Cộng hòa Dân chủ Congo
Cộng hòa Dân chủ Congo (tiếng Pháp: République démocratique du Congo, RDC, phát âm [ʁepyblik demɔkʁatik dy kɔŋɡo]) là một quốc gia ở Trung Phi. Cộng hòa Dân chủ Congo còn được gọi là Congo-Leopoldville, hay Congo-Kinshasa vì thủ đô là Kinshasa, hay Zaire (tên chính thức từ năm 1971 đến năm 1997).
CHDC Congo là quốc gia lớn thứ hai ở châu Phi và lớn thứ 11 trên thế giới. Với dân số khoảng 112 triệu người, CHDC Congo là quốc gia đông dân thứ hai ở châu Phi và là quốc gia nói tiếng Pháp trên danh nghĩa đông dân nhất trên thế giới. Tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức và được sử dụng rộng rãi nhất, mặc dù có hơn 200 ngôn ngữ bản địa. Thủ đô và thành phố lớn nhất là Kinshasa. CHDC Congo giáp giới với Cộng hòa Congo, vùng đất tách rời Cabinda của Angola và Nam Đại Tây Dương ở phía tây; Cộng hòa Trung Phi và Nam Sudan ở phía bắc; Uganda, Rwanda, Burundi và Tanzania (qua Hồ Tanganyika) ở phía đông; và Zambia và Angola ở phía nam. Tập trung ở lưu vực sông Congo, phần lớn địa hình của đất nước được bao phủ bởi rừng mưa rậm rạp và có nhiều con sông chảy qua, trong khi phía đông và đông nam là địa hình đồi núi.
Lãnh thổ Congo lần đầu tiên có người sinh sống ở Trung Phi vào khoảng 90.000 năm trước và được định cư trong vùng mở rộng Bantu vào khoảng 2.000 đến 3.000 năm trước.[1] Ở phía tây, Vương quốc Kongo cai trị quanh cửa sông Congo từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 19. Ở trung tâm và phía đông, các đế chế Mwene Muji, Luba và Lunda cai trị từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19. Những vương quốc này đã bị người châu Âu phá vỡ trong quá trình thực dân hóa lưu vực Congo. Vua Leopold II của Bỉ đã giành được quyền đối với lãnh thổ Congo vào năm 1885 và gọi nó là Nhà nước Tự do Congo. Năm 1908, Leopold nhượng lại lãnh thổ này sau áp lực quốc tế để đáp trả lại những hành động tàn bạo lan rộng và nó đã trở thành thuộc địa của Bỉ. Congo giành được độc lập từ Bỉ vào năm 1960 và ngay lập tức phải đối mặt với một loạt các phong trào ly khai, vụ ám sát Thủ tướng Patrice Lumumba và việc Mobutu Sese Seko lên nắm quyền vào năm 1965. Mobutu đổi tên đất nước thành Zaire vào năm 1971 và áp đặt chế độ độc tài cá nhân.[2]
Sự bất ổn do dòng người tị nạn từ Nội chiến Rwanda tràn vào miền đông đất nước đã dẫn đến Chiến tranh Congo lần thứ nhất từ năm 1996 đến năm 1997, kết thúc bằng việc lật đổ Mobutu.[3] Tên của nó đã được đổi lại thành Cộng hòa Dân chủ Congo và nó đã phải đối mặt với Chiến tranh Congo lần thứ hai từ năm 1998 đến năm 2003, dẫn đến cái chết của 5,4 triệu người và vụ ám sát Tổng thống Laurent-Désiré Kabila.[4][5][6][7] Cuộc chiến, được mô tả rộng rãi là cuộc xung đột chết chóc nhất kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai,[8] kết thúc dưới thời Tổng thống Joseph Kabila, người đã khôi phục lại sự ổn định tương đối cho phần lớn đất nước, mặc dù giao tranh vẫn tiếp tục ở mức độ thấp hơn, chủ yếu ở phía đông. Nhân quyền vẫn còn kém và thường xuyên xảy ra các vụ lạm dụng, chẳng hạn như mất tích cưỡng bức, tra tấn, giam giữ tùy tiện và hạn chế các quyền tự do dân sự.[9] Kabila từ chức vào năm 2019, đánh dấu cuộc chuyển giao quyền lực hòa bình đầu tiên của đất nước kể từ khi giành độc lập, sau khi Félix Tshisekedi giành chiến thắng trong cuộc tổng tuyển cử đầy tranh cãi năm 2018.[10] Kể từ đầu những năm 2000, đã có hơn 100 nhóm vũ trang hoạt động tại CHDC Congo, chủ yếu tập trung ở vùng Kivu. Một trong những thành phố lớn nhất của nước này, Goma, đã bị phiến quân Phong trào 23 tháng 3 (M23) chiếm đóng trong thời gian ngắn vào năm 2012 và một lần nữa vào năm 2025. Cuộc nổi dậy của M23 leo thang vào đầu năm 2025 sau khi chiếm được nhiều thành phố ở phía đông, với sự hỗ trợ quân sự từ Rwanda, gây ra xung đột giữa hai nước.[11][12][13] Một thỏa thuận hòa bình do Mỹ làm trung gian đã được Rwanda và CHDC Congo ký kết vào ngày 27 tháng 6 năm 2025.[14]
Mặc dù cực kỳ giàu tài nguyên thiên nhiên, CHDC Congo vẫn là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới, chịu ảnh hưởng của bất ổn chính trị, thiếu cơ sở hạ tầng, tham nhũng tràn lan, hàng thế kỷ khai thác và bóc lột thương mại lẫn thuộc địa, tiếp theo là hơn 60 năm độc lập, với rất ít sự phát triển rộng rãi.[15][16] Quốc gia này là một ví dụ điển hình của "lời nguyền tài nguyên".[17] Bên cạnh thủ đô Kinshasa, hai thành phố lớn tiếp theo, Lubumbashi và Mbuji-Mayi, đều là các cộng đồng khai thác mỏ. Các mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của CHDC Congo là khoáng sản thô và kim loại, chiếm 80% kim ngạch xuất khẩu năm 2023, với Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất.[18][19] Năm 2023, mức độ phát triển con người của CHDC Congo được xếp hạng 171/193 quốc gia theo Chỉ số phát triển con người. Liên Hợp Quốc xếp hạng quốc gia này là một trong những nước kém phát triển nhất.[20] Bản mẫu:As of, sau hai thập kỷ nội chiến và xung đột nội bộ liên tục, khoảng một triệu người tị nạn Congo vẫn đang sống ở các nước láng giềng.[21] Hai triệu trẻ em có nguy cơ chết đói và giao tranh khiến 7,3 triệu người phải di dời.[22][23] CHDC Congo là thành viên của Liên Hợp Quốc, Phong trào không liên kết, Liên minh châu Phi, COMESA, Cộng đồng Phát triển Nam Phi, Cộng đồng Pháp ngữ và Cộng đồng Kinh tế các Quốc gia Trung Phi.
Tên gọi
Lịch sử
Vùng lãnh thổ thuộc Cộng hòa Dân chủ Congo là nơi định cư của hai nhóm sắc tộc Bantu và Pygmy, bị phân chia thành những địa hạt tù trưởng và các vương quốc. Lịch sử vùng này được đánh dấu bởi sự ra đời của ba vương quốc lớn. Vương quốc Kongo được thành lập trên phần lãnh thổ phía Bắc Angola hiện nay, bên vùng cửa sông Congo từ thế kỷ 14. Vương quốc của người Luba (hoặc Baluba) được thành lập từ thế kỷ 16 trong vùng cao nguyên Katanga. Vương quốc Lunda gồm một phần của vùng Kasai, được thành lập vào thế kỷ 7. Các vương quốc này xâu xé nhau bởi các cuộc tranh chấp trong vùng và bị tàn phá do chế độ buôn bán nô lệ.
Nhà nước Congo tự do (1870 – 1908)
Sau các cuộc thám hiểm của Henry Stanley tiến sâu vào lãnh thổ bên trong bằng đường sông Congo (1874-1884), Nhà nước Tự do Congo được thành lập (Hội nghị Berlin, 1885) và thuộc quyền sở hữu cá nhân của vua Bỉ, Léopold II, ông ta đã thâu tóm một gia tài khổng lồ từ ngà voi và cao su do bóc lột sức lao động của nô lệ. Khoảng 10 triệu người đã chết do lao động cưỡng bức, đói khát và bị giết chết trong suốt thời kì cai trị thuộc địa của Leopold.
Thuộc Bỉ (1908 – 1960)
Từ năm 1908, Congo trở thành thuộc địa của Bỉ. Bỉ đã xây dựng và phát triển mạng lưới đường bộ và đường sắt tại thuộc địa này để chuyên chở các sản phẩm khai thác từ hầm mỏ và các đồn điền về chính quốc. Cư dân thành thị và công nhân phát triển mạnh làm xuất hiện các phong trào dân tộc chủ nghĩa.
Chính trị khủng hoảng (1960 – 1965)
Năm 1960, Congo giành được độc lập. Vùng Katanga, dưới sự lãnh đạo của Moise Tschombé, tuyên bố li khai. Đồng thời, chính quyền trung ương lại chia thành những người ủng hộ thể chế liên bang của Tổng thống Kasanubu và những người ủng hộ chế độ hợp nhất của Thủ tướng Lumumba. Năm 1961, Thủ tướng Lumumba bị ám sát, nội chiến vẫn tiếp tục kéo dài. Liên Hợp Quốc gởi quân đội đến can thiệp (1961-1963) và lực lượng lính dù của Bỉ được phái đến để tiêu diệt quân phiến loạn ủng hộ Thủ tướng Lumumba (1964).
Năm 1965, Tướng Mobutu lên nắm quyền sau cuộc đảo chính, mở ra một thời kì tương đối ổn định. Cộng hòa Congo, còn gọi Congo-Kinshasa được đổi tên thành Zaire năm 1971.
Thời kỳ Zaire (1971 – 1997)
Năm 1977, Tổng thống Mobutu kêu gọi sự giúp đỡ của Pháp khi phải đối mặt với những nguy cơ đòi li khai ngày càng phát triển mạnh.
Từ năm 1990, làn sóng phản đối ngày càng tăng cao buộc Tổng thống Mobutu phải nhượng bộ. Năm 1994, khoảng một triệu người Hutu và Rwanda sang tị nạn ở miền đông Congo, làm cho cuộc khủng hoảng chính trị thêm trầm trọng. Năm 1997, cuộc đấu tranh chống lại sự kiểm soát của quyền lực trung ương đã dẫn dến việc ra đi của Tổng thống Mobutu.
Xung đột và sự chuyển tiếp (1996 – nay)
Laurent-Désiré Kabila lên cầm quyền và tuyên bố đổi tên nước thành Cộng hòa Dân chủ Congo. Năm 1998, các lực lượng liên minh cũ của Tổng thống L. D. Kabila nhờ sự ủng hộ của Rwanda và Uganda, đã nổi dậy chống lại chính quyền trung ương, đẩy đất nước vào cuộc chiến tranh mới. Tháng 1 năm 2001. Tổng thống Kabila bị ám sát và con trai là Joseph Kabila lãnh đạo đất nước.
