Yggdrasil
Yggdrasil (từ Tiếng Bắc Âu cổ: Yggdrasill) là một cây thiêng khổng lồ và trung tâm trong vũ trụ học Bắc Âu. Xung quanh nó tồn tại tất cả mọi thứ khác, bao gồm cả Chín Thế giới.
Cây Yggdrasil được nhắc đến trong "Thơ ca Edda" được biên soạn vào thế kỷ 13 từ các nguồn truyền thống trước đó, và trong "Văn xuôi Edda" được Snorri Sturluson biên soạn vào thế kỷ 13. Trong cả hai nguồn, Yggdrasil là một cây tần bì khổng lồ (Fraxinus excelsior) nằm ở trung tâm vũ trụ và được coi là rất thiêng liêng. Các Æsir đến Yggdrasil hàng ngày để họp mặt tại hội nghị cai trị truyền thống của họ. Các cành của Yggdrasil vươn xa lên trời, và cây được nâng đỡ bởi ba rễ vươn xa đến những nơi khác; một đến giếng Urðarbrunnr trên trời, một đến suối Hvergelmir, và một đến giếng Mímisbrunnr. Nhiều sinh vật sinh sống bên trong Yggdrasil, bao gồm rồng Níðhöggr, sóc Ratatoskr, diều hâu Veðrfölnir, và hươu Dáinn, Dvalinn, Duneyrr và Duraþrór.
Các học giả thường coi Hoddmímis holt, Mímameiðr, và Læraðr là những tên gọi khác của cây này. Cây này là một ví dụ về cây và khu rừng thiêng liêng trong tín ngưỡng và thần thoại Germanic, và các học giả trong lĩnh vực ngữ văn Germanic từ lâu đã thảo luận về ý nghĩa của nó.
Nguồn gốc tên gọi
Ý nghĩa được chấp nhận rộng rãi của từ tiếng Na Uy cổ Yggdrasill là "ngựa của Odin", có nghĩa là "giá treo cổ". Cách giải thích này xuất phát từ việc "drasill" có nghĩa là "ngựa" và "Ygg(r)" là một trong nhiều tên gọi của Odin. Bài thơ "Poetic Edda" "Hávamál" mô tả cách Odin hy sinh bản thân bằng cách treo cổ trên một cái cây, biến cái cây này thành giá treo cổ của Odin. Cái cây này có thể là Yggdrasil. "Ngựa của người bị treo cổ" là một cách nói ẩn dụ cho giá treo cổ và do đó, giá treo cổ của Odin có thể đã phát triển thành cụm từ "ngựa của Odin", sau đó trở thành tên của cái cây.[1]
Tuy nhiên, các ý kiến học thuật về ý nghĩa chính xác của tên gọi Yggdrasill vẫn còn khác nhau, đặc biệt là về vấn đề liệu Yggdrasill có phải là tên của chính cây đó hay chỉ có thuật ngữ đầy đủ askr Yggdrasil (trong đó tiếng Na Uy cổ askr có nghĩa là "cây tần bì") mới đề cập cụ thể đến cây đó. Theo cách giải thích này, askr Yggdrasils sẽ có nghĩa là cây thế giới mà "con ngựa [ngựa của Odin] của vị thần tối cao [Odin] bị trói trên đó". Cả hai cách giải thích từ nguyên này đều dựa trên một từ *Yggsdrasill được giả định nhưng chưa được chứng thực.[1]
Một cách giải thích thứ ba, được trình bày bởi F. Detter, cho rằng tên Yggdrasill đề cập đến từ yggr ("khủng bố"), nhưng không liên quan đến tên Odinic, và do đó Yggdrasill sẽ có nghĩa là "cây khủng bố, giá treo cổ". F. R. Schröder đã đề xuất một từ nguyên thứ tư theo đó yggdrasill có nghĩa là "cột cây tùng", bắt nguồn từ yggia từ *igwja (có nghĩa là "cây tùng"), và drasill từ *dher- (có nghĩa là "cột chống đỡ").[1]
