Dragunov SVD
SVD (СВД; tiếng Nga: снайперская винтовка Драгунова, đã Latinh hoá: snayperskaya vintovka Dragunova, n.đ. 'súng trường bắn tỉa Dragunov'), mã định danh GRAU 6V1,[2] là một loại súng trường bán tự động thiện xạ/súng trường bắn tỉa[3] sử dụng cỡ đạn 7,62×54mmR bởi Liên Xô.
| Dragunov SVD | |
|---|---|
Một mẫu súng bắn tỉa bán tự động SVD | |
| Loại | Súng trường thiện xạ |
| Nơi chế tạo | |
| Lược sử hoạt động | |
| Phục vụ | 1963 – Nay |
| Sử dụng bởi | Xem Các quốc gia sử dụng |
| Trận | Xem Các trận đánh đã sử dụng |
| Lược sử chế tạo | |
| Người thiết kế | Yevgeny Dragunov |
| Năm thiết kế | 1958 – 1963 |
| Nhà sản xuất | Tập đoàn Kalashnikov Norinco Nhà máy Z111 |
| Giai đoạn sản xuất | 1963 – nay[1] |
| Các biến thể | Các biến thể |
| Thông số | |
| Khối lượng |
|
| Chiều dài |
|
| Độ dài nòng |
|
| Đạn | 7,62×54mmR |
| Cơ cấu lên đạn | Trích khí ngắn, nạp đạn bằng khí nén, thoi nạp đạn xoay |
| Tốc độ bắn | 30 phát/phút |
| Sơ tốc đầu nòng | |
| Tầm bắn hiệu quả | 800 m |
| Tầm bắn xa nhất | 1.300 m với ống ngắm PSO-1 1.200 m với điểm ruồi 2.000m ngoài Đường đạn xa nhất |
| Chế độ nạp | Băng đạn rời 10 viên |
| Ngắm bắn | Kính ngắm quang học PSO-1 hoặc điểm ruồi và thước ngắm |
Thiết kế của Dragunov SVD được tuyên bố thắng trong cuộc cạnh tranh giữa ba mẫu thiết kế, mẫu đầu tiên được biết đến như SSV-58 (được thiết kế bởi Sergei Gavrilovich Simonov), mẫu thứ hai là mẫu thử nghiệm có tên 2B-W10 (được thiết kế bởi Alexander Konstantinov), mẫu thứ ba có tên SVD-137 (được thiết kế bởi Yevgeny Dragunov). Sau một loạt các thử nghiệm gắt gao trong các môi trường chiến đấu khác nhau, mẫu SVD-137 của Dragunov đã được lựa chọn đưa vào phục vụ trong quân đội năm 1963. Lô sản xuất hàng loạt thử nghiệm đầu tiên đã làm 200 khẩu để đánh giá chất lượng và trong năm 1965 việc sản xuất hàng loạt loại súng này được đảm nhiệm bởi Izhevsk Mechanical Works.
Kể từ đó Dragunov SVD đã trở thành vũ khí hỗ trợ tiêu chuẩn cho các nhóm lính tại nhiều quốc gia kể cả các nước thuộc khối Warszawa. Trung Quốc sản xuất bất hợp pháp SVD dưới tên Type 79 và Type 85.
