường hợp liên quan tới các đại sứ, các công sứ và các lãnh sự, những vụ tranh chấp mà Hợp chúng quốc là một bên liên quan". Năm 1803, Tòa án tối cao tuyên bố có quyền giám sát hiến pháp, bao gồm quyền hủy bỏ luật của Quốc hội trái với Hiến pháp, trong vụ án mang tính bước ngoặt Marbury kiện Madison. Tòa án cũng có quyền hủy bỏ chỉ thị tổng thống trái với Hiến pháp hoặc pháp luật.

Theo Điều Ba của Hiến pháp Hoa Kỳ, thành phần và thủ tục của Tòa án Tối cao ban đầu được Quốc hội khóa I thiết lập thông qua Luật Tư pháp năm 1789. Từ năm 1869, Tòa án tối cao gồm chánh án Hoa Kỳ và tám thẩm phán. Trụ sở Tòa án Tối caoWashington, D.C. Nhiệm kỳ của thẩm phán Tòa án tối cao là trọn đời và chỉ chấm dứt trong trường hợp thẩm phán qua đời, nghỉ hưu, từ chức hoặc bị miễn nhiệm theo thủ tục luận tội. Trong trường hợp khuyết thẩm phán thì tổng thống bổ nhiệm thẩm phán mới với sự tư vấn và chuẩn thuận của Thượng viện. Mỗi thẩm phán có một phiếu bầu để quyết định thụ lý các vụ án. Tòa án tối cao quyết định theo đa số. Chánh án phân công thẩm phán viết ý kiến của tòa án; nếu không, thẩm phán có thâm niên cao nhất trong đa số sẽ giao nhiệm vụ viết ý kiến. Tòa án Tối cao mỗi năm nhận được trung bình 7.000 đơn xin cấp lệnh certiorari, nhưng chỉ thụ lý khoảng 80 vụ việc.

Lịch sử

Tòa án tối cao đã tích luỹ quyền lực hiện có suốt trong nhiệm kỳ của chánh án John Marshall. Ông được đề cử bởi John Adams trong những ngày cuối của nhiệm kỳ tổng thống của Adams. Là đối thủ chính trị của những người Cộng hoà theo Jefferson, Marshall đưa ra một số quan điểm mà những người này cho là không thích hợp, nhằm củng cố quyền lực của ngành tư pháp bằng cách làm suy giảm thanh thế của hành pháp và khẳng định sức mạnh độc quyền của ngành tư pháp trong việc giải thích hiến pháp. Vụ án Marbury kiện Madison (1803) là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử toà tối cao, bắt đầu áp dụng quyền tài phán chung thẩm, cho phép toà tối cao bác bỏ các đạo luật của Quốc hội, theo quan điểm của toà, là vi hiến.

Burger, Rehnquist và Roberts

Cơ cấu tổ chức

Đề cử, phê chuẩn, bổ nhiệm

Tập tin:John Roberts Confirmation Hearings.jpg
John Roberts điều trần trước Ủy ban Tư pháp Thượng viện khi được đề cử làm chánh án vào năm 2005

Thẩm phán Tòa án tối cao do tổng thống bổ nhiệm với sự phê chuẩn của Thượng viện. Tổng thống có toàn quyền đề cử thẩm phán, trong khi Thượng viện có toàn quyền phê chuẩn hoặc bác bỏ người được đề cử. Hiến pháp Hoa Kỳ không quy định tiêu chuẩn làm thẩm phán Tòa án tối cao, ví dụ như tuổi tác, quốc tịch, nơi cư trú hoặc kinh nghiệm tư pháp, nên tổng thống có quyền đề cử một người bất kỳ và Thượng viện không thể áp đặt tiêu chuẩn hoặc giới hạn quyền đề cử của tổng thống.[3] Trên thực tế, Thượng viện có quyền bác bỏ đề cử của tổng thống nếu xét rằng người được đề cử không đủ tiêu chuẩn làm thẩm phán Tòa án tối cao.[4]

