Cố Thái Thanh
Cố Thái Thanh (chữ Hán: 顧太清, 1799 - 1877)[1], Tây Lâm Giác La thị (西林覺羅氏), tên ban đầu là Ngạc Xuân (鄂春), sau đổi sang họ Cố (顧), tự Mai Tiên (梅仙), Tử Xuân (子春), đạo hiệu Thái Thanh (太清), cuối đời đổi hiệu thành Vân Tra Ngoại Sử (雲槎外史), thường tự ký tên là Thái Thanh Xuân (太清春) là một nữ văn sĩ thời nhà Thanh, cũng là từ nhân nổi danh đương thời cùng với Nạp Lan Tính Đức. Ngoài ra, bà còn là thiếp của Đa La Bối lặc Dịch Hội cũng là người tài mạo song toàn.
| Cố Thái Thanh 顧太清 | |||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Thông tin chung | |||||||||||||
| Sinh | 1799 Bắc Kinh | ||||||||||||
| Mất | 1877 | ||||||||||||
| Phối ngẫu | Đa La Bối lặc Dịch Hội | ||||||||||||
| Hậu duệ | hai con trai và bốn con gái | ||||||||||||
| |||||||||||||
| Thân phụ | Ngạc Thạc (鄂碩) | ||||||||||||
| Thân mẫu | Phú Sát thị (富察氏) | ||||||||||||
Tiểu sử
Xuất thân
Cố Thái Thanh vốn họ Tây Lâm Giác La, là cháu nội của Tuần phủ Cam Túc Ngạc Xương (鄂昌) - cháu gọi Văn Đoan công Ngạc Nhĩ Thái bằng bác, tuy vậy bà lại mồ côi cha mẹ từ nhỏ.
Thời Ung Chính - Càn Long, Ngạc Nhĩ Thái và Trương Đình Ngọc đấu đá lẫn nhau, ông nội bà Ngạc Xương bị liên lụy bởi vụ án văn chương của Hồ Trung Tảo (胡中藻) mà bị bắt tự tận, gia sản bị tịch biên.
Hành trạng
Thời thiếu nữ, Thái Thanh sống khổ cực, từ nơi cũ là Kinh đô phiêu bạt đến Giang Nam, lần lượt đến qua các tỉnh Mân (Phúc Kiến), Quảng (Quảng Đông), ở qua Tô Châu, Hàng Châu. Vì là "hậu duệ tội nhân" nên bà lỡ dỡ thời xuân thì, mãi không gả đi được. Sau này, bà đến ở nhờ phủ của vị cháu họ xa trên danh nghĩa là Bối lặc Dịch Hội (đích tổ mẫu của Dịch Hội, tức Đích Phúc tấn của Vinh Thuần Thân vương Vĩnh Kỳ là cháu gái của Ngạc Nhĩ Thái). Khi này Dịch Hội đã lấy Hách Xá Lý thị (赫舍里氏), con gái của Phó Đô thống Phúc Lặc Hồng A (福勒洪阿) làm Đích Phúc tấn. Cả Thái Thanh và Dịch Hội đều yêu thích thơ từ, thường xuyên ngâm thơ xướng họa, từ đó nảy sinh tình cảm nam nữ. Năm Đạo Quang thứ 4 (1824), Dịch Huy nạp Thái Thanh (lúc này đã 26 tuổi) làm thiếp. Để thoát khỏi danh phận "hậu duệ tội nhân", Dịch Hội giả xưng bà là con gái Vinh phủ Hộ vệ Cố Văn Tinh (顧文星)[2], sau lại hối lộ quản sự Tông Nhân phủ để ghi tên Thái Thanh vào.
Sau khi vào phủ, Thái Thanh cùng Dịch Hội vô cùng ân ái, bên nhau không rời. Sau khi đích thứ tử Tái Khâm (載欽) và Đích Phúc tấn Hách Xá Lý thị qua đời, lời đồn đại về việc thiếp thất Thái Thanh gây hại cho Đích thất nổi lên rất nhiều. Người con trai còn lại của Đích Phúc tấn, tức Tái Quân (載鈞) được mẫu thân của Dịch Hội, tức Trắc Phúc tấn Vương Giai thị (王佳氏) của Vinh Khác Quận vương Miên Ức nuôi dưỡng, đối với Thái Thanh cực kỳ bất mãn. Sau đó, Thái Thanh độc chiếm ân sủng, tâm đầu ý hợp với Dịch Hội, cuộc sống cực kỳ thuận lợi. Vì Dịch Huy không tục huyền (cưới vợ kế), nên bà tự coi mình là kế thê của Dịch Huy, kết giao với các nữ sĩ khuê các, tham gia hội thơ. Lúc sinh thời, Dịch Hội từng vay nợ để xây dựng biệt thự hào hoa và mộ địa cho mình và Thái Thanh, mãi chưa trả hết. Sau khi Dịch Hội chết, Tái Quân tập tước, tạm dừng công trình này, Thái Thanh chỉ trích trưởng tử bất hiếu, liền cùng các con bị Tái Quân và mẹ của Dịch Huy đuổi ra khỏi phủ, phải thuê nhà mà ở, cuộc sống phú quý bỗng chốc trở nên thê lương.