Anatoly Liberman lập luận rằng cái tên "Yggdrasill" ban đầu dùng để chỉ con ngựa thật của Odin (sau này chủ yếu được biết đến với tên Sleipnir). Ông giải thích việc thiếu chữ "s" bằng cách cho rằng từ ghép ban đầu không có nghĩa là "ngựa của Odin" mà là "ngựa của Odin". Con ngựa chia sẻ bản chất của vị thần. Điều này dẫn đến lối nói ẩn dụ "askr Yggdrasills", nghĩa đen là: "cây tần bì của ngựa Odin", nhưng theo quy ước của thơ ca Bắc Âu cổ: "chiến binh của ngựa Odin", tức là "Odin". "Yggdrasill" không còn được sử dụng làm tên của con ngựa của Odin, khiến công thức "askr Yggdrasills" trở nên khó hiểu. Nó được diễn giải lại để chỉ cây thế giới, mà Liberman tin rằng người Bắc Âu đã có một số khái niệm về nó trước khi cái tên "Yggdrasill" được gắn liền với nó. Cuối cùng, cụm từ "askr Yggdrasills" được đơn giản hóa thành "askr Yggdrasill", tức là từ "cây tần bì của Yggdrasill" thành "cây tần bì (được gọi là) Yggdrasill".[2]
Thần thoại về kiến tạo thế giới
Nguồn gốc của Yggdrasil đến giờ vẫn còn là bí ẩn. Trong bài thơ Hávamál, thần Odin đề cập đến việc ngài từng treo cổ trên Cây Thế Giới, nhưng chẳng ai biết bộ rễ nó mọc lên từ đâu. Khổ thơ thứ hai của bài Völuspá nói rằng, tự thuở sơ khai, Yggdrasil đã bén rễ dưới mặt đất.
Trong thần thoại Bắc Âu tồn tại một cái vực thẳm (tương tự như Chaos trong thần thoại Hy Lạp) vô hạn được gọi là Ginnungagap. Ginnungagap tồn tại giữa hai khu vực trái ngược nhau, ở phương Bắc thì lạnh lẽo bao phủ có tên gọi là Niflheim hay vùng đất băng giá. Từ Niffheim có một cái giếng được gọi là Hvergelmir từ đó chảy ra 11 dòng sông là Svöl, Gunnthrá, Fjörn, Fimbulthul, Slid, Hrid, Sylgr, Ylgr, Vid, Leiptr và Gjoll (dòng sông chảy gần nhất với Hel và có cây cầu Gjallarbru bắc qua), các con sông ấy được gọi chung là Élivágar (sông băng). Còn ở phương Nam lại là vùng lúc nào cũng rực lửa gọi là Muspellsheim hay là vùng đất tiêu điều được cai trị bởi tộc người khổng lồ Surtr. Khi ngọn lửa của Múspellsheim làm tan chảy băng giá của Niflheim, dòng băng tan ấy chảy vào Ginnunga-gap hòa vào Élivágar tạo nên sinh vật đầu tiên của vũ trụ: người khổng lồ Ymir hay Aurgelmir. Từ mồ hôi dưới nách của Ymir lại sản sinh ra đôi nam nữ khổng lồ và từ đó sinh ra loài khổng lồ băng giá. Sương muối tiếp tục tan chảy tạo nên con bò khổng lồ Audhumla. Ymir uống sữa bò để tồn tại và phát triển nòi giống. Audhumla tiếp tục ăn bằng cách liếm tảng băng muối. Một hôm, khi con bò Auðhumla đang liếm băng thì lộ ra mái tóc, ngày thứ hai lộ ra cái đầu còn ngày thứ ba sinh ra toàn vẹn cơ thể. Từ đó lại sản sinh ra thần Búri. Búri sinh ra người con trai tên là Borr. Borr kết hôn cùng với Bestla - con gái người khổng lồ Bolthorn và sinh ra ba người con là Odin, Vili và Ve.
Càng ngày Ymir càng to lớn và độc ác nên ba anh em Odin, Vili và Ve quyết định giết Ymir. Dòng máu chảy ra từ Ymir nhấn chìm bọn khồng lồ chỉ trừ vợ chồng Bergelmir thoát nạn nhờ con thuyền. Con cháu của Bergelmir ngày càng thù ghét các vị thần Aesir. Người khổng lồ hay người Jotuns hay được biết dưới cái tên gọi: Thursar, Hrímthursar, Risar, Bergrisar hay Troll đều là những kẻ độc ác.