Hiện tại, quy trình phê chuẩn thẩm phán Tòa án tối cao thu hút sự chú ý đáng kể của báo chí và các nhóm lợi ích vận động hành lang các thượng nghị sĩ. Ủy ban Tư pháp Thượng viện tổ chức các phiêu điều trần và biểu quyết về việc đưa đề cử ra toàn thể Thượng viện biểu quyết với một báo cáo tích cực, trung lập hoặc tiêu cực. Việc ủy ban đích thân phỏng vấn người được đề cử là một thủ tục tương đối mới. Người được đề cử đầu tiên trình diện trước Ủy ban Tư pháp là Harlan Fiske Stone vào năm 1925, nhằm xoa dịu những lo ngại về mối quan hệ của ông với Phố Wall. Quy trình chất vấn hiện tại được áp dụng lần đầu tiên đối với John Marshall Harlan II vào năm 1955.[5] Sau khi Ủy ban Tư pháp đưa đề cử ra trước toàn thể Thượng viện thì Thượng viện tiến hành thảo luận và biểu quyết. Thượng viện hiếm khi bác bỏ đề cử của tổng thống; 12 người được đề cử thẩm phán Tòa án tối cao đã bị bác bỏ, gần đây nhất là Robert Bork, do Tổng thống Ronald Reagan đề cử vào năm 1987.

Cục Điều tra Liên bang kiểm tra nhân thân của người được đề cử. Ủy ban Tư pháp Thượng viện triệu tập người được đề cử và các nhân chứng để chất vấn. Ban thường trực về tư pháp liên bang của Hội Luật sư Hoa Kỳ thẩm định lý lịch của người được đề cử như tính liêm khiết, năng lực chuyên môn, tính cách. Ban này gồm 15 thẩm phán liên bang (không có thẩm phán Tòa án tối cao), sẽ đưa ra một báo cáo – "rất tốt", "tốt" và "không tốt". Đời tư của người được đề cử thường bị xét nét đến từng chi tiết.

Không phải tất cả đề cử đều được biểu quyết tại Thượng viện. Một khi Thượng viện bắt đầu thảo luận về sự đề cử, những người chống đối có thể tìm cách kéo dài cuộc tranh luận để ngăn không cho biểu quyết. Cho đến nay vẫn chưa có việc đề cử thẩm phán nào bị ngăn không biểu quyết. Tuy nhiên, năm 1968 Tổng thống Lyndon Johnson thất bại trong nỗ lực đề cử thẩm phán Abe Fortas vào vị trí chánh án thay thế Earl Warren.

Tổng thống cũng có thể rút lại đề cử trước khi Thượng viện biểu quyết. Điều này xảy ra khi tổng thống cảm thấy người được đề cử không có đủ khả năng để được phê chuẩn. Gần đây nhất, Tổng thống George W. Bush rút tên Harriet Miers trước khi phiên điều trần bắt đầu do những quan ngại về khả năng Miers sẽ bị chất vấn về việc bà từng tiếp cận các tư liệu nội bộ của chính phủ khi đang là cố vấn pháp luật cho Nhà Trắng. Năm 1987, Tổng thống Ronald Reagan rút tên Douglas H. Ginsburg vì những cáo buộc về việc sử dụng ma túy.

Trước năm 1981, việc phê chuẩn thường diễn ra nhanh chóng. Từ chính phủ Truman đến Nixon, Thượng viện phê chuẩn người được đề cử trong vòng một tháng. Tuy nhiên, kể từ chính phủ Reagan cho đến nay, quy trình phê chuẩn kéo dài hơn. Một số suy đoán cho rằng ấy là do vai trò chính trị của các thẩm phán ngày càng gia tăng.[6]

Số lượng thẩm phán

Hiện tại, Tòa án tối cao gồm chánh án Hoa Kỳ và chín thẩm phán. Hiến pháp Hoa Kỳ không quy định số lượng thẩm phán Tòa án tối cao hoặc vai trò cụ thể của các thẩm phán. Hiến pháp mặc định có chức vụ chánh án vì quy định chánh án chủ trì phiên luận tội tổng thống Hoa Kỳ. Quốc hội được cho là sở hữu quyền quy định tổ chức Tòa án tối cao. Luật Tư pháp năm 1789 quy định Tòa án tối cao gồm một chánh án và năm thẩm phán.

Khi Hoa Kỳ được mở rộng, con số thẩm phán của tòa tối cao gia tăng dần theo số lượng tòa án khu vực. Năm 1807, số thẩm phán là bảy người, lên đến chín người năm 1837, rồi mười người năm 1863. Đến năm 1866, vì không muốn phê chuẩn các bổ nhiệm của Tổng thống Andrew Johnson, Quốc hội thông qua đạo luật Judicial Circuits, theo đó sẽ không bổ nhiệm người thay thế cho ba thẩm phán sắp về hưu; như thế, số thẩm phán dần dà chỉ còn lại bảy người; một vị trí bị huỷ bỏ năm 1866, vị trí thứ hai năm 1867. Trước khi chiếc ghế thứ ba bị dời đi, Quốc hội đã kịp thông qua luật Circuit Judges năm 1869, ấn định số thẩm phán ở con số chín (một chánh án và tám thẩm phán), con số này được duy trì cho đến ngày nay.