Tổng thống Kevin tiến hành các cuộc đàm phán nhằm - chấm dứt cuộc nội chiến. Tháng 4 năm 2002, chính phủ đồng ý một thỏa thuận chia sẻ quyền lực với quân nổi dậy do Uganda hậu thuẫn. Tháng 7 năm 2002, Tổng thống Cộng hòa Dân chủ Congo và Tổng thống Rwanda cùng ký hiệp ước: Rwanda hứa rút 35.000 quân khỏi biên giới phía Đông Cộng hòa Dân chủ Congo, còn Cộng hòa Dân chủ Congo sẽ giải trừ vũ khí của hàng ngàn dân quân Hutu đang đóng trên lãnh thổ Cộng hòa Dân chủ Congo và đe doạ đến an ninh Rwanda - nhiều người trong số họ đã ủng hộ hoặc tham gia cuộc diệt chủng người Tutsi Rwanda năm 1994. Tháng 9 năm 2002, Uganda và Cộng hòa Dân chủ Congo ký hiệp định hòa bình.
Một Chính phủ chuyển tiếp đã ra đời vào tháng 7 năm 2003, đứng đầu là Tổng thống Joseph Kabila và 4 phó Tổng thống là các đại diện của Chính phủ trước đây, lực lượng nổi dậy và phe đối lập. Chính phủ chuyển tiếp đã tổ chức thành công cuộc trưng cầu dân ý về Hiến pháp tháng 12 năm 2005. Trong cuộc bầu cử Tổng thống vào tháng 8 năm 2006, ông Kabila đã tái đắc cử và tiếp tục điều hành đất nước. Theo hiến pháp nước này, Thủ tướng do Tổng thống chỉ định. Cuộc bầu cử tiếp theo sẽ được dự kiến tổ chức vào tháng 11 năm 2011.
Từ tháng 3 năm 2012, nhóm phiến quân nổi loạn, được gọi là M23, đã nổi dậy buộc 470.000 người ở Bắc Kivu, tỉnh giàu khoáng sản ở miền Đông Cộng hoà Dân chủ Congo và nằm sát biên giới chung với Uganda và Rwanda, phải đi lánh nạn. Đầu tháng bảy vừa qua, M23 tuyên bố đã giành quyền kiểm soát nhiều thị trấn, trong đó có vị trí chiến lược Rutshuru tại tỉnh Bắc Kivu. M23, nhóm nổi loạn nguyên là quân đội người Tutsi sáp nhập vào quân đội Cộng hoà dân chủ Congo từ năm 2009 nhưng đầu năm nay đã đào ngũ với lý do bất đồng về lương bổng và các điều kiện sinh hoạt. Nhóm nổi loạn cũng đã đặt ra các điều kiện với Chính phủ Cộng hoà Dân chủ Congo như người tị nạn Congo ở Rwanda được hồi hương, thúc đẩy dân chủ cũng như xác nhận vị trí cấp bậc mà các thành viên M23 từng giữ trong quân đội Cộng hoà Dân chủ Congo.
Liên Hợp Quốc đã gửi quân đến để hỗ trợ lực lượng chính phủ trấn áp phe nổi loạn. Cho đến tháng 8 năm 2012, tình hình an ninh tại CHDC Congo tại một số vùng vẫn chưa ổn định. Các quốc gia láng giềng bị cáo buộc đã vũ trang và sử dụng các nhóm phiến quân làm lực lượng ủy nhiệm nhằm tranh giành quyền kiểm soát vùng đất giàu tài nguyên này.[24][25]
Vào năm 2015, làn sóng biểu tình quy mô lớn bùng phát khắp toàn quốc nhằm yêu cầu Tổng thống Kabila từ chức.[26] Ngay khi nhiệm kỳ của Kabila kết thúc vào ngày 20 tháng 12, làn sóng biểu tình lại tiếp tục bùng nổ. Trên khắp đất nước, hàng chục người biểu tình đã bị sát hại và hàng trăm người khác bị bắt giữ.
Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch) cáo buộc vào năm 2017 rằng Kabila đã chiêu mộ các cựu phiến quân của Phong trào 23 tháng 3 (M23) để trấn áp các cuộc biểu tình chống lại việc ông tại vị quá nhiệm kỳ. Tổ chức này cho biết: "Các tay súng M23 đã tổ chức tuần tra trên các đường phố tại những đô thị lớn của Congo, xả súng thẳng vào đám đông và bắt giữ người biểu tình cùng bất cứ ai bị xem là mối đe dọa đối với chiếc ghế của tổng thống".[27] Tại Masisi, giao tranh ác liệt cũng nổ ra giữa quân đội chính phủ và lực lượng của tướng phiến quân địa phương Delta.
Tổng tuyển cử 2018 và nhiệm kỳ tổng thống của Tshisekedi (2018–nay)
Vào ngày 30 tháng 12 năm 2018, một cuộc tổng tuyển cử đã được tổ chức. Ban đầu cuộc bầu cử được lên lịch vào ngày 23 tháng 12, nhưng sau đó đã bị hoãn lại sau khi một vụ hỏa hoạn tại kho hàng đã thiêu rụi nhiều máy bỏ phiếu điện tử, dấy lên lo ngại về nguy cơ gian lận kết quả.[28] Cuối cùng, các điểm bỏ phiếu cũng mở cửa vào ngày 30 tháng 12 trên hầu khắp cả nước, ngoại trừ một số khu vực bị tạm hoãn — một biện pháp mà giới chức trách cho biết là nhằm bảo vệ người dân trước sự bùng phát của dịch Ebola tại các tỉnh phía đông.[29]
Sau khi các điểm bỏ phiếu đóng cửa, chính phủ đã cắt Internet ở một số khu vực và thông báo rằng dịch vụ sẽ được khôi phục sau khi công bố kết quả, dự kiến vào ngày 6 tháng 1.[29]
Ngày 10 tháng 1 năm 2019, ủy ban bầu cử tuyên bố ứng viên đối lập Félix Tshisekedi là người chiến thắng trong cuộc đua tổng thống,[30] và ông chính thức tuyên thệ nhậm chức vào ngày 24 tháng 1.[31] Dù vậy, dư luận nghi ngờ rộng rãi rằng kết quả đã bị dàn xếp thông qua một thỏa thuận ngầm giữa Tshisekedi và Kabila,[32] khi các cuộc thăm dò ý kiến chuyên nghiệp được thực hiện ngay trong ngày bầu cử cho thấy ứng viên đối lập hàng đầu là Martin Fayulu dự kiến giành tới 47% số phiếu, trong khi Felix Tshisekedi chỉ đạt 23% và Emmanuel Shadary, người được Kabila chọn sẵn, chỉ đạt 19%.[29] [33]
Tháng 8 năm 2019, sáu tháng sau khi Félix Tshisekedi nhậm chức, một chính phủ liên minh đã được công bố.[34] Tshisekedi sau đó đã củng cố quyền lực thành công khi giành được sự ủng hộ của gần 400 trên tổng số 500 thành viên Quốc hội, đồng thời ép các chủ tịch lưỡng viện thuộc phe thân Kabila phải từ chức. Đến tháng 4 năm 2021, một chính phủ mới được thành lập mà không có sự góp mặt của những người ủng hộ Kabila.[35]
Một đại dịch sởi nghiêm trọng bùng phát vào năm 2019 đã cướp đi sinh mạng của gần 5.000 người.[36] Dịch Ebola cũng kết thúc vào tháng 6 năm 2020 sau hai năm hoành hành và khiến 2.280 người tử vong.[37] Đại dịch COVID-19 cũng lan tới CHDC Congo vào tháng 3 năm 2020, và một chiến dịch tiêm chủng đã được khởi động vào ngày 19 tháng 4 năm 2021.[38][39] Ngày 22 tháng 2 năm 2021, Luca Attanasio - Đại sứ Ý tại CHDC Congo - cùng vệ sĩ của mình đã bị sát hại tại tỉnh Bắc Kivu.[40] Vào ngày 22 tháng 4 năm 2021, các cuộc hội đàm giữa Tổng thống Kenya Uhuru Kenyatta và Tshisekedi đã dẫn đến các thỏa thuận mới nhằm thúc đẩy thương mại quốc tế và an ninh (bao gồm chống khủng bố, nhập cư, an ninh mạng và hải quan) giữa hai quốc gia.[41] Tháng 2 năm 2022, những cáo buộc về một cuộc đảo chính đã gây nên tình trạng bất ổn,[42] nhưng âm mưu này cuối cùng đã thất bại.[43] Đến tháng 12 năm 2023, Tổng thống Felix Tshisekedi đã tái đắc cử với hơn 70% số phiếu bầu.[44]
Phong trào M23 tái bùng phát mạnh mẽ vào năm 2022 và nhận được sự hỗ trợ quân sự từ Rwanda — quốc gia vốn cáo buộc chính phủ Congo hậu thuẫn cho lực lượng dân quân Hutu thuộc FDLR. Đầu năm 2025, xung đột leo thang nghiêm trọng khi phiến quân M23 đánh chiếm hai thành phố Goma và Bukavu với sự tham gia của hàng nghìn binh lính Rwanda. Các cuộc đàm phán hòa bình do Hoa Kỳ làm trung gian giữa Rwanda và CHDC Congo đã diễn ra vào mùa xuân năm 2025, tiến tới việc ký kết một thỏa thuận hòa bình vào ngày 27 tháng 6 năm 2025. Hiệp định hòa bình này yêu cầu Rwanda phải rút quân khỏi miền đông Congo trong vòng 90 ngày và CHDC Congo phải chấm dứt hỗ trợ cho FDLR, đồng thời xây dựng một khuôn khổ hội nhập kinh tế khu vực giữa hai nước.[14] Bất chấp thỏa hiệp trên, Văn phòng Nhân quyền Liên Hợp Quốc (UNHRO) ghi nhận các hành vi thù địch tại các tỉnh nơi Goma và Bukavu tọa lạc vẫn gia tăng trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2025. UNHRO cho biết M23 cùng các binh sĩ thuộc Lực lượng Phòng vệ Rwanda (RDF) chiếm đóng bị cáo buộc đã thảm sát hàng trăm dân thường tại bốn ngôi làng thuộc huyện Rutshuru, một khu vực nằm trong tỉnh Bắc Kivu.[45] Vào tháng 7 năm 2025, một Tuyên bố về các Nguyên tắc đã được ký kết tại Doha, đóng vai trò là thỏa thuận bước đầu về các mục tiêu chung cho một lệnh ngừng bắn và hạn chế bạo lực trong tương lai.[46] Đến tháng 10 năm 2025, cựu Tổng thống Joseph Kabila bị tuyên án tử hình vắng mặt vì cáo buộc cấu kết với nhóm phiến quân M23.[47]
Địa lý
Cộng hòa Dân chủ Congo nằm ở Trung Phi, đường xích đạo đi ngang qua, nằm chếch về phía trên. Cộng hòa dân chủ Congo có diện tích lớn hàng thứ hai ở châu Phi, sau Algérie, Bắc giáp Cộng hòa Trung Phi và Sudan; Tây Nam giáp Angola và Nam giáp Zambia; Đông giáp Uganda, Rwanda, Burundi và Tanzania; Tây giáp Đại Tây Dương và Cộng hòa Congo Quốc gia này chỉ có một hành lang hẹp thông ra Đại Tây Dương. Lãnh thổ cả nước trải rộng trên vùng chậu được bao phủ bởi rừng rậm xích đạo ẩm và nóng, tương ứng với khoảng 2/3 diện tích vùng lưu vực sông Congo. Ở phía Đông, Cộng hòa Dân chủ Congo tựa lưng vào những vùng đất cao của Đông Phi, tiếp đó là dãy lũng hẹp dài có các hồ Albert (Mobutu), Edward, Kivu, Tanganyika đặt mốc cho biên giới chung với các nước ở phía Đông. Cư dân tập trung ở các vùng cao thuộc rìa phía Đông có khí hậu trong lành, nhất là ở một phần ba lãnh thổ phía Nam, tại đó rừng thưa và các đồng cỏ xen nhau (Kinshasa và Kangtaga). Nhìn chung, nhân dân Congo gồm chừng 60 tộc người gia tăng mạnh ở các thành phố (44,3% số dân).
