Võ Anh Tuấn
Võ Anh Tuấn | |
|---|---|
Chức vụ | |
Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền | |
| Nhiệm kỳ | 1990 – 1992 |
| Tiền nhiệm | Huỳnh Tiếng |
| Kế nhiệm | (người cuối cùng) |
| Vị trí | Nam Tư kiêm nhiệm Hy Lạp |
Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền | |
| Nhiệm kỳ | 1986 – 1990 |
| Tiền nhiệm | (chức vụ thành lập) |
| Vị trí | Zimbabwe kiêm nhiệm Zambia |
Vụ trưởng Vụ Các vấn đề chung | |
| Nhiệm kỳ | 1980 – 1986 |
| Tiền nhiệm | Nguyễn Thương |
| Kế nhiệm | Trương Quang Ngô |
Đại sứ đặc mệnh toàn quyền | |
| Nhiệm kỳ | 1977 – 1980 |
| Tiền nhiệm | (chức vụ được thành lập) |
| Kế nhiệm | Nguyễn Thương[1] |
| Vị trí | Thụy Sĩ kiêm Liên Hợp Quốc |
Đại sứ Cộng hòa miền Nam Việt Nam | |
| Nhiệm kỳ | – trước 1977 |
| Vị trí | Cuba |
Thông tin cá nhân | |
| Quốc tịch | |
| Sinh | 14 tháng 7, 1927 Chợ Lớn, Liên bang Đông Dương |
| Nghề nghiệp | Nhà ngoại giao |
| Đảng chính trị | 9 tháng 10, 1947 |
| Học vấn | MGIMO |
Võ Anh Tuấn (1927 – ) là một nhà ngoại giao, nhà hoạt động giáo dục người Việt Nam, ông được bổ nhiệm làm Đại sứ Việt Nam tại Thụy Sĩ kiêm Trưởng đoàn đại diện đầu tiên của Việt Nam tại Văn phòng Liên Hợp Quốc ở Genève[2][3] và Đại sứ tại các nước Cuba, Nam Tư kiêm nhiệm Hi Lạp; Zimbabwe kiêm nhiệm Zambia.[4][5]
Tiểu sử
Võ Anh Tuấn có tên thật là Nguyễn Văn An, sinh ngày 14 tháng 7 năm 1927[6] trong một gia đình nông dân nghèo tại làng Tân Tạo, tổng Long Hưng Thượng, Trung Quận, tỉnh Chợ Lớn (nay là phường Tân Tạo, Thành phố Hồ Chí Minh).[7][8]
Võ Anh Tuấn được học bổng tại trường Trường Pétrus Ký. Từ năm 1943, ông hoạt động trong đoàn SET - một tổ chức yêu nước của học sinh Pétrus Ký, và tham gia Thanh niên Tiền Phong tại Sài Gòn. thi đậu bằng Thành chung vào năm 1945.[7][8] Từ năm 1948, ông làm việc tại Sở Giáo dục Nam bộ và được bổ nhiệm làm Phó giám đốc Sở từ năm 1952. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, đi học tại Liên Xô và chuyển sang ngành ngoại giao.[7] Năm 1947, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.[6]
Sự nghiệp
Đầu những năm 1950, Võ Anh Tuấn được cử đi học tại Đại học Quốc gia Quan hệ Quốc tế Moskva (MGIMO).[9] Năm 1962, ông được cử làm Tham tán đầu tiên của Việt Nam tại nước Algérie.[8] Năm 1967, Trường Cán bộ ngoại giao - ngoại thương được tách thành Trường Đại học Ngoại giao do Thứ trưởng Hoàng Văn Lợi làm Hiệu trưởng, Võ Anh Tuấn làm hiệu phó từ năm 1968 đến 1969 khi trường dời về Phổ Yên, Thái Nguyên.[9]
Sau đó, ông được cử làm Đại biện lâm thời tại Campuchia và có mặt tại đây trong sự kiện Đại sứ quán Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Phnôm Pênh bị đốt phá năm 1970. Võ Anh Tuấn có thời gian làm Đại sứ của Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Cuba.[8]
Năm 1977, Võ Anh Tuấn được bổ nhiệm làm Đại sứ Việt Nam tại Thụy Sĩ kiêm Trưởng đoàn đại diện bên cạnh cơ quan Liên Hợp Quốc ở Genève, cơ quan này được khai trương vào tháng 5 năm 1979.[2][9] Năm 1980, hết nhiệm kỳ đại sứ, ông về nước làm Vụ trưởng Vụ Vấn đề chung (sau này là Vụ Các vấn đề chính trị) thay ông Nguyễn Thương. Năm 1986, Việt Nam mở Đại sứ quán tại Zimbabwe, Võ Anh Tuấn là Đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại đây.[9]