Với dự luật Cải tổ Tư pháp năm 1937, Tổng thống Franklin D. Roosevelt muốn mở rộng tòa tối cao, cho phép tổng thống bổ nhiệm thêm một người cho mỗi thẩm phán đã đến tuổi bảy mươi mà không muốn về hưu, như vậy số thẩm phán có thể lên đến tối đa là mười lăm người. Có vẻ như tổng thống muốn làm giảm bớt gánh nặng trên vai các thẩm phán cao tuổi, nhưng nhiều người tin rằng Roosevelt chỉ muốn đem vào tòa tối cao những người ủng hộ chính sách New Deal của ông. Trước đây, New Deal đã bị Tòa án tối cao tuyên bố là vi hiến. Đề án này của Roosevelt không được quốc hội thông qua. Dù vậy, thời kỳ lâu dài của Roosevelt tại Tòa Bạch Ốc cho phép ông bổ nhiệm tám thẩm phán (chỉ sau George Washington), và đưa một thẩm phán lên vị trí Chánh án Tòa án tối cao.[7]

Thủ tục

Kỳ làm việc

Mỗi kỳ làm việc của Tòa án tối cao bắt đầu vào thứ Hai đầu tiên trong tháng 10 và kết thúc và tháng 6 hoặc đầu tháng 7. Mỗi kỳ làm việc được chia thành các giai đoạn "xét xử" và "nghị án", mỗi giai đoạn kéo dài hai tuần. Tòa án tối cao xét xử vụ việc, công bố quyết định trong giai đoạn xét xử và thảo luận vụ việc, soạn thảo quyết định trong giai đoạn nghị án.[8]

Thụ lý vụ việc

Tòa án tối cao thụ lý gần như mọi vụ việc thông qua thủ tục kháng cáo bằng cách cấp lệnh certiorari đối với đơn kháng cáo. Tòa án tối cao có quyền xét xử phúc thẩm vụ án hình sự, dân sự tại tòa án phúc thẩm liên bang[9] và quyết định của Tòa án tối cao của một tiểu bang nếu quyết định liên quan đến một vấn đề luật liên bang hoặc luật hiến pháp.[10] Tòa án tối cao cũng có thể trực tiếp thụ lý vụ việc tại một tòa án quận liên bang.[11] Bên nộp đơn kháng cáo là nguyên đơn, bên bị kháng cáo là bị đơn.

Chín thẩm phán họp kín để biểu quyết thụ lý đơn kháng cáo. Theo quy tắc bốn, Tòa án tối cao thụ lý vụ việc nếu ít nhất bốn thẩm phán biểu quyết tán thành. Sau khi được thụ lý, vụ việc sẽ chuyển sang giai đoạn tóm tắt, trong đó bị đơn nộp bản tóm tắt vụ việc lên Tòa án tối cao. Nguyên đơn không phải phản hồi đơn kháng cáo, ngoại trừ trong vụ việc có án tử hình hoặc nếu có yêu cầu của Tòa án tối cao. Nội quy Tòa án tối cao quy định Tòa án tối cao chỉ thụ lý vụ việc vì "lý do thuyết phục", bao gồm:

  • Giải quyết xung đột giữa các tòa án phúc thẩm về việc giải thích luật liên bang hoặc Hiến pháp Hoa Kỳ
  • Xử lý sai phạm nghiêm trọng trong quy trình tố tụng thông thường
  • Giải quyết một vấn đề luật liên bang quan trọng hoặc xem xét lại một quyết định của tòa án cấp dưới xung đột trực tiếp với quyết định của Tòa án tối cao.