Các sông chính có Sông Congo (4.700 km, lưu lượng lớn nhất châu Phi), sông Lualaba (1.770 km), sông Lomami (1.500 km), sông Aruwimba, sông Uélé, sông Tahuapa, sông Lukénie, sông Kasai.
Khí hậu
Khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm ở các khu vực trũng hai bên bờ sông thuộc vùng xích đạo; mát và khô hơn ở các vùng cao nguyên phía Nam; mát và ẩm hơn các vùng cao nguyên phía Đông. Vùng phía Bắc xích đạo: mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 2; vùng phía Nam xích đạo: mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 4, mùa khô từ tháng 4 đến tháng 10.
Môi trường
Tình trạng ô nhiễm nguồn nước; nạn phá rừng; đất bị xói mòn; nạn săn bắt trái phép và nguy cơ thú rừng bị tuyệt chủng.
Sinh vật
Rừng nhiệt đới ở CHDC Congo có độ đa dạng sinh học rất cao,[48] sở hữu nhiều loài đặc hữu và quý hiếm như tinh tinh thông thường và tinh tinh lùn, voi rừng, khỉ đột núi, hươu đùi vằn và tê giác trắng. Năm trong số các vườn quốc gia của đất nước này được xếp vào danh sách các di sản thế giới gồm: Garumba, Kahuzi-Biega, Salonga và vườn quốc gia Virunga, và Khu dự trữ động vật hoang dã Okapi. Cuộc nội chiến và các điều kiện kinh tế yếu kém đã đe dọa sự đa dạng sinh học ở đây. Tất cả các vườn quốc gia được liệt kê ở trên đều trong diện Di sản bị đe dọa.[49][50][51]
-
Cảnh quan Bas-Congo
-
Khỉ đột lưng bạc đực
Chính trị
Cộng hòa Dân chủ Congo là một nước cộng hòa bán tổng thống chế.[52] Tổng thống là nguyên thủ quốc gia,[53] được bầu trực tiếp với nhiệm kỳ năm năm.[54] Thủ tướng là người đứng đầu chính phủ,[55] do tổng thống bổ nhiệm với sự ủng hộ của đảng hoặc liên minh chiếm đa số trong Nghị viện.[56] Thủ tướng và Nội các chịu trách nhiệm trước Nghị viện.[55] Nghị viện là cơ quan lập pháp lưỡng viện, gồm Thượng viện và Quốc hội.[55] Đại biểu Quốc hội được bầu trực tiếp với nhiệm kỳ năm năm,[57] thượng nghị sĩ được các nghị viện tỉnh bầu gián tiếp với nhiệm kỳ năm năm.[58] Tổng thống là tổng tư lệnh lực lượng vũ trang[59] và bổ nhiệm các chức danh dân sự, quân sự.[60] Hệ thống tòa án thực hiện quyền tư pháp độc lập.[61] Tòa án Hiến pháp xem xét tính hợp hiến của luật và giải quyết tranh chấp bầu cử, tranh chấp giữa các cơ quan chính phủ;[62] Tòa Phá án là cơ quan xét xử cao nhất về hình sự, dân sự và quân sự;[63] Tham chính viện là tòa án hành chính cao nhất.[64]
Phân cấp hành chính
Hiện tại, Cộng hòa Dân chủ Congo được chia thành 26 tỉnh.[65] Các tỉnh được chia thành 145 lãnh thổ và 33 thành phố. Trước năm 2015, CHDC Congo được chia thành 11 tỉnh.[66]
| 1. Kinshasa | 14. Ituri | |
| 2. Kongo Central | 15. Haut-Uele | |
| 3. Kwango | 16. Tshopo | |
| 4. Kwilu | 17. Bas-Uele | |
| 5. Mai-Ndombe | 18. Nord-Ubangi | |
| 6. Kasaï | 19. Mongala | |
| 7. Kasaï-Central | 20. Sud-Ubangi | |
| 8. Kasaï-Oriental | 21. Équateur | |
| 9. Lomami | 22. Tshuapa | |
| 10. Sankuru | 23. Tanganyika | |
| 11. Maniema | 24. Haut-Lomami | |
| 12. Nam Kivu | 25. Lualaba | |
| 13. Bắc Kivu | 26. Haut-Katanga |
Nhân quyền
Hôn nhân cùng giới bị cấm từ năm 2006[67] và quyền LGBT không được ủng hộ rộng rãi.[68] Bạo lực đối với phụ nữ được đại bộ phận dân số coi là bình thường.[69] Hiếp dâm hàng loạt, bạo lực tình dục và nô lệ tình dục được Lực lượng Vũ trang Cộng hòa Dân chủ Congo cùng các nhóm vũ trang sử dụng như một thứ vũ khí chiến tranh ở khu vực phía đông đất nước.[70] Riêng khu vực phía đông đất nước từng được mô tả là "thủ đô hiếp dâm của thế giới", và mức độ phổ biến của bạo lực tình dục tại đây được cho là tồi tệ nhất thế giới.[71][72] Tỷ lệ cắt bỏ bộ phận sinh dục nữ ước tính vào khoảng 5% phụ nữ[73][74] và bị coi là bất hợp pháp.[75][76]
Quan hệ đối ngoại
Các cường quốc bên ngoài luôn có những động lực kinh tế và chiến lược để thiết lập một môi trường "an ninh" hơn tại Congo — một quốc gia sở hữu tài nguyên thiên nhiên phong phú, đặc biệt là cobalt, loại kim loại được ứng dụng rộng rãi trong cả công nghiệp lẫn quân sự.[77] Quốc gia này hiện nắm giữ tới 80% trữ lượng cobalt của toàn thế giới.[78]
Nhiều ý kiến cho rằng, do vai trò thiết yếu của cobalt đối với pin xe điện cũng như sự ổn định của lưới điện (nhất là khi tỷ trọng năng lượng tái tạo không liên tục tăng cao trong cơ cấu nguồn điện), CHDC Congo có thể trở thành tâm điểm của các cuộc cạnh tranh địa chính trị gay gắt.[77]
Trong thế kỷ 21, vốn đầu tư của Trung Quốc vào CHDC Congo và kim ngạch xuất khẩu của Congo sang Trung Quốc đã tăng trưởng với tốc độ chóng mặt. Vào tháng 7 năm 2019, các đại sứ tại Liên Hợp Quốc của 37 quốc gia, bao gồm cả CHDC Congo, đã ký một bức thư chung gửi lên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc để bảo vệ chính sách của Trung Quốc đối với các trại cải tạo người Duy Ngô Nhĩ và các nhóm thiểu số Hồi giáo khác.[79] Đến năm 2021, Tổng thống Félix Tshisekedi đã kêu gọi xem xét lại các hợp đồng khai thác mỏ mà người tiền nhiệm Joseph Kabila từng ký kết với Trung Quốc, đặc biệt là thỏa thuận đổi "khoáng sản lấy cơ sở hạ tầng" trị giá hàng tỷ đô la của liên doanh Sicomines.[80][81]
Dù nằm trong phân vùng Trung Phi của Liên Hợp Quốc, quốc gia này cũng có mối liên kết chặt chẽ về mặt kinh tế và khu vực với Nam Phi khi là một thành viên của Cộng đồng Phát triển Miền Nam Châu Phi (SADC).[82]
Quân sự
Quân đội của Cộng hòa Dân chủ Congo, thường được biết đến với tên gọi tắt là FARDC, bao gồm Lục quân, Không quân và Hải quân. Ngoài ra còn có một lực lượng Vệ binh Cộng hòa biệt lập nằm ngoài cơ cấu chỉ huy của FARDC và chịu trách nhiệm trực tiếp trước tổng thống.[83][84] Vào năm 2023, Lục quân có 103.000 binh lính, Hải quân có 6.700 người, Không quân có 2.550 người, bộ chỉ huy trung ương có 14.000 người và Vệ binh Cộng hòa có 8.000 người. Tổng quân số của tất cả các binh chủng là 134.250 nhân sự, trên lý thuyết biến FARDC trở thành lực lượng quân đội lớn nhất vùng Trung Phi.[83] Tuy nhiên, sức mạnh của FARDC đã bị suy giảm đáng kể do tính chuyên nghiệp thấp, thiếu thốn huấn luyện, tinh thần chiến đấu kém, lương bổng thấp, trang thiết bị lạc hậu cùng tình trạng tham nhũng tràn lan. Tình trạng thiếu hụt phương tiện cơ giới và máy bay khiến quân đội gặp rất nhiều khó khăn trong việc điều động binh lính trên khắp vùng lãnh thổ rộng lớn của đất nước.[13][83][84]
FARDC được thành lập vào năm 2003 sau khi Chiến tranh Congo lần thứ hai kết thúc, thông qua việc sáp nhập nhiều nhóm phiến quân cũ vào hàng ngũ của mình,[84] và lực lượng này hiện vẫn đang hợp tác với các nhóm dân quân thân chính phủ.[13] Kể từ đó, quân đội là một tập hợp hỗn hợp giữa lực lượng vũ trang Zaire cũ, các nhóm phiến quân từ các cuộc Chiến tranh Congo và các lực lượng dân quân khác được sáp nhập gần đây hơn. Tổng thống Félix Tshisekedi đã công bố bắt đầu công cuộc cải tổ quân đội vào năm 2022 nhằm xây dựng một lực lượng quân đội quốc gia gắn kết hơn.[85] Nỗ lực này bao gồm việc thay thế hầu hết các vị trí trong bộ chỉ huy cấp cao bằng những sĩ quan trẻ tuổi hơn có thành tích tốt, đồng thời tăng cường ngân sách quốc phòng cho giai đoạn từ năm 2022 đến năm 2024.[83][85] Dù vậy, FARDC vẫn tiếp tục rơi vào tình trạng vô tổ chức và tham nhũng có hệ thống, khiến quân đội không thể hoàn thành sứ mệnh bảo vệ hiệu quả toàn bộ lãnh thổ đất nước.[86]