Lịch sử phát triển và sử dụng
SVD được thiết kế để đảm nhiệm vai trò hỗ trợ cấp tiểu đội, cung cấp khả năng tác chiến chính xác ở tầm xa cho binh sĩ thông thường sau khi Khối Warszawa áp dụng đạn trung gian 7,62×39mm và súng trường tấn công làm hệ thống vũ khí bộ binh tiêu chuẩn. Vào thời điểm đó, NATO vẫn sử dụng súng trường chiến đấu sử dụng đạn cỡ lớn 7,62×51mm NATO làm vũ khí bộ binh tiêu chuẩn và chưa áp dụng đạn trung gian cùng súng trường tấn công của riêng mình, điều này cho phép họ có tầm bắn xa hơn so với các lực lượng của Khối Warszawa.[4]
SVD được phát triển trong giai đoạn 1958–1963 và được chọn là thiết kế chiến thắng trong một cuộc thi có ba nhóm thiết kế tham gia, do Sergei Simonov (mẫu thử bị loại vào tháng 4 năm 1960), Aleksandr Konstantinov, và Yevgeny Dragunov dẫn đầu. Các cuộc thử nghiệm thực địa quy mô lớn đối với các mẫu súng, được tiến hành trong nhiều điều kiện môi trường khác nhau (nguyên mẫu cạnh tranh 2B-W-10 của Konstantinov đơn giản và rẻ hơn nhưng kém chính xác, độ bền và độ tin cậy thấp hơn), đã dẫn đến việc đề xuất của Dragunov, sử dụng đạn cỡ lớn 7,62×54mmR, được chấp nhận đưa vào trang bị vào tháng 7 năm 19633.[5] Một lô tiền sản xuất ban đầu gồm 200 khẩu súng được lắp ráp để phục vụ mục đích đánh giá, và từ năm 1964 việc sản xuất hàng loạt được tiến hành tại Izhmash, sau này được gọi là Kalashnikov Concern.
Từ đó đến nay, SVD đã trở thành vũ khí hỗ trợ cấp tiểu đội tiêu chuẩn của nhiều quốc gia, bao gồm các nước thuộc Khối Warszawa trước đây. Trung Quốc đã sản xuất bản sao của SVD thông qua việc đảo ngược kỹ thuật từ các mẫu súng thu được trong Chiến tranh Trung–Việt, với các phiên bản Type 79 và Type 85.[6] Iran cũng sản xuất một bản sao mang tên Nakhjir 3, vốn là bản sao trực tiếp của Type 79 của Trung Quốc.
Trong quân đội Nga, SVD dự kiến sẽ được thay thế bởi súng bắn tỉa Chukavin SVCh. Tháng 2 năm 2023, có thông tin cho biết SVCh Chukavin đã bắt đầu được sản xuất hàng loạt bởi Kalashnikov Concern.[7] Khi sử dụng đạn 7,62×54mmR, SVCh Chukavin có thể dùng chung hộp tiếp đạn với SVD.[8][9][10]
Trong quân đội Ukraina, SVD phần lớn đã được thay thế trong vai trò súng bắn tỉa bằng các súng bắn tỉa phương Tây sử dụng đạn .338 Lapua Magnum hoặc 7,62×51mm NATO, cũng như súng bắn tỉa công phá như Barrett M107A1.[11][12] Ngoài ra, súng bắn tỉa UAR-10 do Ukraina sản xuất trong nước cũng đang thay thế SVD trong các đơn vị quân đội và lực lượng thực thi pháp luật của Ukraina.[13] Theo McNab, SVD vẫn tiếp tục được lực lượng Ukraina sử dụng trong vai trò súng trường thiện xạ.[14]
Thông số thiết kế
Cơ chế hoạt động
Dragunov SVD là súng bắn tỉa bán tự động với một hệ thống trích khí ngắn, khoang chứa đạn sử dụng khóa nòng xoay (xoay về bên trái) sử dụng ba móc khóa viên đạn cố định vào vị trí khớp với nòng súng tránh bị lệch do phản lực khi bắn. Khẩu SVD có thể điều chỉnh bằng tay hai chế độ trích khí.
Sau khi sử dụng viên đạn cuối cùng trong hộp đạn, khoang chứa đạn và thoi nạp đạn sẽ được giữ ở vị trí kéo về phía sau và được giữ bởi một con ốc có thể đưa nó trở lại vị trí cũ bằng cách đẩy cò súng lên phía trước. Khẩu này có cơ chế sử dụng búa điểm hỏa và có thể chỉnh chế độ an toàn. Độ chính xác của loại súng này được tăng cường do các rãnh xoán trong nòng được gia công. Dragunov có khá nhiều điểm tương đồng với khẩu AK như có một bộ phận chống bám bụi cỡ lớn, điểm ruồi và các chế độ an toàn nhưng các điểm tương đồng này là hết sức tự nhiên về mặt thẩm mỹ.