Tranh luận miệng

Quyết định

Sau phiên tranh luận miệng, Tòa án tối cao tiến hành nghị án trong cùng tuần và biểu quyết sơ bộ về quyết định. Tòa án tối cao quyết định theo đa số. Thẩm phán thâm niên nhất thuộc đa số phân công một thẩm phán soạn thảo quyết định của Tòa án tối cao, được gọi là "quan điểm đa số", chánh án luôn được coi là thẩm phán thâm niên nhất. Dự thảo quyết định của Tòa án tối cao được lưu hành nội bộ trong số thẩm phán.[12]

Thẩm phán có quyền thay đổi biểu quyết về một vụ việc cho đến khi Tòa án tối cao công bố quyết định. Mỗi thẩm phán có quyền viết quan điểm riêng hoặc gia nhập quan điểm đa số hoặc quan điểm của một thẩm phán. Có bốn loại quan điểm:

  • Quan điểm của Tòa án là quyết định của Tòa án tối cao, được ít nhất quá nửa số thẩm phán tán thành và cấu thành án lệ. Trong trường hợp dưới quá nửa số thẩm phán tán thành quan điểm của Tòa án thì quyết định chỉ có hiệu lực án lệ một phần.
  • Quan điểm nhất trí là quan điểm của một thẩm phán đồng ý với đa số và trình bày thêm những giải thích, lập luận và bình luận về vụ việc, nhưng không cấu thành án lệ.
  • Quan điểm nhất trí về quyết định là quan điểm của một thẩm phán đồng ý với kết quả vụ việc nhưng không đồng ý về lập luận xét xử, không gia nhập quan điểm của Tòa án và không cấu thành án lệ.
  • Quan điểm phản đối là quan điểm của một thẩm phán không đồng ý về quyết định và lập luận của Tòa án tối cao và không cấu thành án lệ. Một thẩm phán có thể tự viết quan điểm phản đối hoặc gia nhập quan điểm phản đối của thẩm phán khác. Một thẩm phán cũng có thể vừa đồng ý với một phần của quyết định vừa phản đối một phần.

Trong trường hợp Tòa án tối cao biểu quyết hòa thì quyết định của tòa án cấp dưới được giữ nguyên, nhưng quyết định của Tòa án tối cao không cấu thành án lệ. Phải có ít nhất sáu thẩm phán tham gia nghị án, xét xử một vụ việc.[13] Trong trường hợp không có đủ thẩm phán tham gia xét xử và quá nửa số thẩm phán Tòa án tối cao xác định không thể xét xử một vụ việc trong kỳ làm việc tiếp theo thì quyết định của tòa án cấp dưới được giữ nguyên như thể Tòa án tối cao biểu quyết hòa. Đối với một vụ việc được thụ lý trực tiếp từ một tòa án quận liên bang thì chánh án có quyền chuyển vụ việc về một tòa án phúc thẩm liên bang phù hợp để xét xử chung thẩm.[14] Cho đến nay, Hoa Kỳ kiện Alcoa (1945) là vụ việc duy nhất thuộc trường hợp này.[15]

Đoàn luật sư Tòa án tối cao

Một luật sư xuất hiện trước Tòa án tối cao phải là thành viên đoàn luật sư Tòa án tối cao. Để được kết nạp vào đoàn luật sư Tòa án tối cao, một luật sư phải có thâm niên ít nhất ba năm trong đoàn luật sư của tòa tối cao tiểu bang, phải được hai thành viên đoàn luật sư Tòa án tối cao không có quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân giới thiệu và không bị tòa án hoặc đoàn luật sư kỷ luật.

Thành viên

Thẩm phán đương nhiệm

Tòa án tối cao có 9 thẩm phán, gồm Chánh án John Roberts và 8 thẩm phán liên nhiệm. Trong số các thẩm phán đương nhiệm, Clarence Thomas là thẩm phán lâu năm nhất với Bản mẫu:Age in days nts ngày, tức Bản mẫu:Ayd tính đến ngày 7 tháng 8 năm 2026; Thẩm phán được bổ nhiệm gần đây nhất là Ketanji Brown Jackson, bà nhậm chức vào ngày 30 tháng 6 năm 2022.

Thẩm phán Tòa án Tối cao đương nhiệm[16]
Thẩm phán /

Ngày sinh

Nơi sinh

Tổng thống đề cử Kết quả biểu quyết phê chuẩn tại Thượng viện Hoa Kỳ Độ tuổi Nhậm chức /

Thời gian giữ chức vụ

Giáo dục Chức vụ trước[lower-alpha 1] Người tiền nhiệm
Nhậm chức Hiện tại
Bản mẫu:Sort Chánh án
Bản mẫu:Sortname
Bản mẫu:Dts
Buffalo, New York
Bản mẫu:Sortname 78–22 50 Bản mẫu:Age nts Bản mẫu:Dts
Bản mẫu:Ayd
Đại học Harvard
(JD)
Thẩm phán Tòa án phúc thẩm liên bang Khu vực Đặc khu Columbia

(2003–2005)