Tính đến năm 2023, ước tính quân đội có 9 lữ đoàn, 27 trung đoàn, một tiểu đoàn pháo binh và một tiểu đoàn cảnh sát quân sự.[83] Nhiều đơn vị được báo cáo là chỉ đạt một nửa quân số chính thức hoặc ít hơn do tổn thất trong chiến đấu và tình trạng đào ngũ.[13] FARDC đã dành nhiều thập kỷ để chiến đấu chống lại hơn 100 nhóm vũ trang ở miền Đông Congo và vùng Kasaï, bao gồm các nhóm dân quân Mai-Mai địa phương, Phong trào 23 tháng 3 (M23) do Rwanda hậu thuẫn, Nduma Defense of Congo-Renovated, Lực lượng Dân chủ Đồng minh (nay đã trở thành một nhánh của Nhà nước Hồi giáo) và Quân đội Kháng chiến của Chúa.[87]
Thực thi pháp luật, tội phạm và tham nhũng
Cảnh sát Quốc gia Congo, được biết đến với tên gọi tắt là PNC, là lực lượng cảnh sát chính tại Cộng hòa Dân chủ Congo.[88][89] CHDC Congo áp dụng hệ thống dân luật chủ yếu dựa trên Luật pháp Bỉ, kết hợp với tập quán pháp và luật bộ tộc.[52] Quốc gia này chấp nhận thẩm quyền tài phán của Tòa án Hình sự Quốc tế,[52] sau khi phê chuẩn Quy chế Rome vào ngày 11 tháng 4 năm 2002. Bộ luật Hình sự, Bộ luật Hình sự Quân sự và Bộ luật Tố tụng Hình sự đã được nghị viện CHDC Congo sửa đổi vào ngày 31 tháng 12 năm 2015 nhằm đảm bảo tuân thủ đầy đủ Quy chế Rome.[90]
Một người họ hàng của Mobutu đã tiết lộ cách chính quyền bòn rút ngân sách bất hợp pháp trong thời gian ông nắm quyền: "Mobutu sẽ bảo một người trong chúng tôi đến ngân hàng và rút ra một triệu. Chúng tôi sẽ gặp một bên trung gian và bảo gã rút năm triệu. Gã đó sẽ mang lệnh của Mobutu đến ngân hàng và rút mười triệu. Mobutu lấy một triệu, còn chúng tôi chia nhau chín triệu còn lại."[91] Mobutu đã thể chế hóa nạn tham nhũng nhằm ngăn chặn các đối thủ chính trị thách thức quyền kiểm soát của mình, điều này cuối cùng đã dẫn đến sự sụp đổ kinh tế của đất nước vào năm 1996.[92]
Mobutu được cho là đã tích lũy khối tài sản từ 50 triệu đến 125 triệu USD trong thời gian cầm quyền.[93][94] Ông hoàn toàn không phải là nhà lãnh đạo tham nhũng đầu tiên của Congo: Vào năm 2009, nhà văn Adam Hochschild từng lưu ý rằng "Chính quyền với tư cách là một hệ thống trộm cắp có tổ chức đã có từ thời Vua Leopold II".[95]
Vào tháng 6 năm 2020, một tòa án ở Cộng hòa Dân chủ Congo đã tuyên án Chánh văn phòng của Tổng thống Tshisekedi là ông Vital Kamerhe phạm tội tham nhũng. Ông bị kết án 20 năm lao động khổ sai với cáo buộc biển thủ gần 50 triệu USD (khoảng 39 triệu bảng Anh) công quỹ. Đây là nhân vật cấp cao và có tầm ảnh hưởng lớn nhất từng bị kết tội tham nhũng tại CHDC Congo.[96] Dù vậy, Kamerhe đã được trả tự do ngay vào tháng 12 năm 2021.[97]
Vào tháng 11 năm 2021, một cuộc điều tra tư pháp nhắm vào cựu Tổng thống Kabila và các thân tín đã được mở tại Kinshasa sau những cáo buộc làm thất thoát khoản công quỹ trị giá 138 triệu USD.[98]
Kinh tế
Nền kinh tế CHDC Congo đã tăng trưởng từ 29,23 tỷ đô la Mỹ sau Nội chiến Congo thứ hai vào năm 2003 lên 190,13 tỷ đô la Mỹ vào năm 2024 theo sức mua tương đương.[99] Năm 2023, 80% xuất khẩu của CHDC Congo là khoáng sản và kim loại, đặc biệt là cobalt và đồng.[100][101] Năm 2024, Trung Quốc là đối tác xuất khẩu lớn nhất của CHDC Congo, sau đó là Zambia, Cộng hòa Nam Phi, Singapore và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất.[102] Nền kinh tế CHDC Congo, đặc biệt là ngành khai thác mỏ, thu hút đầu tư nước ngoài đáng kể, và tăng trưởng nhanh hơn trung bình của châu Phi Hạ Sahara sau đầu thập niên 2000,[103] dẫn đến cải thiện cơ sở hạ tầng.[103] 65% dân số tham gia nông nghiệp tự cung tự cấp[101] và nông nghiệp là một ngành lớn.[19] Tuy nhiên, sản lượng lương thực đã suy giảm trong vài thập kỷ qua[104] và CHDC Congo phụ thuộc vào nhập khẩu lương thực.[101] Năm 2023, tỷ lệ lạm phát giá thực phẩm đạt 173%.[105] Nền kinh tế ngầm cung cấp hầu hết việc làm và tỷ lệ thanh niên thất nghiệp rất cao.[101] Ước tính 73,5% dân số CHDC Congo có thu nhập dưới chuẩn nghèo quốc tế là 2,15 đô la Mỹ mỗi ngày vào năm 2024.[106]
Tuy nhiên, nền kinh tế của CHDC Congo đã bị suy thoái từ giữa những năm 80 của thế kỷ 20. Vào thời điểm độc lập năm 1960, CHDC Congo là một nước công nghiệp hóa thứ 2 ở châu Phi sau Nam Phi, dựa chủ yếu vào ngành công nghiệp khai thác mỏ[107] và nền nông nghiệp tương đối có hiệu quả.[108] Hai cuộc chiến trong thời gian sau đó, bắt đầu từ năm 1996, đã làm sản xuất và nguồn thu ngân sách giảm sút nghiêm trọng, trong khi đó nợ nước ngoài lại tăng. Cuộc chiến còn cướp đi sinh mạng của 3,5 triệu người do bạo lực, nạn đói và bệnh tật. Những nhà kinh doanh cắt giảm các hoạt động đầu tư do lo ngại các cuộc xung đột, thiếu cơ sở hạ tầng, và môi trường kinh doanh khó khăn. Tình hình đã được cải thiện vào cuối năm 2002 khi mà lực lượng chiếm đóng bắt đầu rút quân khỏi Congo. Chính phủ chuyển tiếp đã nối lại quan hệ với các thiết chế tài chính và các nhà tài trợ quốc tế. Tổng thống Kabila bắt đầu tiến hành cải cách. Nhiều các dự án được tiến hành thúc đẩy tăng trưởng GDP. Kinh tế CHDC Congo bắt đầu tăng trưởng ổn định trong giai đoạn 2003 – 2005 bất chấp những khó khăn do khuôn khổ pháp lý chưa rõ ràng, nạn tham nhũng, và các chính sách mở cửa chưa thông thoáng. Suy thoái kinh tế toàn cầu đã khiến cho tốc độ tăng trưởng của nước này năm 2009 giảm 1 nửa so với năm 2008, tuy nhiên chỉ số này đã hồi phục và tăng trưởng 6% năm 2010.
Nông nghiệp
Congo là một nước nông nghiệp. Phần đông dân cư sống bằng nghề nông. Hàng năm, nông nghiệp đóng góp khoảng 37,4% GDP cho đất nước này. Các loại nông sản chính của Congo là: cà phê, đường, dầu cọ, chè, miến, chuối, ngô, hoa quả và các sản phẩm gỗ, cao su...
Công nghiệp
CHDC Congo là nước có nguồn dự trữ về tài nguyên và khoáng sản vô cùng phong phú. Công nghiệp của Congo chủ yếu là khai khoáng, là nhà sản xuất cobalt lớn nhất thế giới.[109] Congo có 70% trữ lượng coltan của thế giới, và hơn 30% kim cương.[110] chủ yếu là dạng kim cương nhỏ, công nghiệp. Năm 2002, thiếc đã được phát hiện ở phía đông của quốc gia này nhưng cho đến nay việc khai thác chỉ ở quy mô nhỏ.[111] Buôn lậu liên quan đến khoáng sản, coltan và cassiterit như đã đổ thêm dầu vào lửa cho các cuộc chiến tranh[112] ở miền đông Congo. Katanga Mining Limited, một công ty của Thụy Sĩ, sở hữu nhà máy luyện kim Luilu, có công suất 175.000 tấn đồng và 8.000 tấn cobalt mỗi năm, là nhà sản tinh chế cobalt lớn nhất thế giới. Sau một chương trình phục hồi lớn, công ty này đã khởi động lại vào tháng 12 năm 2007 và sản xuất cobalt vào tháng 5 năm 2008.[113] CHDC Congo cũng sở hữu 50% diện tích rừng ở châu Phi và hệ thống sông suối cung cấp nhiều thuận lợi cho khai thác thủy điện, theo báo cáo của UN về ý nghĩa chiến lược và vai trò tiềm năng của quốc gia này thì đây được xem là một động lực kinh tế ở Trung Phi.[114] Ngoài ra còn có các ngành công nghiệp phục vụ tiêu dùng (dệt may, giày dép, sản xuất đồ ăn và đồ uống), sửa chữa tàu.. Hàng năm, công nghiệp đóng góp vào khoảng 11% GDP của nước này.