Các sản phẩm tương tự SVD ở phương Tây là súng M110 SASS bán tự động, súng bắn tỉa L129A1 và G28.[15]
Tính năng
Loại súng này sử dụng hộp đạn rời 10 viên và thường được cột chung hai băng với nhau khi tác chiến.
Nòng súng của Dragunov có thể gắn bộ phận che lửa đầu nòng. Nòng súng được mạ một lớp crôm[16] để tăng khả năng chống bị ăn mòn và có bốn đường rãnh 320 mm (1:12,6 in) xoắn về phía tay phải. Nòng súng dài 547 mm (21,5 in). Sau này chiều dài rãnh xoắn bị giảm còn khoảng 240 mm (1:9,4 in) làm độ chính xác của viên đạn cũng như sơ tốc giảm đi một chút, chỉ còn 810 m/s (2.657,5 ft/s). Việc này được thực hiện để có thể sử dụng thêm các loại đạn lửa và đạn xuyên giáp. Các loại đạn đặc biệt yêu cầu chiều dài rãnh xoắn phải ngắn hơn khi sử dụng đạn thông thường để có thể giữ được độ ổn định.[17]
Đối với những phát đạn cần độ chính xác cao, một loại đạn riêng dùng để bắn tỉa đã được thiết kế bởi V. M. Sabelnikov, P. P. Sazonov và V. M. Dvorianinov. Loại đạn 7N1 này được giữ độc quyền, với lõi đạn ngoài bằng thép và lõi đạn trong bằng chì làm tăng khả năng xuyên thủng lên tối đa khi trúng mục tiêu, đạn có các khe dẫn khí cố định để đường đạn ổn định hơn. Loại đạn 7N1 đã được thay thế bằng loại đạn 7N14 vào năm 1999. Loại đạn 7N14 được thiết kế riêng cho SVD. Nó có 151 hạt thuốc súng và có thể di chuyển với vận tốc 830 m/s, nhưng nó có một lõi đạn đặc hoàn toàn bằng thép cứng. SVD cũng thể bắn các loại đạn thường như 7,62x54mmR hay đạn lửa và đạn xuyên giáp.[cần dẫn nguồn]
Quân đội Nga đã thiết lập ra các tiêu chuẩn về độ chính xác cho SVD và các loại đạn tương ứng của nó phải đáp ứng. Các nhà sản xuất phải bắn thử nghiệm để kiểm tra độ chính xác của khẩu súng hay lô đạn để xem có đạt được tiêu chuẩn này không. Để có thể theo tiêu chuẩn của SVD, loại đạn 7N1 đã phải đáp ứng tiêu chuẩn độ lệch không quá 1,24 MOA (mỗi MOA là 1/60 độ cho 100m) khi nòng súng có hai rãnh xoắn dài 240 mm và tăng lên 1,04 MOA ở 300 mét khi hai rãnh xoắn của nòng súng dài 340 mm. Khi sử dụng loại đạn tiêu chuẩn 57-N-323S thì độ chính xác giảm xuống 2,21 MOA ở 300 mét.[cần dẫn nguồn] Độ lệch của viên đạn được xác định khi SVD bắn năm viên trong khoảng cách 300 m. Độ chính xác của SVD khi sử dụng loại đạn chuyên bắn tỉa còn cao hơn súng bắn tỉa M24 của Hoa Kỳ khi sử dụng loại đạn M118 (với độ lệch là 1,18 MOA ở 274 mét) [cần dẫn nguồn] hay khẩu súng bắn tỉa bán tự động M110 khi sử dụng loại đạn M118LR (với độ lệch là 1,27 MOA ở 91 mét).[18]
Ở khoảng cách 100 mét, các viên đạn SVD nằm gọn trong một vòng tròn có đường kính 10 cm.[19]