Các vị thần bắt đầu xây dựng thế giới: máu của Ymir tạo thành biển và hồ, sọ tạo thành vòm trời (được bốn người lùn Nordri, Sudri, Austri và Vestri chống giữ ở bốn phương), óc trở thành mây, xương tạo thành núi, những con giòi trong cái xác chết tạo thành người lùn (kẻ chuyên sống dưới mặt đất có quan hệ mật thiết với người khổng lồ). Thần Odin bắt đứa con trai của Bergelmir biến nó thành một con đại bàng và đặt nó tại nơi tận cùng của biển cả. Đôi cánh vỗ của con đại bàng này tạo ra gió và các con sóng biển.
Sau khi tạo xong cảnh quan thì ba vị thần tạo ra con người đầu tiên từ những cây gỗ trên bãi biển: người nam Askr (từ cây thân bì) và người nữ Embla (từ thân cây du). Odin ban cho loài người cho linh hồn và trí thông minh, Vili cho cảm xúc, còn Ve cho giác quan và ngoại hình. Loài người sống ở vùng đất giữa đại nguyên mênh mông gọi là Midgard (trung địa). Tộc Jotuns thường xuyên quấy phá con người nên các vị thần dựng những ngọn núi khổng lồ từ lông mày của Ymir để ngăn cách giống khổng lồ với loài người.
Không dừng tại đó, ba người con của Borr còn tạo ra mặt trời, mặt trăng và các vì sao từ tia lửa của Múspellsheimr. Họ đặt mặt trời và mặt trăng lên hai cỗ xe riêng biệt. Cỗ xe mặt trời được hai con ngựa là Avrak và Alvsin kéo, phía trước mặt trời là tấm khiên Svalin (có nghĩa là khiên làm mát). Những đứa con của Mundifari đã đặt tên cho con gái là Sól (Sun) và con trai là Máni (Moon). Để trừng phạt sự bất kính ấy các Æsir đã bắt Sól lái cỗ xe mặt trời còn Máni cưỡi cỗ xe mặt trăng. Một hôm Máni bắt được hai đứa trẻ mặt đất đang trên đường mang nước giếng Byrgir trở về cùng với bình đất nung và cây sào của chúng. Tên của chúng là Bil và Hjuki, con của Vidfinn. Kể từ đó chúng luôn đi theo Máni trên suốt chuyến xe của chàng. Một mụ khổng lồ đã sinh ra một bầy ma sói trong đó có hai con tên là Skoll và Hati không ngừng truy đuổi anh em Sól và Máni hòng ăn thịt họ. Bởi thế anh em luôn hối hả trên bầu trời. Khi con sói đến gần mặt trăng thì nó gây nên hiện tượng nguyệt thực (tương tự như gấu ăn trăng).
Chín thế giới trong thần thoại Bắc Âu.
Ở trung tâm vũ trụ là cây tần bì Yggdrasil gắn kết Chín Thế Giới, gồm có Níflheimr, Múspellsheimr, Vanaheimr, Ásgarðr, Miðgarðr, Áflheimr, Svartálfaheimr, Jotunheim và Hel. Asgard và Midgard được nối với nhau bởi cầu vồng lửa Bifröst.
Múspellsheimr
Trong phần Gylfaginning thuộc Edda Văn xuôi, Muspelheim, là thế giới đầu tiên có mặt, nằm phía năm vực thẳm Ginnungagap. Nơi đây lúc nào cũng rực lửa, nóng bức và chói sáng. Khi Ragnarok đến, Surtur làm gãy cây cầu Biforst và dùng lửa thiêu cháy thế giới. Ông và thần Freyr sẽ tiêu diệt lẫn nhau. Màu sắc tượng trưng cho thế giới này là đỏ.
Níflheimr
Niflheim hay Niflhel là thế giới lạnh giá tối tăm đối lập với Muspelheim, nằm phía bắc vực thẳm. Trong Gylfaginning, thần Odin cho biết ở vùng đất này có cái giếng Hvergelmir, khởi nguồn của những dòng sông băng Élivágar. Sông Gjöll ngăn cách Hel với phần còn lại của vũ trụ, với chiếc cầu Gjallarbrú bắc ngang sông. Một trong ba rễ Cây Thế Giới vươn xuống Hvergelmir để lấy nước. Bên cạnh giếng là Náströnd (bãi tử thi), nơi sinh sống của rồng Niðhöggr và con cháu.