Trong thập niên 2020, CHDC Congo đã triển khai nhiều biện pháp nhằm chuyển dịch từ mô hình kinh tế do nhà nước chi phối truyền thống—với tình trạng độc quyền nhà nước và sự kiểm soát của giới tinh hoa trong các ngành then chốt—sang nền kinh tế thị trường, đi kèm với việc tư nhân hóa một phần ngành khai khoáng và viễn thông. Quốc gia này cũng ưu tiên tự do hóa và hội nhập kinh tế khi ký kết các hiệp định thương mại với hơn 50 nước, đồng thời từng bước phát triển thương mại điện tử. CHDC Congo đã gia nhập Khu vực Mậu dịch Tự do Lục địa Châu Phi vào năm 2022, và đến năm 2023 đã đồng bộ hóa các tiêu chuẩn pháp lý với EAC và SADC liên quan đến các hành vi hạn chế cạnh tranh. Dù vậy, những nỗ lực này đang bị đình trệ do nạn tham nhũng chính phủ, các mạng lưới bảo trợ, năng lực thực thi hạn chế và các chính sách thương mại thiếu nhất quán với khuôn khổ khu vực..[86] Freedom House rates the country as "not free" in 2025, citing endemic corruption, the manipulation of the political system, and human rights abuses, including by security forces.[115]
Dịch vụ
Dịch vụ hàng năm đóng góp khoảng 1/3 GDP cho đất nước. Tuy nhiên ngành dịch vụ du lịch chịu ảnh hưởng nặng nề bởi các cuộc nội chiến liên miên trước đây và đại dịch COVID-19.
Ngoại thương
Về ngoại thương, năm 2009, CHDC Congo xuất khẩu 3,8 tỷ USD hàng hoá các loại. Trong đó các mặt hàng xuất khẩu chủ chốt là kim cương, đồng, cà phê, dầu thô và côban. Các bạn hàng xuất khẩu chính của nước này là: Bỉ, Phần Lan, Mỹ, Trung Quốc.
Kim ngạch nhập khẩu năm 2009 của Congo đạt 3,8 tỷ USD. Các mặt hàng mà Congo thường nhập khẩu là lương thực, xăng dầu và các thiết bị vận tải. Các đối tác nhập khẩu hàng từ CHDC Congo là Nam Phi, Bỉ, Pháp, Zambia, Kenya, Mỹ, Đức.
Giao thông
Giao thông đường bộ ở CHDC Congo rất khó khăn do nhiều yếu tố địa hình và khí hậu cản trở, và khoảng cách đi lại giữa những khu vực trên đất nước này rất lớn. Hơn nữa, quản lý kinh tế yếu kém kéo dài và xung đột nội bộ đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến đầu tư trong nhiều năm qua. Ngoài ra, đất nước này có hàng ngàn km đường thủy, và vận tải đường thủy truyền thống có thể di chuyển trong khoảng 2/3 chiều dài đất nước này.
Tất cả các nhà vận tải đường không được CHDC Congo cấp phép đều bị cấm khai thác ở các sân bay của Liên minh châu Âu do không đủ tiêu chuẩn an toàn.[116]
CHDC Congo có 152,373 kilômét (94,680 mi) đường bộ, trong đó chỉ có 3,047 kilômét (1,893 mi) được trải nhựa. Quốc gia này cũng có 4,007 kilômét (2,490 mi) đường sắt, phần lớn là đường sắt khổ hẹp.[117] Cơ sở hạ tầng đang trong tình trạng xuống cấp và hệ thống quốc lộ rất hạn chế; tại nhiều vùng trên cả nước, người dân không thể đi đến thủ đô bằng đường bộ.[118] Từ đầu thập niên 2000, mạng lưới đường bộ đã được cải thiện, nhưng những khu rừng rậm và hệ thống sông ngòi dày đặc tại CHDC Congo khiến công tác xây dựng và bảo trì gặp nhiều khó khăn.[119] Giao thông đường hàng không và đường thủy đóng vai trò quan trọng do đặc điểm địa hình cũng như tình trạng yếu kém của mạng lưới đường bộ và đường sắt.[120]
Hoạt động di chuyển bằng đường hàng không đã gia tăng kể từ đầu những năm 2000, với 24 tuyến bay kết nối các thành phố tính đến năm 2007.[121] Tất cả các hãng hàng không do CHDC Congo cấp phép đều bị cấm hoạt động tại các sân bay của Liên minh Châu Âu do không đáp ứng đủ tiêu chuẩn an toàn.[122] Mặc dù vậy, hàng không vẫn được xem là hình thức di chuyển nội địa đáng tin cậy nhất.[118][123] Nước này có 8 hãng hàng không,[117] bao gồm cả hãng hàng không quốc gia Congo Airways, và một số hãng hàng không quốc tế đang khai thác các chuyến bay tới sân bay quốc tế tại Kinshasa. Ngoài Kinshasa, CHDC Congo còn có ba sân bay quốc tế khác tọa lạc tại Lubumbashi, Kisangani và Goma.[123]
CHDC Congo có khoảng 15,000 kilômét (9,321 mi) đường thủy có thể đi lại bằng thuyền,[124] với sông Congo đóng vai trò là tuyến đường xương sống. Giao thông đường thủy theo truyền thống luôn là phương thức di chuyển chủ đạo tại CHDC Congo và cũng được sử dụng để khỏa lấp những khoảng trống của mạng lưới đường bộ. Mỗi năm có khoảng hai triệu tấn hàng hóa đi qua cảng Kinshasa trên sông Congo, cao gấp hơn ba lần khối lượng hàng hóa do công ty đường sắt quốc gia (SNCC) vận chuyển. Các phương tiện vận tải đường sông do nhiều nhà điều hành tư nhân sở hữu.[125] Ba trung tâm kinh tế của CHDC Congo—Kinshasa ở phía tây, Lubumbashi ở phía nam và Kisangani ở phía đông bắc—không được kết nối với nhau bằng đường bộ hay đường sắt.[126]
Hệ thống đường sắt tập trung ở khu vực phía đông nam. Kinshasa được kết nối bằng phà đường sông tới Ilebo, nơi bắt đầu tuyến đường sắt đi Lubumbashi. Tuyến đường này cũng đóng vai trò trọng yếu trong việc vận chuyển kim loại và khoáng sản từ miền nam CHDC Congo đến các cảng ở Angola hoặc Nam Phi (qua Zambia) để xuất khẩu ra nước ngoài.[124][127] Có một tuyến đường sắt điện khí hóa nối Kinshasa với cảng biển Matadi bên bờ Đại Tây Dương. Đường ray và đầu máy toa xe thuộc hệ thống của SNCC đều trong tình trạng tồi tệ, mặc dù tuyến Matadi–Kinshasa mới được xây dựng gần đây có chất lượng đường ray tốt hơn.[128][129]
Có 44 tuyến quốc lộ[130] với tổng chiều dài 58,358 kilômét (36,262 mi).[123][131] Ba trong số đó được xem là quan trọng nhất. Quốc lộ 1 (RN1) là tuyến đường huyết mạch của hệ thống đường bộ, kết nối các cảng biển ở Kongo Central với Kinshasa cùng các thành phố nội địa như Lubumbashi. Tuyến RN1 chạy dài đến tận biên giới với Zambia ở phía nam.[132] Quốc lộ 2 (RN2) nối liền thành phố miền trung Mbuji-Mayi với Goma ở phía đông, trong đó phần lớn đoạn đường nằm ngoài vùng Kivu đều trong tình trạng xuống cấp; và Quốc lộ 3 (RN3) kết nối Goma với Kisangani, từ đó người dân có thể đi thuyền trên sông để đến Kinshasa.[125][131][133]
Năng lượng
Việc sản xuất và phân phối điện năng do Công ty Điện lực Quốc gia (SNEL) quản lý, nhưng chỉ có khoảng 15% dân số cả nước được tiếp cận với điện.[134] CHDC Congo sở hữu cơ sở hạ tầng thủy điện khai thác dòng chảy của sông Congo tại đập Inga. Cho đến năm 2008, tài nguyên than đá và dầu thô chủ yếu chỉ được sử dụng để phục vụ nhu cầu nội địa.[135]
Năm 2010, CHDC Congo có công suất lắp đặt đạt 2.400 megawatt, nhưng chỉ có 1.000 MW thực tế hoạt động. Phần duy nhất được liên kết mạng lưới điện là đường dây truyền tải cao thế nối từ các đập Inga ở tỉnh Kongo Central tới khu vực miền nam CHDC Congo.[136] Tuyến đường dây này kéo dài đến tận biên giới Zambia và cũng được sử dụng để xuất khẩu điện sang Zambia, Zimbabwe cùng Nam Phi.[137] Do tình trạng cúp điện thường xuyên và những hạn chế của lưới điện quốc gia, gần một nửa số doanh nghiệp tại CHDC Congo phải tự trang bị máy phát điện riêng.[138]
Theo một báo cáo của Liên Hợp Quốc về tầm quan trọng chiến lược và vai trò tiềm năng của quốc gia này như một cường quốc kinh tế ở Trung Phi, CHDC Congo sở hữu một hệ thống sông ngòi có khả năng cung cấp năng lượng thủy điện cho toàn bộ lục địa.[139] Tiềm năng sản xuất thủy điện của CHDC Congo ước tính lên tới 100.000 MW.[138] Nước này hiện là thành viên của ba hệ thống liên kết lưới điện khu vực, bao gồm Hệ thống Lưới điện Nam Phi (Southern African Power Pool), Hệ thống Lưới điện Đông Phi (East African Power Pool) và Hệ thống Lưới điện Trung Phi (Central African Power Pool).
Nhờ lượng ánh sáng mặt trời dồi dào, tiềm năng phát triển năng lượng mặt trời tại CHDC Congo là rất lớn. Quốc gia này hiện có khoảng 836 hệ thống điện mặt trời với tổng công suất 83 MW, phân bố tại Équateur (167), Katanga (159), Nord-Kivu (170), hai tỉnh vùng Kasaï (170) và Bas-Congo (170). Ngoài ra, mạng lưới gồm 148 hệ thống của tổ chức Caritas cũng cung cấp tổng công suất khoảng 6,31 MW.[140]
Nhân khẩu
Dân số của Cộng hòa Dân chủ Congo ước tính là 115 triệu người tính đến năm 2024.[141] Từ năm 1950 đến năm 2000, dân số của Cộng hòa Dân chủ Congo tăng gấp bốn lần từ 12,2 triệu người lên 46,9 triệu người.[142] Từ năm 2000, tốc độ tăng trưởng dân số của Cộng hòa Dân chủ Congo đạt 3–3.5% mỗi năm.
