Thiết Bảo
| Thiết Bảo 鐵保 | |
|---|---|
| Tập tin:鐵保.jpg Chân dung Thiết Bảo, hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Cố cung | |
| Thông tin chung | |
| Sinh | 28 tháng 2, 1752 |
| Mất | 1824 |
| Thân phụ | Thành Thái (誠泰) |
| Thân mẫu | Huy Hách thị |
Thiết Bảo (chữ Hán: 鐵保, 28 tháng 2 năm 1752 - 1824), tự Dã Đình (冶亭), hiệu Mai Am (梅庵), Đổng Ngạc thị là một quan viên nhà Thanh.
Cuộc đời
Xuất thân
Thiết Bảo sinh vào giờ Mùi, ngày 28 tháng 2 năm Càn Long thứ 17 (1752), xuất thân Mãn Châu Chính Hoàng kỳ, thuộc gia tộc Đổng Ngạc thị. Tổ tiên của ông vốn mang họ Giác La, về sau chuyển đến cư trú tại Đổng Ngạc nên lấy địa danh này làm họ. Dựa trên khảo chứng của chính ông, dòng họ của ông vốn là hoàng tộc Bắc Tống, hậu duệ của Việt vương Triệu Ti (趙偲), con trai thứ 14 của Tống Thần Tông.[1][2]
Thủy tổ Trác Thác (卓托) những năm đầu Hậu Kim đã đến quy phục, đến đời chắt là Phí Hách Tề (費黑齊) theo quân của Nỗ Nhĩ Cáp Xích chinh phục vùng Vân Nam và Quý Châu, có công trạng nên được phong hàm Tá lĩnh, sau tử trận ở Tấn Châu, tặng Kỵ đô úy kiêm Nhất Vân kỵ úy, ban cho con trai là Tái Trụ (賽柱) kế tập.[3] Cháu trai của Tái Trụ là Thành Thái (誠泰) làm quan đến Tổng binh Trực Lệ; vị này cũng chính là thân phụ của Thiết Bảo. Thân mẫu của ông là Huy Hách thị (輝赫氏), con gái của Triêu Cáp Thái (朝哈泰). Ông có em trai là Ngọc Bảo (玉保), đỗ Tiến sĩ khoa Tân Sửu thời Càn Long, làm quan đến Binh bộ Thị lang, trứ tác có 《La Nguyệt Hiên Tồn Cảo》được lập truyện trong Thanh sử cảo.[4]
Gia tộc của ông nhiều thế hệ làm võ tướng, duy chỉ có Thiết Bảo là người thích học hành.
Hành trạng
Năm Càn Long thứ 37 (1772), Thiết Bảo thi đỗ Tiến sĩ, được thụ chức Lại bộ Chủ sự. Do tính cách chính trực, ông được Vũ Anh điện Đại học sĩ A Quế hết sức yêu quý và đề bạt, nhờ đó mà lần lượt trải qua Lang trung, Hộ bộ và Lại bộ Viên ngoại lang, Hàn lâm viện Thị giảng Học sĩ, Thị độc Học sĩ, Nội các Học sĩ. Năm thứ 53 (1788), ông được Càn Long Đế triệu kiến, năm sau thăng làm Lễ bộ Thị lang, chủ trì kỳ thi Hội cùng kỳ thi Hương ở Sơn Đông và Thuận Thiên[5], không lâu sau được điều làm Tá lãnh của Tá lãnh thứ 11, Tham lĩnh thứ 5 thuộc Mãn Châu Chính Hoàng kỳ[6].
Năm Gia Khánh thứ 4 (1799), Thiết Bảo ban đầu do hặc tấu quan lại quá đà nên bị gièm hặc, biếm đến Thịnh Kinh, không lâu sau lại được trọng dụng, phong làm Lại bộ Thị lang kiêm Tào vận Tổng đốc. Trong thời gian tại chức Tào vận Tổng đốc, ông đã lập ra 11 điều quy trình cải cách tào vận. Cuối năm thứ 7 (1802), ông được điều bổ làm Quảng Đông Tuần phủ, trước khi đi đã khắc 22 điều kinh nghiệm hành chính tích lũy qua nhiều năm lên bức tường trong đường sảnh để lại cho người sau. Năm thứ 8 (1803), điều làm Sơn Đông Tuần phủ, cùng năm thì sông Hoàng Hà bị vỡ đê tại đập Hành Gia Lâu thuộc huyện Phong Khâu (Hà Nam), gây ngập lụt tới 19 châu huyện khu vực hạ lưu thuộc Chương Khâu. Gia Khánh Đế hạ lệnh cho Thiết Bảo sang Hà Nam trực tiếp chỉ huy cứu tế và hợp long đê vỡ. Năm thứ 10 (1805), thăng làm Lưỡng Giang Tổng đốc, được ban thưởng Nhất phẩm Đỉnh đái, trở thành vị quan quân chính cao nhất quản lý ba tỉnh Giang Tô, An Huy và Giang Tây. Năm thứ 14 (1809), xảy ra vụ án Tri huyện Sơn Dương là Vương Thân Hán (王伸漢) khai khống tiền cứu tế rồi hạ độc giết chết Ủy viên Lý Dục Xương (李毓昌), Thiết Bảo cũng bị liên lụy miễn chức và bị lưu đày sang Tân Cương. Sau khi được tha bổng trở về kinh sư, ông được thăng làm Lễ bộ rồi Lại bộ Thượng thư. Khi xảy ra Sự biến Lâm Thanh, do sức lực truy cứu thái giám thông đồng với giặc nên ông lại bị cách chức, lưu đày sang Cát Lâm. Năm thứ 23 (1818), ông lại được điều về kinh. Những năm đầu thời Đạo Quang, Thiết Bảo cáo bệnh nghỉ hưu và qua đời vào năm Đạo Quang thứ 4 (1824).