Vanaheim
Vanaheim là một trong ba thế giới trên thiên đường, trong tiếng Bắc Âu cổ là "vùng đất của các vị thần Vanir". Vanir còn được gọi là Vindheimr (vùng đất của gió). Đây là nơi trú ngụ của các vị thần Vanir - thần bảo trợ cho sự phì nhiêu, giàu có, trí tuệ và tài tiên tri. Nơi này yên bình và sung túc. Thần Njörðr sẽ trở về sau Ragnarök bắt đầu.
Vanaheim tượng trưng cho thế giới của nước với biểu tượng là những cơn gió nhẹ mang lại sự sống từ phía Tây. Các thần Vanaheim còn được gọi là thần chết, do đó Vanaheimr - thủy giới nằm ở phái Tây có thể được liên tưởng tới chuyến viễn du cuối cùng. Màu sắc biểu tượng cho vùng đất này là xanh lục, xanh lam sẫm, nâu và vàng bóng pha sắc đỏ.
Chương I của Yngling Saga có nhắc đến Vananheimr nằm ở phía Đông sông Don nước Nga. Chương XV của cuốn sách này còn nhắc đến việc nhà vua Sveigðir đã kết hôn với người phụ nữ ở Vanaland, và họ có người con trai là Vanalandi (người từ vùng đất của Vanir).
Asgard
Xem thêm: Asgard.
Helheim
Xem thêm: Helheim
Svartálfaheimr
Nidavellir
Xem thêm: Nidavellir
Álfheim
Jotunheim
Yggdrasil trong sử thi Edda
Trong Edda, Yggdrasil được miêu tả là có ba rễ: một qua Asgard, một qua Jötunheim và một qua Hel. Phía dưới rễ qua Asgard là giếng nước Urd (Urðabrunnr - còn gọi là "Giếng số phận"). Ở đó có ba nữ thần số mệnh (còn gọi là các Norn), những người không chịu ảnh hưởng của bất kỳ ai kể cả các thần linh. Những nữ thần này hàng ngày lấy nước từ giếng Urd để tưới cho Yggdrasil giữ nó mãi xanh tươi. Dưới rễ qua Jötunheim là dòng suối (có nơi cho là giếng nước) của Mímir (Mímisbrunnr - còn gọi là "Suối, hay giếng, tri thức") và dưới rễ qua Hel là giếng Hvergelmir (có nghĩa là "cái chảo sôi").
Một con gà trống khổng lồ (hoặc một con chim ưng) tên là Vidofnir đậu trên ngọn của Yggdrasil. Con rồng Níðhöggr gặm phần rễ đi qua Niflheim của nó. Con sóc Ratatosk di chuyển liên tục giữa Vidofnir và Nídhoggr để kể lại những lời xúc phạm lẫn nhau của chúng. Ngoài ra còn có bốn con hươu gặm vỏ của Yggdrasil tên là Duneyrr, Durathror, Dvalin và Dainn.
Cái tên Yggdrasil nếu được hiểu là "con ngựa của Odin" được cho là gắn với sự hy sinh của Odin được kể lại trong phần Hávamál của Edda bằng thơ (dù cái cây mà Odin tự treo mình không được nói rõ là Yggdrasil).
Ảnh hưởng hiện đại
Thomas Carlyle đã chọn "Igdrasil" làm biểu tượng yêu thích; nó xuất hiện trong cả hai tác phẩm "Về các anh hùng, sự tôn thờ anh hùng và chủ nghĩa anh hùng trong lịch sử" (1841) và ""Quá khứ và hiện tại" (1843). John Ruskin đã nhắc đến nó trong phần kết luận của "Luật pháp của Fésole" (1877–1878). Một bản thảo chưa được xuất bản của Carlyle có tựa đề "Igdrasil. Từ thần thoại Bắc Âu"[3] đã truyền cảm hứng cho biên tập viên của "Tạp chí Hội đọc sách Ruskin" thêm "Igdrasil" vào tên tạp chí vào năm 1890.[4]
Các tác phẩm nghệ thuật hiện đại miêu tả Yggdrasil bao gồm bức tranh "Die Nornen" (1888) của K. Ehrenberg; bức bích họa "Yggdrasil" (1933) của Axel Revold, đặt tại hội trường thư viện Đại học Oslo ở Oslo, Na Uy; tác phẩm điêu khắc gỗ "Hjortene beiter i løvet på Yggdrasil asken" (1938) trên Tòa thị chính Oslo của Dagfin Werenskiold; và bức phù điêu bằng đồng trên cửa Bảo tàng Cổ vật Quốc gia Thụy Điển (khoảng năm 1950) của B. Marklund ở Stockholm, Thụy Điển.