Rehnquist
Bản mẫu:Sort Bản mẫu:Sortname
Bản mẫu:Dts
Pin Point, Georgia
Bản mẫu:Sortname 52–48 43 Bản mẫu:Age nts Bản mẫu:Dts
Bản mẫu:Ayd
Đại học Yale
(JD)
Thẩm phán Tòa án phúc thẩm liên bang Khu vực Đặc khu Columbia

(1990–1991)

Marshall
Bản mẫu:Sort Bản mẫu:Sortname
Bản mẫu:Dts
Trenton, New Jersey
Bản mẫu:Sortname 58–42 55 Bản mẫu:Age nts Bản mẫu:Dts
Bản mẫu:Ayd
Đại học Yale
(JD)
Thẩm phán Tòa án phúc thẩm liên bang Khu vực 3

(1990–2006)

O'Connor
Bản mẫu:Sort Bản mẫu:Sortname
Bản mẫu:Dts
New York City, New York
Bản mẫu:Sortname 68–31 55 Bản mẫu:Age nts Bản mẫu:Dts
Bản mẫu:Ayd
Đại học Yale
(JD)
Thẩm phán Tòa án phúc thẩm liên bang Khu vực 2

(1998–2009)

Souter
Bản mẫu:Sort Bản mẫu:Sortname
Bản mẫu:Dts
New York City, New York
Bản mẫu:Sortname 63–37 50 Bản mẫu:Age nts Bản mẫu:Dts
Bản mẫu:Ayd
Đại học Harvard
(JD)
Tổng Luật sư Hoa Kỳ

(2009–2010)

Stevens
Bản mẫu:Sort Bản mẫu:Sortname
Bản mẫu:Dts
Denver, Colorado
Bản mẫu:Sortname 54–45 49 Bản mẫu:Age nts Bản mẫu:Dts
Bản mẫu:Ayd
Đại học Harvard
(JD)
Thẩm phán Tòa án phúc thẩm liên bang Khu vực 10

(2006–2017)

Scalia
Bản mẫu:Sort Bản mẫu:Sortname
Bản mẫu:Dts
Washington, D.C.
Bản mẫu:Sortname 50–48 53 Bản mẫu:Age nts Bản mẫu:Dts
Bản mẫu:Ayd
Đại học Yale
(JD)
Thẩm phán Tòa án phúc thẩm liên bang Khu vực Đặc khu Columbia

(2006–2018)

Kennedy
Bản mẫu:Sort Bản mẫu:Sortname
Bản mẫu:Dts
New Orleans, Louisiana
Bản mẫu:Sortname 52–48 48 Bản mẫu:Age nts Bản mẫu:Dts
Bản mẫu:Ayd
Đại học Notre Dame
(JD)
Thẩm phán Tòa án phúc thẩm liên bang Khu vực 7

(2017–2020)

Ginsburg
Tập tin:Ketanji Brown Jackson official SCOTUS portrait.jpg Bản mẫu:Sortname
Bản mẫu:Dts
Washington, D.C.
Biden 53–47 51 Bản mẫu:Age nts Bản mẫu:Dts
Bản mẫu:Ayd
Đại học Harvard
(JD)
Thẩm phán Tòa án phúc thẩm liên bang Khu vực Đặc khu Columbia

(2021–2022)

Breyer

<timeline>ImageSize=width:700 height:auto barincrement:20

PlotArea = top:10 bottom:50 right:160 left:14 AlignBars = late DateFormat = x.y Period = from:1991.00 till:2026.6666666667 TimeAxis = orientation:horizontal ScaleMajor = unit:year increment:2 start:1991 ScaleMinor = unit:year increment:1 start:1991 Define $now = 2026.6666666667

Colors =

 id:bg        value:white
 id:grayline  value:rgb(0.894,0.882,0.871)
 id:ChiefJ    value:rgb(0.965,0.227,0.082)  legend: Chánh_án
 id:AssocJ    value:rgb(0.082,0.376,0.965)  legend: Thẩm_phán_Đồng_nhiệm

Legend = columns:2 left:150 top:25 columnwidth:100

BarData =

 barset:Justices

PlotData=

width:5 align:left fontsize:S shift:(5,-4) anchor:till fontsize:10
barset:Justices
from:1991.81 till:$now color:AssocJ text:Clarence Thomas
from:2005.74 till:$now color:ChiefJ text:John Roberts
from:2006.08 till:$now color:AssocJ text:Samuel Alito
from:2009.60 till:$now color:AssocJ text:Sonia Sotomayor
from:2010.60 till:$now color:AssocJ text:Elena Kagan
from:2017.27 till:$now color:AssocJ text:Neil Gorsuch
from:2018.76 till:$now color:AssocJ text:Brett Kavanaugh
from:2020.81 till:$now color:AssocJ text:Amy Coney Barrett
from:2022.49 till:$now color:AssocJ text:Ketanji Brown Jackson