SVD có thể tháo ra làm nhiều phần: hai bộ phận gỗ là tay cầm cò súng và bọc hệ thống trích khí, bộ khung báng súng bằng gỗ cũng có thể tháo ra để dễ ngắm khi sử dụng điểm ruồi và thước ngắm. Các mẫu sau này đã thay thế các bộ phận bằng gỗ và một số bộ phận khác bằng nhựa đen, cũng như báng súng có hình dáng khác [cần dẫn nguồn]
Ngắm bắn
SVD có hệ thống điểm ruồi và thước ngắm dự phòng khi không có ống ngắm (có thể ngắm bắn trong cự ly 1.200 mét). Điểm ruồi có thể được sử dụng khi có hay không có ống ngắm, điều này là có thể vì ống ngắm được lắp ở vị trí không cản trở tầm nhìn từ thước ngắm đến điểm ruồi.[cần dẫn nguồn]
Các khẩu Dragunov được thiết kế để có thể tháo lắp nhanh chóng loại kính ngắm quang học PSO-1.[20] kính ngắm quang học PSO-1 dài khoảng 375 mm, có bộ phận che ánh sáng mặt trời, có thể phóng đại hình ảnh lên 4X và hình ảnh ngắm lồi lên khoảng 6°) được gắn vào thanh răng trên thân súng ở vị trí không cản trở tầm nhìn từ thước ngắm đến điểm ruồi. kính ngắm quang học PSO-1 có rất nhiều tính năng như khả năng tính đường cong của đường đạn, một nút điều khiển chiều cao, một hệ thống tính khoảng cách đến mục tiêu cũng như chế độ nhìn trong đêm với ánh sáng yếu dùng để tìm mục tiêu. PSO-1 có tầm nhắm hiệu quả trong khoảng cách 1.300m, tầm ngắm hiệu quả nhất trong khoảng từ 600m - 1.300m tùy thuộc vào điều kiện thời tiết cũng như chất lượng của viên đạn và tài nghệ của xạ thủ.[21][22] Tính năng ấn tượng nhất của nó là có một bộ lọc hồng ngoại [cần dẫn nguồn], được thiết kế để chống lại các thiết bị nhìn đêm thế hệ đầu tiên như M3 Carbine sử dụng đèn chiếu tia hồng ngoại. Việc kích hoạt bộ lọc hồng ngoại trên PSO-1 cho phép người bắn tỉa phát hiện ánh sáng hồng ngoại này trong bóng tối để có thể tiêu diệt xạ thủ đối phương.[cần dẫn nguồn]
Vài mẫu khác của kính ngắm quang học PSO có nhiều mức phóng đại hình ảnh khác nhau và hệ thkính ngắm quang học khác nhau.[20] Khẩu SVDN được thiết kế để gắn các ống ngắm nhìn trong đêm như NSP-3, NSPU, PGN-1, NSPUM hay kính ngắm quang học của Ba Lan là PCS-6 vì đây là loại súng chuyên bắn tỉa trong đêm.
Phụ kiện
Có rất nhiều phụ kiện được chế tạo cho SVD như lưỡi lê hình dao (thường gắn trên AKM), một khung gắn bốn băng đạn với nhau thành hình vuông để thuận tiện khi tác chiến, dây đeo bằng vải hay nhựa, bao chứa đạn, dụng cụ làm sạch và bảo trì súng cũng như ống ngắm...
Các biến thể
- SVDN (6V1N) – Một loạt biến thể của SVD nguyên bản được trang bị nhiều loại ống ngắm nhìn đêm khác nhau.