| Hạng | Tỉnh | Dân số | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Kinshasa | Kinshasa | 15,628,000 | ||||||
| 2 | Mbuji-Mayi | Kasai-Oriental | 2,765,000 | ||||||
| 3 | Lubumbashi | Haut-Katanga | 2,695,000 | ||||||
| 4 | Kisangani | Tshopo | 1,640,000 | ||||||
| 5 | Kananga | Kasaï-Central | 1,593,000 | ||||||
| 6 | Mbandaka | Équateur | 1,188,000 | ||||||
| 7 | Bukavu | South Kivu | 1,190,000 | ||||||
| 8 | Tshikapa | Kasaï | 1,024,000 | ||||||
| 9 | Bunia | Ituri | 768,000 | ||||||
| 10 | Goma | North Kivu | 707,000 | ||||||
Dân tộc
Hơn 250 dân tộc và 450 bộ lạc sinh sống tại Cộng hòa Dân chủ Congo, thuộc năm nhóm ngôn ngữ Bantu, Sudanic, Nilotic, Ubangian và Pygmy. Những dân tộc sau chiếm 51,5% dân số:[145]
Ngôn ngữ
Tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức[146] và được coi là lingua franca của Cộng hòa Dân chủ Congo. Năm 2018, 49 triệu người Congo (51% dân số) có thể đọc và viết tiếng Pháp.[147] Một cuộc khảo sát năm 2021 cho thấy 74% dân số có thể nói tiếng Pháp.[148]
Tôn giáo
Tôn giáo tại CHDC Congo (2013)[149]
Kitô giáo là tôn giáo lớn nhất tại Cộng hòa Dân chủ Congo. Ước tính từ 95,8%[150] đến 95,9% dân số theo Kitô giáo.[141] Tỷ lệ dân số theo Hồi giáo ước tính từ 1%[151] đến 12%.[152]
Giáo dục
Năm 2014, tỷ lệ biết chữ của người từ 15 tuổi đến 49 tuổi ước tính là 75,9% (88,1% đối với nam và 63,8% đối với nữ).[153] Hệ thống giáo dục của CHDC Congo thuộc quản lý của ba bộ: Bộ Giáo dục tiểu học, trung học và chuyên nghiệp; Bộ Giáo dục đại học và sau đại học và Bộ Xã hội. Hệ thống giáo dục của CHDC Congo giống của Bỉ. Năm 2002, có hơn 19.000 trường tiểu học với 160.000 học sinh; và 8.000 trường trung học với 110.000 học sinh. Giáo dục tiểu học là miễn phí và bắt buộc (điều 43 của Hiến pháp Congo 2005).[154]
Tỉ lệ nhập học thô được tính dựa trên số học sinh đăng ký chính thức ở các trường tiểu học và sau đó không cần thiết phản ảnh qua số học sinh thực tế theo học.[155] Năm 2000, 65% trẻ ở độ tuổi 10-14 đã đi học.[155] Do ảnh hưởng của cuộc nội chiến 6 năm, hơn 5,2 triệu trẻ em ở quốc gia này phải thất học.[155]
Y tế
CHDC Congo phải đối mặt với những thách thức y tế dai dẳng, bao gồm các đợt bùng phát dịch Ebola, sởi và sốt rét, cùng hệ thống chăm sóc sức khỏe thiếu hụt nguồn lực.[86] Cơ sở hạ tầng yếu kém làm hạn chế khả năng ứng phó khẩn cấp.[86] Điều này dẫn đến khó khăn trong việc vận chuyển bệnh nhân cũng như cung ứng vật tư y tế. Sự bất bình đẳng về tài chính cũng cản trở người dân tiếp cận các dịch vụ y tế.[156] Các cơ sở y tế còn gặp tình trạng bị cướp bóc vật tư và trang thiết bị.[157] Năm 2024, CHDC Congo chi 3,1% GDP cho y tế và 75% người dân Congo phải tự chi trả chi phí khám chữa bệnh.[86]
CHDC Congo có tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh cao thứ hai thế giới (sau Tchad). Tháng 4 năm 2011, thông qua viện trợ từ Liên minh Toàn cầu về Vắc-xin, một loại vắc-xin mới phòng ngừa bệnh phế cầu khuẩn đã được đưa vào sử dụng quanh khu vực Kinshasa.[158] Năm 2012, ước tính có khoảng 1,1% người trưởng thành trong độ tuổi 15–49 sống chung với HIV/AIDS.[159] Sốt rét[160][161] và sốt vàng da cũng là những vấn đề đáng lo ngại.[162]
Đầu năm 2025, số lượng trẻ em dưới năm tuổi đến khám tại các cơ sở y tế đã giảm 50% so với một năm trước đó. Số trẻ được tiêm chủng cũng giảm từ 67.000 xuống còn 29.000 khi so sánh quý I năm 2023 với quý I năm 2025.[163]
Tháng 5 năm 2026, Tổ chức Y tế Thế giới đã ban bố đợt bùng phát dịch Ebola do virus Bundibugyo gây ra tại CHDC Congo là một tình trạng khẩn cấp y tế cộng đồng quốc tế (PHEIC).[164]
Năm 2016, có 26.529 người thiệt mạng trên các tuyến đường tại CHDC Congo do tai nạn giao thông.[165]
Sức khỏe bà mẹ tại CHDC Congo ở mức kém. Năm 2010, quốc gia này có tỷ lệ tử vong ở bà mẹ cao thứ 17 trên thế giới.[166] Năm 2015, 43,5% trẻ em dưới 5 tuổi bị còi cọc.[167]
Năm 2020, cơ quan cứu trợ lương thực khẩn cấp của Liên Hợp Quốc cảnh báo rằng trong bối cảnh xung đột leo thang và tình hình tồi tệ hơn sau đại dịch COVID-19 tại CHDC Congo, hàng triệu sinh mạng đang gặp nguy hiểm vì nguy cơ chết đói. Cũng trong năm 2020, cứ 10 người ở Congo thì có 4 người không được đảm bảo an ninh lương thực và khoảng 15,6 triệu người phải đối mặt với nguy cơ khủng hoảng đói.[168]
Mức độ ô nhiễm không khí ở Cộng hòa Dân chủ Congo đang ở mức rất nguy hại cho sức khỏe. Năm 2020, ô nhiễm không khí trung bình hàng năm ở CHDC Congo ở mức 34,2 μg/m3, cao gấp gần 6,8 lần so với hướng dẫn về bụi mịn PM2.5 của Tổ chức Y tế Thế giới (5 μg/m3: thiết lập vào tháng 9 năm 2021).[169] Mức độ ô nhiễm này ước tính làm giảm khoảng 2,9 năm tuổi thọ của một công dân trung bình tại CHDC Congo.[169] Hiện tại, CHDC Congo chưa có quy chuẩn quốc gia về chất lượng không khí.[170]
Văn hóa
Văn hóa của Cộng hòa Dân chủ Congo phản ánh sự đa dạng của vô số các nhóm sắc tộc và lối sống khác biệt trên khắp cả nước.[171] Kể từ cuối thế kỷ 19, lối sống truyền thống đã trải qua nhiều biến đổi do tác động của chủ nghĩa thực dân, cuộc đấu tranh giành độc lập, sự trì trệ trong kỷ nguyên Mobutu, và gần đây nhất là Chiến tranh Congo lần thứ nhất và thứ hai. Bất chấp những áp lực đó, phong tục và văn hóa của Congo vẫn giữ được phần lớn bản sắc riêng biệt của mình. Khoảng 81 triệu cư dân của đất nước này (số liệu năm 2016) chủ yếu sinh sống ở các khu vực nông thôn. Trong khi đó, 30% dân số sống tại các khu vực đô thị là nhóm người cởi mở nhất với các ảnh hưởng từ văn hóa phương Tây.
Xem thêm
Tham khảo
- ^ Van Reybrouck, David (2015). Congo: the epic history of a people. New York, NY: HarperCollins. tr. Chapter 1 and 2. ISBN 978-0-06-220012-9.
- ^ CIA World Factbook I, "Introduction".
- ^ "'I Will Not Leave This Place'". Global Press Journal (bằng tiếng Anh). ngày 7 tháng 10 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2025.
- ^ Coghlan, Benjamin; và đồng nghiệp (2007). Mortality in the Democratic Republic of Congo: An ongoing crisis: Full 26-page report (PDF) (Báo cáo). tr. 26. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 8 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2013.
- ^ Robinson, Simon (ngày 28 tháng 5 năm 2006). "The deadliest war in the world". Time. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2010.
- ^ Bavier, Joe (ngày 22 tháng 1 năm 2008). "Congo War driven crisis kills 45,000 a month". Reuters. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2010.
- ^ "Measuring Mortality in the Democratic Republic of Congo" (PDF). International Rescue Committee. 2007. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2011.
- ^ "Conflict in the Democratic Republic of Congo". Council on Foreign Relations. ngày 11 tháng 2 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2025.
- ^ "Democratic Republic of Congo in Crisis | Human Rights Watch". Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2021.
- ^ Mwanamilongo, Saleh; Anna, Cara (ngày 24 tháng 1 năm 2019). "Congo's surprise new leader in 1st peaceful power transfer". Associated Press. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2021.
- ^ "Congo rebels reach centre of eastern city in major escalation". Reuters. ngày 27 tháng 1 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2025.
- ^ "Congo's M23 rebels reach Goma: what is behind the insurgency?". Reuters. ngày 27 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2025.
- ^ a ă â b Rolley, Sonia (ngày 4 tháng 7 năm 2024). "Army disarray hobbles Congo's fight with Rwanda-backed rebels, officers say". Reuters. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2025.
- ^ a ă "Rwanda and DR Congo sign US-brokered peace agreement in Washington, DC". France 24. ngày 27 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2025. Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; tên "France24-27062025" được định nghĩa nhiều lần với nội dung khác nhau - ^ BBC. (9 October 2013). "DR Congo: Cursed by its natural wealth". BBC News website Lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2018 tại Wayback Machine Retrieved 9 December 2017.
- ^ Tshinu, G. M. (2022). Unpacking the resource curse and realism challenges on economic development in the Democratic Republic of Congo (DRC): Case of gecamines Lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2025 tại Wayback Machine. In Handbook of research on resource management and the struggle for water sustainability in Africa (pp. 318–336). IGI Global Scientific Publishing.
- ^ O'Neil, Patrick (2004). Essentials of Comparative Politics. New York, London: Norton. tr. 147. ISBN 978-0-393-97654-0.
- ^ "General Profile: Dem. Rep. of the Congo" (PDF). UN Trade and Development. 2023.
- ^ a ă CIA World Factbook I, "Economy".
- ^ "UN list of least developed countries". UN Trade and Development. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2025.
- ^ CIA World Factbook I, People and Society.
- ^ Robyn Dixon (ngày 12 tháng 4 năm 2018). "Violence is roiling the Democratic Republic of Congo. Some say it's a strategy to keep the president in power". Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2018.
- ^ "Democratic Republic of the Congo: Internally displaced persons and returnees, April 2024 | OCHA". www.unocha.org (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2025.
- ^ "Rwanda defence chief leads DR Congo rebels, UN report says". BBC News. ngày 17 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2012.
- ^ "Rwanda military aiding DRC mutiny, report says". BBC News. ngày 4 tháng 6 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2012.
- ^ "the Democratic Republic of the Congo: Hurdle After Hurdle". PGW Global Risk Management. PGW Global Risk Management LLP. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2017.
- ^ "DR Congo: Rebels Were Recruited to Crush Protests". Hrw.org. ngày 4 tháng 12 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2018.
- ^ "As DRC Prepares for Historic Election, Voters Remain Skeptical of Voting Machines". Global Press Journal (bằng tiếng Anh). ngày 16 tháng 12 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2025.
- ^ a ă â "Elections in DRC: What Happens Next?". Global Press Journal (bằng tiếng Anh). ngày 6 tháng 1 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2025.