Các bài thơ nhắc đến Yggdrasil bao gồm "Vårdträdet" của Viktor Rydberg và "Yggdrasill" của J. Linke.[5]
Trong loạt tiểu thuyết "Overlord" của Nhật Bản do Kugane Maruyama viết, "Yggdrasil" là tên của một trò chơi nhập vai trực tuyến nhiều người chơi (MMORPG) nổi tiếng, nơi nhân vật chính bị mắc kẹt sau khi trò chơi bị đóng cửa.[6]
Yggdrasil là một mô típ phổ biến trong các tác phẩm của Vũ trụ Điện ảnh Marvel, xuất hiện trong "Thor", "Captain America: The First Avenger", "Thor: The Dark World" và "Loki".[7][8]
Xem thêm
- Axis mundi, khái niệm thần thoại tượng trưng cho "sự kết nối giữa cõi cao hơn và cõi thấp hơn"
- Yggdrasil Linux/GNU/X
Ghi chú
- ^ a ă â Simek 2007, tr. 375.
- ^ Liberman 2016.
- ^ Carlyle, Thomas (2009). "Appendix: Igdrasil. From the Norse". Carlyle Studies Annual (25): 59–60. ISSN 1074-2670. JSTOR 26593166.
- ^ Nixon, Jude V. (2009). "Thomas Carlyle's Igdrasil". Carlyle Studies Annual (25). Saint Joseph's University Press: 49–58. ISSN 1074-2670. JSTOR 26593165.
- ^ Simek 2007, tr. 376.
- ^ "The Summer 2015 Anime Preview Guide – Overlord". Anime News Network. ngày 7 tháng 7 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2019.
- ^ "Yggdrasil, The World Tree". Zimbio. ngày 12 tháng 8 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2023.
- ^ Lacson, Therese (ngày 10 tháng 11 năm 2023). "'Loki' Season 2 Finale Recap: A Glorious Purpose at the End of Time". Collider. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2023.
Tham khảo
- Davidson, Hilda Ellis (1993). The Lost Beliefs of Northern Europe. Routledge. ISBN 0-203-40850-0.
- Dowden, Ken (2000). European Paganism: the Realities of Cult from Antiquity to the Middle Ages. Routledge. ISBN 0-415-12034-9.
- Dronke, Ursula (1997). The Poetic Edda: Volume II: Mythological Poems. Oxford University Press. ISBN 0-19-811181-9.
- Larrington, Carolyne (Trans.) (1999). The Poetic Edda. Oxford World's Classics. ISBN 0-19-283946-2.
- Lindow, John (2001). Norse Mythology: A Guide to the Gods, Heroes, Rituals, and Beliefs. Oxford University Press. ISBN 0-19-515382-0.
- Faulkes, Anthony (Trans.) (1995). Edda. Everyman. ISBN 0-4608-7616-3.
- * Liberman, Anatoly (2016). In Prayer and Laughter: Essays on Medieval Scandinavian and Germanic Mythology, Literature, and Culture. Paleograph Press. ISBN 978-5895260272.
- Schön, Ebbe (2004). Asa-Tors hammare, Gudar och Jättar i tro och Tradition. Fält & Hässler, Värnamo. ISBN 91-89660-41-2.
- Schröder, Franz Rolf (1931). "Germanische Schöpfungsmythen". Germanisch-Romanische Monatsschrift. 19: 1–26.
- Simek, Rudolf (2007). Dictionary of Northern Mythology. Translated by Angela Hall. D.S. Brewer. ISBN 978-0-85991-513-7.