Thông tần Ô Lạp Na Lạp thị (chữ Hán: 通嫔乌喇那拉氏, 1664 – 1 tháng 8 năm 1744), là một phi tần của Thanh Thánh Tổ Khang Hi Đế.

Thanh Thánh Tổ Thông tần
清聖祖通嫔
Khang Hi Đế tần
Thông tin chung
Sinh1664
Mất1 tháng 8, 1744 (81 tuổi)
An táng9 tháng 11, 1745
Phi viên tẩm của Cảnh lăng (景陵), Thanh Đông lăng
Phối ngẫuThanh Thánh Tổ
Khang Hi Hoàng đế
Hậu duệCố Luân Thuần Khác Công chúa
Tên đầy đủ
Ô Lạp Na Lạp • Địch Tế Mại (乌喇那拉•翟济迈)
Tước hiệu[Quan nữ tử; 官女子]
[Thứ phi; 庶妃]
[Quý nhân; 贵人]
[Thông tần; 通嫔]
Thân phụThường Tố Bảo

Thân thế

Thông tần sinh năm Khang Hi thứ 3 (1664), tên là Địch Tế Mại (翟济迈), xuất thân từ họ Na Lạp thị nhánh quốc chủ Ô–Cáp (Na Lạp thị nhánh Nạp Tề Bố Lộc), cùng tộc với Đại phi của Thái Tổ, Kế phi của Thái Tông, Huệ phi của Thánh Tổ, Hiếu Kính Hiến Hoàng hậu của Thế Tông.

Quốc chủ đời thứ nhất của Ô Lạp là Bối lặc Bố Nhan (布颜) sinh được 6 người con trai, lần lượt là Bố Hãn (布罕), Bố Nhĩ Hỉ (布尔喜), Bố Tam Thái (布三泰), Bố Chuẩn (布准), Ngô Tam Thái (吴三泰), Bác Khắc Đạc (博克铎). Đại phi của Thái Tổ là cháu gái của Bố Hãn, Kế phi của Thái Tông là con gái của Bác Khắc Đạc, Thông tần của Thánh Tổ là chắt gái của Bố Chuẩn, còn Huệ phi của Thánh Tổ là cháu 4 đời của Đài Phí Khách (台费喀) bác của Bố Nhan.

Tính theo vai vế anh em họ, Thông tần là cháu họ (gọi bằng bà cô họ) của Đại phi của Thái Tổ, chắt họ (gọi bằng cụ cố cô họ) của Kế phi của Thái Tông, cháu họ (gọi bằng cô họ) của Huệ phi của Thánh Tổ, đều đã ra khỏi 5 đời. Bố Chuẩn sinh được 3 người con trai, lần lượt tên là Khách Nhĩ Khách Mã (喀尔喀玛), Xa Thần (车臣), Mãng Giám (莽鉴), trong đó Xa Thần chính là ông cố của Thông tần. Xa Thần sau khi nhập kỳ, được biên vào Bao y kỳ tịch Chính Hoàng kỳ, là người dưới quyền của Mãn Châu Tá lĩnh thứ nhất thuộc Đệ nhất Tham lĩnh Bao y Chính Hoàng kỳ. Xa Thần sinh được 6 người con trai[1], lần lượt là Ni Kham (尼堪), Tát Bân Đồ (萨斌图), A Minh A (阿明阿), Khâm Thái (钦泰), Bác Nhĩ Hách Đồ (博尔赫图), Ngô Nỗ Xuân (吴努春).

Trong đó, con trai thứ 3 A Minh A làm quan đến chức Bao y Tá lĩnh, sinh được 5 người con trai, con trai đầu tên là Quan Bảo (官保), làm quan đến chức Bao y Tá lĩnh, Đầu đẳng Thị vệ; con trai thứ 2 tên là Thường Tố Bảo (常素保), làm quan đến chức Giám sinh thất phẩm; con trai thứ 3 tên là Niên Sắc (年色), làm quan đến chức Bao y Tá lĩnh; con trai thứ 4 tên là Tao Đạt Tắc (骚达塞), làm quan đến chức Kiêu kỵ giáo; con trai thứ 5 tên là Hách Đạt Tắc (赫达塞), đều là quan chức trung cấp của Nội vụ phủ. Trong đó, Thường Tố Bảo chính là cha của Thông tần.[2]

Nhập cung

Dựa theo Tấu tiêu đương (奏销档) triều Khang Hi ghi lại, tháng Giêng năm Khang Hi thứ 16 (1677), Thánh Tổ tuyển chọn một đợt Tú nữ Nội vụ phủ, đợt tuyển chọn này thực tế là sự tiếp nối của đợt tuyển chọn tháng 12 năm Khang Hi thứ 15 (1676), lúc đó đã có 23 vị Tú nữ Nội vụ phủ được ghi danh. Ngày 20 tháng Giêng, 62 vị Tú nữ vào cung tham gia tuyển chọn, Thánh Tổ chọn ra 2 người ghi danh[3].