LineData=

layer:back
at:1991.81 width:0.1 color:grayline
at:2005.74 width:0.1 color:grayline
at:2006.08 width:0.1 color:grayline
at:2009.60 width:0.1 color:grayline
at:2010.60 width:0.1 color:grayline
at:2017.27 width:0.1 color:grayline
at:2018.76 width:0.1 color:grayline
at:2020.81 width:0.1 color:grayline
at:2022.49 width:0.1 color:grayline</timeline>

Lương

Năm 2024, mức lương hàng năm của thẩm phán Tòa án tối cao là 298.500 đô la Mỹ, mức lương hàng năm của chánh án Hoa Kỳ là 312.200 đô la Mỹ.[17]

Thâm niên và địa vị

Tập tin:Supreme Court of the United States - Roberts Court 2022.jpg
Thẩm phán Tòa án tối cao Hoa Kỳ từ tháng 6 năm 2022. Từ trái sang phải, hàng đứng: Amy Coney Barrett, Neil Gorsuch, Brett Kavanaugh, Ketanji Brown Jackson; hàng ngồi: Sonia Sotomayor, Clarence Thomas, John Roberts, Samuel AlitoElena Kagan

Trong những phiên họp của tòa tối cao, vị trí của các thẩm phán được ấn định theo tuổi tác: Chánh án ngồi ở vị trí trung tâm, các thẩm phán ở hai bên, thâm niên càng cao càng ngồi gần với chánh án. Như vậy, thẩm phán thâm niên nhất ngồi ngay bên phải chánh án, và người có thâm niên ít nhất ngồi xa nhất về bên trái. Nếu từ góc nhìn của luật sư tranh luận tại tòa, thứ tự vị trí của các thẩm phán hiện tại như sau: Barrett ,Gorsuch, Sotomayor, Thomas, Roberts (Chánh án), Alito, Kagan, Kavanaugh và Jackson.

Trong các phiên họp kín, các thẩm phán phát biểu và bỏ phiếu theo thứ tự thâm niên, người đầu tiên là chánh án và người cuối cùng là thẩm phán có thâm niên ít nhất. Vì là họp kín nên thẩm phán có thâm niên ít nhất được giao trách nhiệm phục vụ khi cần thiết, thường là công việc mở cửa và dọn cà phê. Ngoài ra, thẩm phán có thâm niên ít nhất cũng là người có nhiệm vụ chuyển án lệnh của tòa đến tay thư ký tòa. Joseph Story có thành tích phục vụ lâu nhất trong cương vị thẩm phán có thâm niên ít nhất, từ ngày 3 tháng 2 năm 1812 đến ngày 1 tháng 9 năm 1823, tổng cộng là 4 228 ngày. Thẩm phán Stephen Breyer được xếp kế tiếp, kém kỷ lục của Story chỉ có 29 ngày, khi Thẩm phán Samuel Alito vào Tòa án tối cao và thay thế Breyer ở vị trí này vào ngày 31 tháng 1 năm 2006.[18]

Khuynh hướng xét xử

Theo thông lệ, thẩm phán Tòa án tối cao không đại diện hoặc chấp nhận sự ủng hộ chính thức của chính đảng, nhưng thường được phân loại là bảo thủ hoặc tự do trong xét xử.

Tòa án do Chánh án Roberts lãnh đạo hiện tại là một trong những nhiệm kỳ tòa án bảo thủ nhất lịch sử Hoa Kỳ. Sáu thẩm phán đương nhiệm được các tổng thống thuộc Đảng Cộng hòa bổ nhiệm, ba thẩm phán được các tổng thống thuộc Đảng Dân chủ bổ nhiệm. Nhiều người tin rằng Chánh án Roberts và các thẩm phán Thomas, và Alito, Gorsuch, Kavanaugh, Barrett hình thành nhóm bảo thủ trong tòa. Các thẩm phán Sotomayor, Kagan và Jackson được xem là cánh cấp tiến.[19]

Thẩm phán nghỉ hưu

Các cuộc nghiên cứu chỉ ra rằng các thẩm phán Tòa án tối cao đều có những tính toán chiến lược khi quyết định nghỉ hưu. Những cân nhắc này chịu tác động bởi các yếu tố cá nhân, đảng phái và cơ chế.[20] Các quan ngại về sự suy nhược trí tuệ khi cao tuổi cũng thường là động cơ thúc đẩy các thẩm phán muốn về hưu. Áp lực muốn tăng cường sức mạnh và ảnh hưởng của tòa tối cao được kể là một nhân tố khác. Sau cùng, các thẩm phán thường quyết định rút lui vào thời điểm thuận lợi nhất, nghĩa là vào lúc tổng thống và quốc hội có thể bổ nhiệm thẩm phán thay thế là người có cùng quan điểm với người ra đi.