Sinh tiền, ông vang danh khắp triều đình lẫn dân gian nhờ văn chương và thư pháp tuyệt mĩ. Ông là biên soạn bộ Bát kỳ thông chí, đồng thời đã sưu tập thơ văn của các tác giả Bát Kỳ biên soạn thành bộ 《Khâm Định Hi Triều Nhã Tụng Tập》(《欽定熙朝雅頌集》, 134 quyển)và 《Bạch Sơn Thi Giới》(《白山詩介》, 10 quyển). Tác phẩm của riêng ông được gom lại thành 《Duy Thanh Trai Toàn Tập》với lời tựa của Anh Hòa. Thiết Bảo được đánh giá là thư pháp gia nổi tiếng nhất trong số các văn nhân người Mãn đương thời, người thời bấy giờ bình luận thư pháp của ông có thể sánh ngang, tạo thành thế "kiềng ba chân" cùng với Lưu Dung và Ông Phương Cương. Ngay cả khi bị lưu đày ở Cát Lâm, ông vẫn chăm chỉ làm các pháp thiếp cổ đến mức bị bệnh về mắt.
Gia đình
- Thê tử: Ninh Cổ Tháp thị (寧古塔氏), tự Oánh Chuẩn (瑩川), Trúc Hiên (竹軒), xuất thân Mãn Châu Chính Hoàng kỳ, con gái Thị độc Học sĩ Bác Khắc Đường A (巴克唐阿), được triều đình ban cáo mệnh Nhất phẩm Phu nhân. Bà là một nữ thi nhân khuê các nhà Thanh, có tập thơ 《Như Đình Thi Thảo》, 《Giao Ngoại Thí Mã》, 《Hà Quyết Ký Ngoại》[7]. Người đời thường so sánh bà với một nữ thi nhân nổi danh khác là Cố Thái Thanh.
- Con trai: Thụy Nguyên (瑞元), đỗ Cử nhân khoa Tân Tị thời Đạo Quang. Thê tử là tông thất Giác La thị (覺羅氏) xuất thân Mãn Châu Chính Lam kỳ, con gái Văn Mẫn công Trường Lân (長麟).
- Con gái:
- Trưởng nữ, gả cho Giác La Quế Trụ (覺羅桂葰), em trai Tào vận Tổng đốc Quế Phương (桂芳).
- Nhị nữ, gả cho Cung vương phủ Bất nhập bát phân Trấn quốc công Tường Lâm (祥林), con trai Phụng ấn Phụ quốc công Tấn Xương.
- Tam nữ, gả cho tông thất, Phụng quốc Tướng quân Miên Huấn (綿洵).
- Tứ nữ, gả cho tông thất, Viên ngoại lang Thiện Tuần (善循).
- Ngũ nữ, gả cho Trực Lệ Nhiệt Hà đạo Thành Sơn (成山) thuộc tộc Bát Nhĩ Tế Cát Đặc.
- Lục nữ, gả cho Tứ Xuyên Án sát sứ Tùng Lâm (嵩齡) thuộc tộc Đới Giai.
Chú thích
- ^ 《啸亭杂录·卷十》:两汉以下惟宋室最为悠久。虽屡遭变迁,其业犹存,即亡国后,其后裔亦未有遭酷毒者。按野史谓元顺帝为天水苗裔,事虽暗昧未必无因也。近日董鄂冶亭制府考其宗谱,乃知其先为宋英宗越王之裔,后为金人所迁处居董鄂,以地为氏。数百年之后尚有巍然兴者,何盛德之至也。
- ^ 昭梿. 《啸亭杂录》. 中华书局. 1980: 325 [2018-01-22]. ISBN 9787101017519. (原始内容存档于2017-11-14).
- ^ Bát kỳ Mãn Châu thị tộc thông phổ, quyển 8
- ^ 《满族姓氏寻根大全·满族八大姓》
- ^ 《清史稿·列传一百四十》
- ^ theo Khâm định Bát Kỳ thông chí
- ^ 高文德主编. 《中国民族史人物辞典》. 北京市: 中国社会科学出版社. 1990年: 443.