Ngày 21, 25 vị Tú nữ Nội vụ phủ đã ghi danh cộng thêm vài vị Tú nữ đưa từ Thịnh KinhHương Truân đến cùng vào cung tham gia tuyển chọn, Thánh Tổ chọn ra 9 người vào cung. Theo hồ sơ tiếp theo ghi lại, 9 vị Tú nữ này vào cung vào ngày 26 tháng Giêng[4]. Trong đó, Thông tần chính là một trong 2 vị Tú nữ được chọn ghi danh vào ngày 20 tháng Giêng, cũng là một trong 9 vị Tú nữ trúng tuyển cuối cùng. Hồ sơ Tú nữ của Thông tần là: “Con gái của Giám sinh thất phẩm Thường Tố Bảo thuộc Đa Bật Tá lĩnh là Địch Tế Mại, tuổi Thìn, 14 tuổi. Lớn nhỏ đều đã thuần thục, không mụn nhọt, mùi cơ thể. Mãn Châu.”[5]

Thông tần sau khi vào cung, có từng đảm nhiệm Quan nữ tử hay không, được Thánh Tổ thu làm hậu cung chủ vị vào lúc nào, trong tình huống nào, hiện tại vẫn chưa rõ. Tháng 2 năm Khang Hi thứ 24 (1685), bà sinh hạ con gái thứ 10 cho Thánh Tổ, sau này xếp thứ tự là Lục Công chúa tức là Cố Luân Thuần Khác Công chúa. Trong một khoảng thời gian rất dài sau đó, Thông tần đều ở thân phận Thứ phi, trước khi Thánh Tổ băng thệ, vị phân đẳng cấp là Quý nhân.

Trong Thanh sử cảo (清史稿) nói, Thông tần là “Năm Ung Chính thứ 2, Thế Tông tôn phong vì công lao của con rể bà là Khách Nhĩ Khách Quận vương Sách Lăng[6]. Tuy nhiên, theo Thế Tông Hiến Hoàng đế Thực lục (世宗宪皇帝实录), Ngọc điệp (玉牒) ghi lại, tháng thứ 2 sau khi Thế Tông lên ngôi, liền hạ đạt chỉ ý rằng: “Trẫm niệm tình mẹ của Thập nhị A ca, nhiều năm hầu hạ Hoàng khảo, rất là cẩn trọng, đứng ở hàng Tần đã lâu, nay tấn phong làm Phi. Mẹ Tần của Thập ngũ A ca, Thập lục A ca, cũng tấn phong làm Phi. Lại nữa, hiện tại những người mẹ từng sinh anh em chưa được thụ phong, đều nên phong làm Quý nhân. Mẹ của Lục Công chúa, nên phong làm Tần.”[7] Bèn tấn phong Ô Lạp Na Lạp thị làm Tần. Căn cứ theo tài liệu của Nội vụ phủ có tên Hồng xương thông dụng (鴻稱通用), phong hào Thông có Mãn văn là 「hafu」, có nghĩa là "Thông suốt", "Công chính"[8].

Lúc đó, trong các hậu cung chủ vị từng sinh con gái đã trưởng thành cho Thánh Tổ, người vẫn còn sống và chưa đến vị Tần, chỉ có một mình Thông tần, đây có thể mới là nguyên nhân chính khiến Thông tần được tấn vị. Ngày 23 tháng 6 năm Càn Long thứ 9 (1744), Thông tần qua đời hưởng thọ 81 tuổi.

Trong văn hóa đại chúng

Năm Phim Diễn viên Nhân vật
2019
Mộng hồi
Dương An Kỳ
Nạp Lan Dung Nguyệt

Tham khảo

  1. ^ 谨按,根据《八旗满洲氏族通谱》记载,阿明阿等六兄弟为车臣之子,喀尔喀玛为车臣之兄。而根据康熙年间奏折记载,阿明阿等六兄弟为喀尔喀玛之子,车臣则是阿明阿等六兄弟之叔父。此处仍暂以《八旗满洲氏族通谱》之说法为准。
  2. ^ 此段乌喇纳喇氏谱系,整理自《八旗满洲氏族通谱》卷23、卷24。
  3. ^ 《口奏绿头牌白本档案》,康熙十六年正月二十日条,中国第一历史档案馆编:《内务府奏销档(缩微胶卷)》。
  4. ^ 《口奏绿头牌白本档案》,康熙十六年正月二十二日条,中国第一历史档案馆编:《内务府奏销档(缩微胶卷)》。
  5. ^ 《口奏绿头牌白本档案》,康熙十六年正月二十日条,中国第一历史档案馆编:《内务府奏销档(缩微胶卷)》。
  6. ^ 《清史稿》卷214,第30册,第8912页。
  7. ^ 《世宗宪皇帝实录》卷2,康熙六十一年十二月丁巳条,《清实录》,第7册,第51页。
  8. ^ 《为列祖列宗册封妃嫔字号事咨覆》,嘉庆六年正月,档案号:03-0197-3622-027,中国第一历史档案馆藏。