Thẩm phán Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã nghỉ hưu[16]
Thẩm phán /

Ngày sinh

Nơi sinh

Tổng thống đề cử Nghỉ hưu trong nhiệm kỳ của Độ tuổi Nhiệm kỳ
Nhậm chức Nghỉ hưu Hiện tại Nhậm chức Nghỉ hưu Thời gian giữ chức vụ
Bản mẫu:Sort Bản mẫu:Sortname
Bản mẫu:Dts
Sacramento, California
Bản mẫu:Sortname Bản mẫu:Sortname 51 82 Bản mẫu:Age nts Bản mẫu:Dts Bản mẫu:Dts Bản mẫu:Ayd
Bản mẫu:Sort Bản mẫu:Sortname
Bản mẫu:Dts
San Francisco, California
Bản mẫu:Sortname Biden 55 83 Bản mẫu:Age nts Bản mẫu:Dts Bản mẫu:Dts Bản mẫu:Ayd

Thẩm quyền

Sơ thẩm

Tòa án tối cao có thẩm quyền xét xử sơ thẩm độc nhất vụ việc giữa hai tiểu bang[21] và thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ việc mà đại sứ, công sứ, lãnh sự, phó lãnh sự nước ngoài là một bên; vụ việc giữa chính quyền liên bang và môt tiểu bang; và vụ việc giữa một tiểu bang và cư dân của tiểu bang khác hoặc người nước ngoài.[22]

Phúc thẩm

Điều III Hiến pháp Hoa Kỳ quy định Quốc hội có quyền điều chỉnh thẩm quyền xét xử phúc thẩm của Tòa án tối cao. Tòa án tối cao có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của tòa án phúc thẩm liên bang,[23] Tòa án phúc thẩm Quân đội Hoa Kỳ,[24] Tòa án tối cao Puerto Rico,[25] Tòa án tối cao Quần đảo Virgin,[26] Tòa án phúc thẩm Đặc khu Columbia[27] và tòa án tối cao của một tiểu bang.[27]

Trụ sở

Tập tin:United States Supreme Court Building, July 21, 2020.jpg
Trụ sở Tòa án tối cao Hoa Kỳ tại Washington, DC.

Tòa án tối cao họp lần đầu tiên vào ngày 1 tháng 2 năm 1790 tại toà nhà Merchants Exchange, Thành phố New York, sau đó dời về Philadelphia và cuối cùng là Washington, D.C. khi nơi này được chọn làm thủ đô của Hoa Kỳ. Phần lớn trong thời gian hiện hữu của mình, toà tối cao phải làm việc tại nhiều địa điểm khác nhau trong Điện Capitol Hoa Kỳ, nhiều nhất là ở Thượng viện (và trong một thời gian ngắn, phải dời về một căn nhà tư nhân vì điện Capitol bị hoả hoạn trong Chiến tranh Hoa Kỳ–Anh Quốc năm 1812).

Năm 1935, Tòa án tối cao chuyển về trụ sở hiện tại theo yêu cầu cấp bách của William Howard Taft, người từng đảm nhiệm cả hai chức vụ đứng đầu ngành hành pháp và tư pháp: Tổng thống Hoa Kỳ (1909-1913) và Chánh án Hoa Kỳ (1921-1930).

Tòa nhà bốn tầng được thiết kế theo phong cách cổ điển hài hòa với các tòa nhà xung quanh thuộc khu phức hợp Capitol và Thư viện Quốc hội. Bên trong tòa nhà là Phòng Xử án, văn phòng các thẩm phán, một thư viện rộng lớn, nhiều phòng họp, và các dịch vụ phụ trợ như cửa hàng, cafeteria và một phòng tập thể dục. Bên ngoài lát lớp đá hoa cương khai thác từ Vermont. Toà nhà được thiết kế bởi kiến trúc sư Cass Gilbert; công việc xây cất mất ba năm, từ năm 1932 đến 1935. Dù tọa lạc trong khuôn viên của Khu Kiến trúc đồi Capitol, thiết chế tư pháp này có lực lượng cảnh sát riêng, Cảnh sát Tòa án tối cao, hoạt động độc lập với Cảnh sát Capitol.