- SVDS (6V3) – Những nỗ lực nhằm giảm chiều dài của súng để sử dụng cho thủy quân lục chiến, bộ binh cơ giới và lính dù bắt đầu từ năm 1978 bằng cách bổ sung báng gập và tay cầm súng riêng biệt. Ban đầu, các thiết kế báng có sẵn được sử dụng (chẳng hạn như báng của AKS-74), nhưng các vấn đề về công thái học khiến phải thiết kế một loại báng gập riêng.[23] Thiết kế cuối cùng được chọn từ nhiều nguyên mẫu và được đưa vào trang bị năm 1995, với báng kim loại gập sang phải để không cản trở giá lắp ống ngắm và có nòng súng rút ngắn. Báng súng có đệm vai bằng cao su và đệm tỳ má. Nòng súng cũng được tăng độ dày, khung thân súng được gia cường, khối trích khí được cải tiến, và sử dụng bộ triệt lửa hình nón ngắn có lỗ thoát khí. Biến thể SVDSN (6V3N) tương tự như SVDN, được trang bị các thiết bị nhìn đêm khác nhau. Việc sản xuất vẫn tiếp tục đến năm 2025 với tốc độ tăng đáng kể.[24]
- SVD-1990 (SVD-90) – Biến thể của SVD với báng và ốp tay làm bằng polymer màu đen.[25][26]
- SVDM – Biến thể hiện đại hóa của SVDS, được đưa vào trang bị năm 2018.[27] So với phiên bản trước, SVDM có nòng dày hơn (dài 550 mm), bộ phận ốp súng mới, và ray Picatinny trên nắp bụi bản lề mới. Ống ngắm quang học biến thiên 1P88-4 (1П88-4) được dùng làm kính ngắm ban ngày tiêu chuẩn. SVDM có thể sử dụng chân chống hai chân tháo rời và ống giảm thanh tháo nhanh. Hệ thống thước ngắm cơ khí được đơn giản hóa với thước ngắm sau mới và điểm ruồi mới phía trên khối khí. SVDM có chiều dài 1.135 mm (44,7 in) (975 mm (38,4 in) khi gập báng) và khối lượng 5,3 kg (12 lb).[28]
- OTs-03 SVU – Biến thể của TKB-0172, bắt đầu sản xuất hàng loạt năm 1991 cho Bộ Nội vụ Nga. Súng được trang bị chóp bù giật cải tiến và thước ngắm sau kiểu lỗ giống nguyên mẫu SVD ban đầu. Nhiều khẩu không phải sản xuất mới mà là SVD được cải tạo lại. Một biến thể bắn tự động (OTs-03A(S) SVU-A) cũng được sản xuất với số lượng nhỏ để dùng như súng trường tự động, nhưng khả năng bắn tự động sau đó bị loại bỏ khỏi thiết kế. Nòng ngắn ban đầu cũng được thay bằng nòng tiêu chuẩn dài.
Nguyên mẫu
- SSV-58 – Nguyên mẫu do Dragunov gửi tham gia thử nghiệm. Thiết kế không có triệt lửa cố định và ngàm gắn lưỡi lê, các chi tiết này được bổ sung trước khi chính thức đưa vào trang bị. Thước ngắm sau được gắn trên nắp bụi và là kiểu lỗ thay vì kiểu rãnh tiêu chuẩn.
- TKB-0172 – Thiết kế bullpup ban đầu của SVD do Cục thiết kế vũ khí thể thao và săn bắn Tula phát triển vào những năm 1980. Khẩu súng này cũng có nòng rút ngắn đáng kể để giảm chiều dài tổng thể.
- V-70 – Nguyên mẫu súng trường tự động phát triển năm 1968. Thiết kế gồm chân chống mới, nòng dày và ngắn hơn, thiết bị đầu nòng mới, và hộp đạn 15 hoặc 20 viên. Chân chống thiết kế cho dự án này sau đó được dùng trong các mẫu SVD tiếp theo.
- AF – Nguyên mẫu súng trường tự động phát triển vào giữa thập niên 1970. Các nguyên mẫu sử dụng đạn 5.45×39mm và tương thích với hộp đạn AK-74 (đặc biệt là hộp đạn 45 viên cũng dùng cho RPK-74).
- SVDG (6V1-10) – Phiên bản SVD nòng trơn cỡ 10 mm, được phát triển cùng chương trình đạn trung gian hiện đại, sử dụng đạn xuyên giáp mũi tên APFSDS cỡ 3 mm thử nghiệm. Thiết kế không được áp dụng do hiệu quả đạn kém và độ phức tạp của vũ khí.
- SSV-6 (6V1-6) – Sử dụng đạn thử nghiệm 6 mm phát triển vào những năm 1980. Vũ khí không được chấp nhận do hiệu quả chiến đấu của loại đạn này thấp.
- SVDK (6V9) – Biến thể thử nghiệm của Nga dùng đạn 9.3×64mm 7N33, dựa trên thiết kế dân sự Tigr-9.