Năm 1990, ông là Đại sứ tại Nam Tư kiêm nhiệm Hy Lạp. Võ Anh Tuấn là Đại sứ cuối cùng của Việt Nam tại Nam Tư, tháng 9 năm 1992, ông có mặt trên Chuyến bay 850 về nước sau khi Nam Tư giải thể, chuyến bay này đã bị Lý Tống khống chế để rải truyền đơn. Có thể coi ông là nhà ngoại giao đầu tiên của Việt Nam là nạn nhân của không tặc.[10][8]
Từ năm 1993, Võ Anh Tuấn làm công tác ngoại giao nhân dân tại thành phố Hồ Chí Minh, với chức vụ cao nhất là Chủ tịch Ủy ban hòa bình của thanh phố.[8][6] Ông nghỉ hưu năm 1988 và tiếp tục làm công tác ngoại giao nhân dân và khuyến học - từ thiện.[8][6]
Ấn bản
- Phong trào Không liên kết (1999)
- Những gì chưa phai mờ trong ký ức (2002)
- Hệ thống Liên hợp quốc (2004)
- Thanh thản một cuộc đời (2014)
- Đời ngoại giao (2016)
- Lễ tân ngoại giao thực hành (2018)
- Mặt trận ngoại giao miền Nam Việt Nam trong chống Mỹ, cứu nước (2017)
- Nhà ngoại giao kể chuyện (2019)[11]
- Một lòng theo Bác (2020)
- Toàn cầu hóa - Hợp tác và đấu tranh (2022)[12]
Xem thêm
- Đại sứ quán Việt Nam tại Cuba
- Đại sứ quán Việt Nam tại Thụy Sỹ
- Đại sứ quán Việt Nam tại Hungary
- Đại sứ quán Việt Nam tại Nam Phi
Tham khảo
- ^ Đại diện thường trực tại Văn phòng Liên Hợp Quốc
- ^ a b Nghị quyết số 140 NQ/TVQH (1977)
- ^ Nguyễn Kim Nga; Cù Thúy Lan; Hoàng Thu Quỳnh (2015). Bộ Ngoại giao: 70 năm xây dựng và phát triển (1945-2015). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. tr. 241.
- ^ Phạm Vũ (ngày 2 tháng 9 năm 2019). "Cựu đại sứ Võ Anh Tuấn: Độc lập phải đặt trên nền cơ bản là tự chủ kinh tế". Tuổi Trẻ Online. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2026.
- ^ Yến Hoa (ngày 17 tháng 11 năm 2021). "Trưởng Ban Tuyên giáo Thành uỷ TP.HCM thăm, chúc mừng nhà giáo tiêu biểu TP.HCM". Tạp chí Giáo dục Thành Phố Hồ Chí Minh. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2026.
- ^ a b c d Trâm Anh; Nguyệt Phương; Anh Sa. "[Video] Trao Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng cho nhà ngoại giao Võ Anh Tuấn". Trang tin Điện tử Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2026.
- ^ a b c "Trao tặng Huy hiệu 75 năm tuổi đảng cho Cựu Đại sứ Võ Anh Tuấn". Trang tin Điện tử Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh. ngày 6 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2026.
- ^ a b c d e f g "Thanh thản một cuộc đời". Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật. ngày 20 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2026.
- ^ a b c d Nguyễn Kim Nga; Cù Thúy Lan; Hoàng Thu Quỳnh (2015). Bộ Ngoại giao: 70 năm xây dựng và phát triển (1945-2015). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. tr. 129, 176, 236, 241, 421.
- ^ My Lăng (ngày 30 tháng 10 năm 2017). "Không tặc ở Việt Nam: Đối mặt với Lý Tống". Tuổi Trẻ Online. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2026.
- ^ "Nhà ngoại giao kể chuyện (Tác giả: Võ Anh Tuấn)". Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2026.
- ^ Phạm Vũ (ngày 29 tháng 4 năm 2023). "Những cuộc đời trường thọ yên vui - Kỳ cuối: Chữ An - Tâm ở tuổi 97 của cựu đại sứ". Tuổi Trẻ Online. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2026.
Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).