- ^ Gonzales, Richard; Schwartz, Matthew S. (ngày 9 tháng 1 năm 2019). "Surprise Winner Of Congolese Election Is An Opposition Leader". NPR. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2019.
- ^ "REFILE-Opposition leader Felix Tshisekedi sworn in as Congo president". Reuters. ngày 24 tháng 1 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2019.
- ^ "DR Congo presidential election: Outcry as Tshisekedi named winner". BBC. ngày 10 tháng 1 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2019.
- ^ Bureau d'Études, de Recherche et de Consulting International (BERCI), Congo Research Group, and Ipsos South Africa. Democratic Republic of the Congo Opinion Poll: Elections 2018: An Anxious Electorate Demands Change. Report no. 6, Congo Research Group, Center on International Cooperation, New York University, Dec. 2018. Accessed 25 April 2025.
- ^ "DR Congo announces new govt 7 months after president inaugurated". Journal du Cameroun (bằng tiếng Pháp). ngày 26 tháng 8 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2019.
- ^ "DR Congo names new cabinet, cements president's power". Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2021.
- ^ "DR Congo measles: Nearly 5,000 dead in major outbreak" Lưu trữ ngày 11 tháng 2 năm 2020 tại Wayback Machine (21 November 2019). BBC. Retrieved 20 November 2020.
- ^ Dahir, Abdi Latif (ngày 25 tháng 6 năm 2020). "Congo's Deadliest Ebola Outbreak Is Declared Over". The New York Times (bằng tiếng Anh). Bản mẫu:ProQuest. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2021.
- ^ "Covid: DR Congo in race against time to vaccinate people". BBC News (bằng tiếng Anh). ngày 10 tháng 5 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2021.
- ^ Dahir, Abdi Latif (ngày 16 tháng 4 năm 2021). "Vaccine hesitancy runs high in some African countries, in some cases leaving unused doses to expire". The New York Times (bằng tiếng Anh). Bản mẫu:ProQuest. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2021.Bản mẫu:Cbignore
- ^ Pianigiani, Gaia (ngày 23 tháng 2 năm 2021). "Italy Mourns an Ambassador and His Bodyguard, Killed in Congo". The New York Times (bằng tiếng Anh). Bản mẫu:ProQuest. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2021.Bản mẫu:Cbignore
- ^ "Kenya, DRC sign deals on security, trade and transport". The East African (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 4 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2021.
- ^ AfricaNews (ngày 9 tháng 2 năm 2022). "RDC failed coup plot: president's security adviser in detention". Africanews (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2022.
- ^ "Combat troops patrol in Kinshasa after failed coup attempt". Africanews (bằng tiếng Anh). ngày 13 tháng 2 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2022.
- ^ "Tshisekedi re-elected DR Congo president as opposition calls vote a 'farce'". Al Jazeera (bằng tiếng Anh).
- ^ Dean, Sarah; Madowo, Larry (ngày 22 tháng 9 năm 2025). "Two countries signed a peace deal in Washington. On the ground, little has changed" (bằng tiếng Anh). CNN. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2025.
- ^ "Doha agreement brings DR Congo government and M23 rebels a step closer to peace | UN News". news.un.org (bằng tiếng Anh). ngày 20 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2025.
- ^ Lawal, Shola. "Kabila sentenced to death: What it means for DRC and what's next". Al Jazeera (bằng tiếng Anh).
- ^ "Lambertini, A Naturalist's Guide to the Tropics, excerpt". Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2008.
- ^ Clark, Jerome (1993) "Unexplained! 347 Strange Sightings, Incredible Occurrences, and Puzzling Physical Phenomena." Visible Ink Press, ISBN 0-8103-9436-7
- ^ Mackal, R. P. (1987) A Living Dinosaur? In Search of Mokele-Mbembe. E.J. Brill, ISBN 90-04-08543-2
- ^ Congo, episode 2 of 4 ("Spirits of the Forest")
- ^ a ă â CIA World Factbook I, "Government".
- ^ Constitution of the DRC, Article 69.
- ^ Constitution of the DRC, Article 70.
- ^ a ă â Constitution of the DRC, Article 90.
- ^ Constitution of the DRC, Article 78.
- ^ Constitution of the DRC, Articles 101, 103.
- ^ Constitution of the DRC, Articles 104, 105.
- ^ Constitution of the DRC, Article 83.
- ^ Constitution of the DRC, Article 81.
- ^ Constitution of the DRC, Article 149.
- ^ Constitution of the DRC, Articles 160, 161.
- ^ Constitution of the DRC, Article 153.
- ^ Constitution of the DRC, Article 155.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tência.gov - ^ "The National Assembly adopts the laws regarding the limits of the provinces in the Democratic Republic of the Congo (in French)". National Assembly of the Democratic Republic of the Congo. ngày 10 tháng 1 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2024.
- ^ "Constitution de la République Démocratique du Congo". Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 8 năm 2006.
- ^ "Foreign travel advice – Democratic Republic of the Congo". Gov.uk. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2023.
- ^ "UN expert on violence against women expresses serious concerns following visit to Democratic Republic of the Congo". UNOG.ch. ngày 30 tháng 7 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 2 năm 2008.
- ^ "OHCHR | Africa Region". Ohchr.org (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2017.
- ^ McCrummen, Stephanie (ngày 9 tháng 9 năm 2007). "Prevalence of Rape in E. Congo Described as Worst in World". The Washington Post. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2010.
- ^ "UN official calls DR Congo 'rape capital of the world.'". BBC. ngày 28 tháng 4 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2012.
- ^ Matundu Mbambi, Annie; Faray-Kele, Marie-Claire (April–December 2010). "Gender Inequality and Social Institutions in the D.R.Congo" (PDF). peacewomen.org. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 31 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2014.
- ^ "Female Genital Cutting Rates | African Women's Health Center at BWH" Lưu trữ ngày 29 tháng 11 năm 2014 tại Wayback Machine. brighamandwomens.org.
- ^ RESPONSES TO INFORMATION REQUESTS (RIRs) Lưu trữ ngày 14 tháng 4 năm 2014 tại Wayback Machine. justice.gov. 17 April 2012.
- ^ Luật về bạo lực tình dục, CHDC Congo 2006 (Les lois sur les violences sexuelles) quy định (nguyên văn tiếng Pháp): "Article 3, Paragraphe 7: De la mutilation sexuelle; Article 174g; Sera puni d'une peine de servitude pénale de deux à cinq ans et d'une amende de deux cent mille francs congolais constants, quiconque aura posé un acte qui porte atteinte à l'intégrité physique ou fonctionnelle des organes génitaux d'une personne. Lorsque la mutilation a entraîné la mort, la peine est de servitude pénale à perpétuité.""Les lois sur les violences sexuelles" [The laws against sexual violence]. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2014.
- ^ a ă Overland, Indra (ngày 1 tháng 3 năm 2019). "The geopolitics of renewable energy: Debunking four emerging myths". Energy Research & Social Science. 49: 36–40. Bibcode:2019ERSS...49...36O. doi:10.1016/j.erss.2018.10.018.
- ^ Vandiver, John. "An April 2009 report to Congress by the National Defense Stockpile Center". Stripes.com. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2010.
- ^ "Which Countries Are For or Against China's Xinjiang Policies?". The Diplomat. ngày 15 tháng 7 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2019.
- ^ "Congo Reviews $6.2 Billion China Mining Deal as Criticism Grows". Bloomberg. ngày 28 tháng 9 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2021.
- ^ "China Cash Flowed Through Congo Bank to Former President's Cronies". Bloomberg. ngày 28 tháng 11 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2021.
- ^ "Member States". Southern African Development Community: Towards a common future. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2014.
- ^ a ă â b c IISS (2023). The Military Balance 2023. International Institute for Strategic Studies. tr. 446–447.
- ^ a ă â "Security Sector Institutions and the DRC's Political Crisis". Africa Center for Strategic Studies. ngày 20 tháng 12 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2025.
- ^ a ă Ilunga, Patrick (ngày 4 tháng 10 năm 2022). "Congo's Tshisekedi names new army chief in military reforms". EastAfrican. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2025.
- ^ a ă â b c "Congo, DR Country Report: BTI 2026". Bertelsmann Transformation Index. 2026. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2026.
- ^ CIA World Factbook I, "Military and Security".
- ^ Constitution of the DRC, Articles 182, 183, 184.
- ^ Democratic Republic of the Congo: Poverty Reduction Strategy Paper-Progress Report (EPub). International Monetary Fund. 2010. tr. 56–. ISBN 978-1-4552-2241-4. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2015.
- ^ "Democratic Republic of the Congo (DRC) and the Rome Statute". Parliamentarians for Global Action. ngày 19 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2025.
- ^ Ludwig, Arnold M. (2002). King of the Mountain: The Nature of Political Leadership. University Press of Kentucky. tr. 72. ISBN 978-0-8131-2233-5.
- ^ Nafziger, E. Wayne; Raimo Frances Stewart (2000). War, Hunger, and Displacement: The Origins of Humanitarian Emergencies. Faculty of Philosophy Columbia University. tr. 261. ISBN 978-0-19-829739-0.
- ^ Washington Post, "Mobutu: A Rich man In Poor Standing". Lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2022 tại Wayback Machine 2 October 1991.
- ^ The New York Times, "Mobutu's village basks in his glory". Lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2024 tại Wayback Machine 29 September 1988.
- ^ Bản mẫu:Cite magazine
- ^ "Vital Kamerhe: DRC president's chief of staff found guilty of corruption". BBC News. ngày 20 tháng 6 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2021.
- ^ what-conditions-has-vital-kamerhe-been-released/ "DRC: Under what conditions has Vital Kamerhe been released?". The Africa Report.com. ngày 7 tháng 12 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2022.
{{Chú thích báo}}: Kiểm tra giá trị|url=(trợ giúp) - ^ "DRC: Investigation opens on Joseph Kabila over $138 million embezzlement". Africanews (bằng tiếng Anh). ngày 24 tháng 11 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2021.
- ^ "GDP, current prices (PPP)". International Monetary Fund. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2025.
- ^ "General Profile: Dem. Rep. of the Congo" (PDF). UN Trade and Development. 2023.
- ^ a ă â b "Democratic Rep. of Congo" (PDF). World Bank. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2025.
- ^ "Democratic Republic of the Congo – Market Overview". International Trade Administration. ngày 14 tháng 3 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2025.
- ^ a ă Kuwonu, Franck (August–November 2016). "DRC economy: The giant awakens". Africa Renewal. United Nations. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 2 năm 2017.
- ^ Damania và đồng nghiệp 2016, tr. 17.
- ^ "Why Congo's chaotic election matters". The Economist. ngày 18 tháng 12 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
- ^ "The World Bank in DRC". World Bank Group. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2025.
- ^ "Dublin". Research and Markets. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2010.
- ^ Elle "pouvait se prévaloir Lưu trữ ngày 25 tháng 11 năm 2009 tại Wayback Machine
- ^ "Cobalt: World Mine Production, By Country". Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2008.