Biến thể dân sự
- Tigr – Biến thể dân sự của SVD, không có ngàm lưỡi lê, lần đầu sản xuất trong thập niên 1970, sản xuất hàng loạt từ 1992.[29] Để xuất khẩu sang Hoa Kỳ, cơ cấu sear ngăn bắn khi khóa nòng chưa đóng hoàn toàn phải được tháo bỏ để phù hợp với Đạo luật Vũ khí Quốc gia (NFA). Tigr có nòng rút ngắn (520 mm) hoặc nòng tiêu chuẩn (620 mm), nhiều loại báng khác nhau (bao gồm báng gập kiểu SVDS), và dùng các loại đạn 7,62×54mmR, .308 Winchester, .30-06 Springfield hay 9.3×64mm Brenneke.
- Kalashnikov TG3 – Biến thể dân sự của SVD do Kalashnikov Concern sản xuất, sử dụng đạn 9.6×53mm Lancaster, ra mắt năm 2018. Súng nặng 3,9 kg, dài 1.225 mm, nòng dài 620 mm. TG3 dùng hộp đạn rời 5 viên dạng một hàng. TG3 sử dụng nòng dạng bầu dục. Dù về pháp lý được xem là súng shotgun, TG3 được thiết kế để cho hiệu năng gần giống súng trường ở khoảng cách ngắn. Luật súng Nga hạn chế người mới sở hữu súng trường nhưng ít hạn chế hơn với shotgun, nên TG3 ra đời để phù hợp với thị trường này. TG3 tương tự các vũ khí nền tảng AK .366 TKM phổ biến tại Nga.
Biến thể nước ngoài
- SWD-M – Biến thể hiện đại hóa của Ba Lan, được đưa vào trang bị năm 1998, sử dụng nòng dày, chân chống (gắn ở ốp tay) và ống ngắm LD-6 (6×42).
- Al-Kadesih – Biến thể Iraq của SVD, không nên nhầm với súng Tabuk. Thiết kế khá giống SVD nhưng nhiều bộ phận không thể thay thế lẫn nhau do khác biệt về kích thước và cấu trúc. Ví dụ, thân súng dài hơn SVD, và nòng được chốt cố định vào thân thay vì vặn ren. Hộp đạn còn có hoa văn cây cọ trang trí.[30][31]
- Type 79/85 – Biến thể Trung Quốc của SVD. Thiết kế gần giống SVD nhưng một số chi tiết không tương thích do kích thước khác biệt. Một số lượng nhỏ còn được sản xuất dùng đạn .308 Winchester để xuất khẩu. Các khẩu xuất khẩu thường được gọi là NDM-86 hoặc EM-351.
- CS/LR19 hay NSG-85 – Biến thể hiện đại hóa của Type 85, được Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đưa vào trang bị năm 2014.
- SBT-7.62M1 - Biến thể Việt Nam, sử dụng ốp tay polymer, được công bố công khai năm 2024.[32]
Các trận đánh đã sử dụng
Trước năm 2000
1) Thập niên 1970:
- Chiến tranh Việt Nam (1955–1975)
- Cuộc nổi dậy của cộng sản ở Thái Lan (1965–1983)
- Chiến tranh biên giới Nam Phi (1966–1990)
- Chiến tranh giành độc lập Namibia (1966–1990)
- Nội chiến Liban (1975–1990)
- Chiến tranh biên giới Việt Nam – Campuchia (1978–1989)
- Chiến tranh biên giới Việt – Trung (1979)
- Nội chiến El Salvador (1979–1992)
- Xung đột người Kurd - Thổ Nhĩ Kỳ (1921–2025)
- Chiến tranh Liên Xô – Afghanistan (1979–1989)
2) Thập niên 1980:
- Chiến tranh Liban 1982
- Xung đột Nam Lebanon (1985–2000)
- Chiến tranh Iran – Iraq (1980–1988)
- Cuộc nổi dậy ở Jammu và Kashmir (1989–nay)
- Chiến tranh Nagorno-Karabakh thứ nhất (1988–1994)
3) Thập niên 1990:
- Chiến tranh Transnistria (1990–1992)
- Chiến tranh Vùng Vịnh (1990–1991)