Khi Thái Thanh 59 tuổi, Tái Quân qua đời mà không có con, lấy cháu nội của Thái Thanh là Phổ Mai (溥楣) quá kế cho Tái Quân để tập tước nhưng sau đó vì có tội mà bị cách tước, cuối cùng do một người cháu khác là Phổ Vân (溥芸) tập tước, Thái Thanh cũng được dời đến cư ngụ gần chùa Đại Phật rồi qua đời tại đây, hưởng thọ 79 tuổi.
Nghệ thuật
Thái Thanh đa phần dùng thơ để kể sự việc, dùng từ để ngụ tình, tác phẩm có ba đặc trưng chính:
- Về văn bút và ý nghĩa: Cầu sự thông tục dễ hiểu, văn bút giản khiết lưu loát, ít dùng điển tích; không gọt giũa chữ nghĩa nhưng giữa dòng chữ lộ ra hàm ý thâm trầm, cảm động lòng người.
- Về thần vị và cảnh giới: Từ nông đến sâu, từ ngoài vào trong, từ gần đến xa, đạt tới cảnh giới hòa quyện làm một giữa hình và thần, cảnh và tình.
- Về cấu trúc và linh khí: Không câu nệ sự tinh xảo của từng chữ, mà cầu cấu trúc và linh khí của toàn bài, khí thế liền mạch.
Thái Thanh và Dịch Hội đương thời nổi danh giỏi thi từ, tinh thông thư họa, tài mạo song toàn. Các tác phẩm xướng họa giữa vợ chồng họ có tình cảm sâu đậm, số lượng phong phú, là điều hiếm thấy trong lịch sử văn học Trung Quốc. Người đời có câu ca ngợi: "Mãn tộc từ nhân, nam trung Thành Dung Nhược (Nạp Lan Tính Đức), nữ trung Thái Thanh Xuân"[3] Thái Thanh sáng tác thơ từ qua năm triều đại Gia Khánh, Đạo Quang, Hàm Phong, Đồng Trị, Quang Tự, trải qua giai đoạn nhà Thanh từ thịnh sang suy. Tác phẩm của bà phản ánh đời sống xa hoa của quan lại Mãn tộc, những gian khổ thế gian, sự viên mãn của hôn nhân cho đến cảnh cô quả cuối đời, ghi lại sự thịnh suy biến thiên của gia đình Mãn tộc.
Các tác phẩm còn lại của bà bao gồm: Thiên Du Các tập, Đông Hải Ngư Ca, Hồng Lâu Mộng Ảnh,...
Hậu duệ
Thái Thanh có với Dịch Hội hai con trai và bốn con gái.
- Trưởng nữ (1824 – 1847), tự Mạnh Văn (孟文)[4], được phong Quận quân, gả cho Siêu Dũng Thân vương Xa Đăng Ba Táp Nhĩ (車登巴咱爾), hậu duệ Sách Lăng. Bị nghi ngờ là con riêng của Thái Thanh trước khi chính thức được nạp làm thiếp.
- Nhị nữ (1825 – ?), tự Trọng Văn (仲文), gả cho Nhất đẳng Tử Bác Xương (博昌). Cũng bị nghi ngờ là con riêng của Thái Thanh trước khi chính thức được nạp làm thiếp.
- Trưởng tử Tái Chiêu (載釗; 1825 – 1881), năm 1881 được truy phong làm Phụng ân Trấn quốc công. Vợ không rõ họ, tên Tú Đường (秀塘)[5], có chín con trai.
- Tam nữ Tái Thông (载通; 1826 ~ 1830 – ?), tự Thúc Văn (叔文), gả cho Thừa Ân công Sùng Đoan (崇端) – chất tằng tôn của Hiếu Thục Duệ Hoàng hậu.
- Tứ nữ Tái Đạo (载道; 1827 ~ 1831 – ?), tự Dĩ Văn (以文), gả cho cho Nhị đẳng Đôn Huệ bá Phú Sát Thừa Trung (富察承忠) - cháu trai của Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu.
- Nhị tử Tái Sơ (載初; 1832 – 1881), được phong làm Phụ quốc Tướng quân. Có hai con trai.
- Tam tử Tái Đồng (載同; 1834 – 1835), tự Đồng Chi (同之), chết yểu.