Ghi chú

  1. ^ gần nhất khi nhậm chức vào Tòa án

Tham khảo

  1. ^ "Phó Chánh án Tòa án tối cao Hoa Kỳ Ruth Bader Ginsburg thăm Hà Nội". Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam. ngày 11 tháng 8 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2020.
  2. ^ Đây là cách gọi chính thức của Chính phủ Hoa Kỳ, như công bố trong sách Phương thức hoạt động của tòa án Hoa Kỳ Lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2021 tại Wayback Machine của Tạp chí Điện tử Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (Tập số 4, Số 2, Tháng 9/1999) do Trung tâm Hoa Kỳ thuộc Phòng Thông tin - Văn hóa, Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội biên dịch.
  3. ^ "Frequently Asked Questions: General Information – Supreme Court of the United States". www.supremecourt.gov. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2023.
  4. ^ "Questioning Judicial Nominees: Legal Limitations and Practice". Congressional Research Service. U.S. Congress. ngày 17 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2025.
  5. ^ "United States Senate. "Nominations"". Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2018.
  6. ^ Balkin, Jack M. "The passionate intensity of the confirmation process". Jurist. Bản gốc (HTML) lưu trữ ngày 4 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2008.
  7. ^ Justices, Number of. in Hall, Ely Jr., Grossman, and Wiecek (editors), The Oxford Companion to the Supreme Court of the United States. Oxford University Press 1992, ISBN 0-19-505935-6.
  8. ^ "The Court and Its Procedures", Supreme Court of the United States, lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 6 năm 2022, truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2022
  9. ^ Bản mẫu:Usc
  10. ^ Bản mẫu:Usc; see also Adequate and independent state grounds
  11. ^ Bản mẫu:Usc
  12. ^ See generally, Tushnet, Mark, ed. (2008) I Dissent: Great Opposing Opinions in Landmark Supreme Court Cases, Malaysia: Beacon Press, pp. 256, Bản mẫu:ISBN
  13. ^ Bản mẫu:Usc
  14. ^ Bản mẫu:Usc
  15. ^ Pepall, Lynne; Richards, Daniel L.; Norman, George (1999). Industrial Organization: Contemporary Theory and Practice. Cincinnati: South-Western College Publishing. tr. 11–12.
  16. ^ a ă "Current Members". www.supremecourt.gov. Washington, D.C.: Supreme Court of the United States. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2018.
  17. ^ "Judicial Compensation". United States Courts. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2021.
  18. ^ "Breyer Just Missed Record as Junior Justice". Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2008.
  19. ^ In a 2007 interview, Justice Stevens stated he considers himself a "judicial conservative", and only appears liberal because he has been surrounded by increasingly conservative colleagues.Rosen, Jeffrey (ngày 23 tháng 9 năm 2007). ""The Dissenter"" (HTML). The Times Magazine. New York Times. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2008.
  20. ^ David N. Atkinson, Leaving the Bench (University Press of Kansas 1999) ISBN 0-7006-0946-6.
  21. ^ Bản mẫu:USCSub
  22. ^ Bản mẫu:USCSub
  23. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên usc|28|12542
  24. ^ Bản mẫu:USC
  25. ^ Bản mẫu:USC
  26. ^ Bản mẫu:USC
  27. ^ a ă Bản mẫu:USC

Thư mục

Đọc thêm

  • Beard, Charles A. The Supreme Court and the Constitution. Dover Publications, 2006. ISBN 0-486-44779-0.
  • Garner, Bryan A. Black's Law Dictionary. Deluxe 8th ed. West, 2004. ISBN 0-314-15199-0.
  • Irons, Peter. A People's History of the Supreme Court. New York: Viking, 1999. ISBN 0-670-87006-4.
  • McCloskey, Robert G. The American Supreme Court. Fourth Edition. Chicago: University of Chicago Press, 2005. ISBN 0-226-55682-4.
  • Rehnquist, William H. The Supreme Court. New York: Knopf, 2001. ISBN 0-375-40943-2.
  • Urofsky, Melvin and Paul Finkelman. A March of Liberty: A Constitutional History of the United States. 2 vols. New York: Oxford, 2001. ISBN 0-19-512637-8 & ISBN 0-19-512635-1.

Liên kết ngoài