- ^ "DR Congo poll crucial for Africa" BBC News. ngày 16 tháng 11 năm 2006.
- ^ Polgreen, Lydia (ngày 16 tháng 11 năm 2008). "Congo's Riches, Looted by Renegade Troops, New York Times, 11/15/08". The New York Times. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2010.
- ^ What is happening in the Congo? Lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2011 tại Wayback Machine Unwatchable - documentary film
- ^ "Katanga Project Update and 2Q 2008 Financials, Katanga Mining Limited, 8/12/08". Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2012.
- ^ John Vandiver. "DR Congo economic and strategic significance". Stripes.com. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2010.
- ^ "Democratic Republic of the Congo". Freedom House. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2025.
- ^ List of airlines banned within the EU – Official EC list, updated 2011-04-20. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2011
- ^ a ă CIA World Factbook I, "Transportation".
- ^ a ă Damania và đồng nghiệp 2016, tr. 16.
- ^ Foster & Benitez 2010, tr. 10–11.
- ^ Dobbins, Miller; Pezard, Stephanie; Chivvis, Christopher S.; Taylor, Julie E.; Crane, Keith; Trenkov-Wermuth, Calin; Mengistu, Tewodaj (2013). "Democratic Republic of the Congo". Overcoming Obstacles to Peace. RAND Corporation. tr. 179–204. JSTOR 10.7249/j.ctt3fgzrv.16.
- ^ Foster & Benitez 2010, tr. 15–16.
- ^ List of airlines banned within the EU, Official EC list, updated 20 April 2011. Retrieved 20 September 2011.
- ^ a ă â "Democratic Republic of the Congo". East African Community. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2025.
- ^ a ă Foster & Benitez 2010, tr. 12.
- ^ a ă Damania và đồng nghiệp 2016, tr. 21.
- ^ Foster & Benitez 2010, tr. 4.
- ^ Gunia, Amy; Prager, Jackelyn (ngày 4 tháng 11 năm 2024). "A rejuvenated railway could change how minerals move in Africa – and globally". CNN.
- ^ Foster & Benitez 2010, tr. 12—13.
- ^ Kavanagh, Michael J. (ngày 26 tháng 10 năm 2019). "Russian Railways, DR Congo to Discuss Possible $500m Rail Deal". Bloomberg News. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2024.
- ^ "Réseau Routier National de la RDC / DRC National Roads Network". Humanitarian Data Exchange. 2023.
- ^ a ă Fisk, Robert (ngày 27 tháng 10 năm 2024). "The country in Africa without a single motorway despite being absolutely massive". Daily Express.
- ^ "Democratic Republic of Congo – National Road No.1 Rehabilitation Project: Kinshasa/Ndjili – Batshamba Section". African Development Bank. 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2025.
- ^ "République Démocratique du Congo: Sectionnement de la Route Nationale 3 (au 3 Dec 2007)". ReliefWeb (bằng tiếng Pháp). ngày 3 tháng 12 năm 2007.
- ^ Yee, Amy (ngày 30 tháng 8 năm 2017). "The Power Plants That May Save a Park, and Aid a Country". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2017.
- ^ "Energie hydraulique des barrages d'Inga: Grands potentiels pour le développement de la République Démocratique du Congo et de l'Afrique" [Technical Study preparing lobby-work on energy-resources and conflict prevention – Hydroelectric power dams at Inga: Great potential for the development of the Democratic Republic of Congo and Africa] (PDF) (bằng tiếng Pháp). suedwind-institut.de. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 21 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2013.
- ^ Foster & Benitez 2010, tr. 4, 8.
- ^ Foster & Benitez 2010, tr. 6, 8.
- ^ a ă Foster & Benitez 2010, tr. 8.
- ^ Vandiver, John. "DR Congo economic and strategic significance". Stripes.com. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2010.
- ^ "Energy Profile Congo, Dem. Rep". Reegle.info. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2017.
- ^ a ă CIA World Factbook I, "People and Society".
- ^ "Democratic Republic of the Congo Demographic Trends". Open Data for Africa. UN, Department of Economic and Social Affairs, Population Division. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2023.
- ^ "The World Factbook: Africa – Congo, Democratic Republic of the". The World Factbook. CIA. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2016.
- ^ "Africa Population (2022)". populationstat.com. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2022.
- ^ "Democratic Republic of the Congo in Crisis | Human Rights Watch". Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2021.
- ^ "Evidence from the Democratic Republic of Congo" (PDF). IDRC CRDI. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2024.
- ^ La langue française dans le monde Lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2021 tại Wayback Machine, Éditions Gallimard, Organisation internationale de la Francophonie
- ^ "Target Survey: French, the most spoken language in DRC, far ahead of Lingala". ngày 10 tháng 7 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2022.
- ^ "Pew Forum on Religion & Public Life / Islam and Christianity in Sub-Saharan Africa" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2018.
- ^ "Global Religious Landscape". Pew Forum. ngày 18 tháng 12 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015.
- ^ "Democratic Republic of the Congo Demographic Trends". Open Data for Africa. UN, Department of Economic and Social Affairs, Population Division. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2023.
- ^ "Pew Forum on Religion & Public Life / Islam and Christianity in Sub-Saharan Africa" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2015.
- ^ Ministère du Plan et Suivi de la Mise en oeuvre de la Révolution de la Modernité (MPSMRM); Ministère de la Santé Publique (MSP); ICF International. Enquête Démographique et de Santé en République Démocratique du Congo 2013–2014 (PDF). tr. 41–3. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 26 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2015.
- ^ Constitution de la République démocratique du Congo - Wikisource
- ^ a ă â "Congo, Democratic Republic of the." 2005 Findings on the Worst Forms of Child Labor Lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2006 tại Wayback Machine. Bureau of International Labor Affairs, Hoa Kỳ Department of Labor (2006). This article incorporates text from this source, which is in the public domain.
- ^ "DRC: Health-care system on verge of collapse in North and South Kivu". International Committee of The Red Cross. ngày 17 tháng 6 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2025.
- ^ Luneghe, Merveille Kuvira (ngày 10 tháng 6 năm 2025). "Closed Clinics, Empty Shelves: Patients Struggle as War Unravels Lubero's Health Care System". Global Press Journal. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2025.
- ^ McNeil, Donald G. Jr. (ngày 11 tháng 4 năm 2011). "Congo, With Donors' Help, Introduces New Vaccine for Pneumococcal Disease". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2017.
- ^ "The World Factbook – Field Listing : HIV/AIDS: adult prevalence rate". Cia.gov. 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2015.
- ^ "DRC: Malaria still biggest killer". IRIN. ngày 28 tháng 4 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2015.
- ^ "Democratic Republic of the Congo, Epidemiological profile, World Malaria Report 2014" (PDF). World Health Organization. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 19 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2015.
- ^ "Yellow fever in the Democratic Republic of the Congo". World Health Organization. ngày 24 tháng 4 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2015.
- ^ "DRC: Health-care system on verge of collapse". www.icrc.org (bằng tiếng Anh). International Committee of The Red Cross. ngày 17 tháng 6 năm 2025.
- ^ "Epidemic of Ebola Disease caused by Bundibugyo virus in the Democratic Republic of the Congo and Uganda determined a public health emergency of international concern". World Health Organization. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2026.
- ^ "Democratic Republic of the Congo". www.roadsafetyfacility.org (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2023.
- ^ "The World Factbook – Country Comparison: Maternal mortality rate". Cia.gov. 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2015.
- ^ "Democratic Republic of the Congo" Lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2015 tại Wayback Machine. scalingupnutrition.org.
- ^ "Millions 'on the edge' in DR Congo, now in even greater danger of tipping over: WFP". UN News. ngày 12 tháng 8 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2020.
- ^ a ă "The Air Quality Life Index (AQLI)". AQLI (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2022.
- ^ Environment, U. N. (ngày 31 tháng 8 năm 2021). "Regulating Air Quality: the First Global Assessment of Air Pollution Legislation". UNEP – UN Environment Programme (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 8 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2022.
- ^ De Boeck, Filip & Plissart, Marie-Françoise. (2004) Kinshasa: Tales of the Invisible City Ludion. Bản mẫu:ISBN. Photography and analysis of everyday life in Kinshasa, together with extensive quotations from contemporary Congolese. The last chapter is available as a PDF here
Nguồn
- "Congo, Democratic Republic of the". The World Factbook. Central Intelligence Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2021.
- "Congo, Democratic Republic of the". The World Factbook. Central Intelligence Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 11 năm 2004.
- "Congo, Democratic Republic of the". The World Factbook. Central Intelligence Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2000.
- "Congo (Democratic Republic of the) 2005 (rev. 2011)". Ruchti, Jefri J. biên dịch. Constitute Project.
- Damania, Richard; Barra, Alvaro Federico; Burnouf, Mathilde; Russ, Jason Daniel (2016). "Transport, Economic Growth, and Deforestation in the Democratic Republic of Congo: A Spatial Analysis" (PDF). World Bank. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2025.
- Foster, Vivien; Benitez, Daniel Alberto (2010). "The Democratic Republic of Congo's Infrastructure: A Continental Perspective" (PDF). World Bank. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2025.
- Gondola, Ch. Didier (2002). The History of Congo. Westport, Connecticut: Greenwood Press. ISBN 0-313-31696-1.
- Landry, David G. (tháng 5 năm 2018). "The risks and rewards of Resources-for-Infrastructure deals: Lessons from the Congo's Sicomines agreement" (PDF). China-Africa Research Initiative. Johns Hopkins University.
- Meditz, Sandra W.; Merrill, Tim, biên tập (1994). Zaire: A Country Study (ấn bản thứ 4). Washington, D.C.: Federal Research Division, Library of Congress. LCCN 94025092.
- Reyntjens, Filip (2009). The Great African War: Congo and Regional Geopolitics, 1996–2006. Cambridge: Cambridge University Press. doi:10.1017/CBO9780511596698. ISBN 978-0-521-11128-7.
- Young, M. Crawford; Turner, Thomas Edwin (2013). The Rise and Decline of the Zairian State . University of Wisconsin Press. ISBN 978-0-299-10113-8. JSTOR jj.36032726. OCLC 827948934. Bản mẫu:Project MUSE.
Liên kết ngoài
| Tập tin phương tiện từ Commons | |
| Tìm kiếm Wikiquote | Danh ngôn từ Wikiquote |
| Tìm kiếm Wikivoyage | Cẩm nang du lịch guide từ Wikivoyage |
- CIA World Factbook - Democratic Republic of the Congo Lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2000 tại Wayback Machine
- Tập tin:Gnome-globe.svg Wikimedia Atlas của the Democratic Republic of the Congo (bằng tiếng Anh)
- Bản mẫu:Osmrelation-inline
Bản mẫu:Các quốc gia châu Phi Bản mẫu:Liên minh châu Phi Bản mẫu:Cộng đồng Phát triển Nam Phi