- Chiến tranh Nam Tư (1991–2001)
- Nội chiến Tajikistan (1992–1997)
- Chiến dịch Khôi phục Hy vọng (1992–1993): một phần của nội chiến Somalia (1991–nay)
- Nội chiến Burundi (1993–2005)
- Chiến tranh Chechnya lần thứ nhất (1994–1996)
- Chiến tranh Chechnya lần thứ hai (1999–2009)
Từ năm 2000 đến nay
1) Thập niên 2000:
- Chiến tranh Afghanistan (2001–2021)
- Chiến tranh Iraq (2003 – 2011)
- Nổi dậy ở Khyber Pakhtunkhwa (2004–nay)
- Cuộc nổi dậy của Boko Haram (2009–nay)
2) Thập niên 2010:
- Nội chiến Libya (2011)
- Chiến tranh Mali (2012–nay)
- Nội chiến Syria (2011–2024)
- Chiến tranh Iraq (2013–2017)
- Chiến tranh Nga – Ukraina (2014–nay)
- Chiến tranh Donbas (2014–2022)
- Nga xâm lược Ukraina (2022–nay)
- Nội chiến Yemen (2014–nay)
- Xung đột biên giới Saudi-Yemen (2015–nay)
3) Thập niên 2020:
- Chiến tranh Nagorno-Karabakh thứ hai (2020)
- Chiến tranh Tigray (2020–2022)
- Chiến tranh Israel – Hamas (2023–nay)
- Xung đột biên giới Thái Lan - Campuchia 2025
Các quốc gia sử dụng
- Afghanistan: Được sử dụng bởi Quân đội Quốc gia Afghanistan[33] và Taliban[34][35]
- Algeria[36]
- Albania[37]
- Áo[38]
- Bangladesh: Sử dụng biến thể Type 85 của Trung Quốc.[39]
- Belarus[36]
- Bolivia: Biến thể Type 79 đang được sử dụng.[40]
- Burundi: Được sử dụng bởi Lực lượng đặc biệt Burundi.[41]
- Bulgaria[36]
- Cộng hòa Trung Phi: SVD và Type 85.[42]
- Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa: Norinco làm bản sao của SVD, được biết dưới tên Type 79 với báng súng hơi ngắn hơn;[43]trang bị kính ngắm quang học 4x cũng là bản sao của PSO-1. Type 85 mẫu sửa đổi một chút của Kiểu 79[43][44] với những đặc điểm trong các biến thể thương mại của SVD.[44][45][46]
- Costa Rica[47]
- Cộng hòa Séc:[48] Chỉ dự trữ. Được thay thế trong phụ vụ tiêu chuẩn bằng CZ BREN 2 PPS DMR.[49][50]
- Ai Cập[51]
- Phần Lan: Được gọi là Dragunov 7.62 TKIV , viết tắt của tarkkuuskivääri ( súng trường bắn tỉa ).[52]
- Gruzia[36]
- Hungary[53]
- Ấn Độ: Được sử dụng bởi những tay thiện xạ được chỉ định. Đang bị loại bỏ để thay thế bằng các mẫu mới hơn hơn.[54][55][56][57]
- Iran: Sản xuất trong nước với tên gọi Súng trường bắn tỉa Nakhjir 3.[58][59][47] Một phiên bản nâng cấp mới đã được công bố trong cuộc tập trận Muhammad Rasulullah 4 được tổ chức vào ngày 12 tháng 12 năm 2016.[60]
- Iraq: Al Kadesiah , dựa trên SVD và PSL.Tên gọi chính thức của Iraq là Al-Qadissiya hoặc Al-Gadissiya.Súng trường SVD và Kadesiah đã được sử dụng bởi cả Quân đội Iraq và sau năm 2003 của Saddam Hussein và quân nổi dậy Iraq. SVD cũng được triển khai bởi Lực lượng Huy động Nhân dân.[61] Tên của loại súng này tại Iraq cũng có thể là Al-Qadissiya hay Al-Gadissiya.[62]
- Kurdistan
- Kurdistan thuộc Iraq
- Bờ Biển Ngà[63]
- Kazakhstan[36]
- Kyrgyzstan[36]
- Latvia[64]
- Lesotho[65]
- Libya[36]
- Mali
- Moldova[36]
- Nicaragua[36]
- Niger: Including Type 85s[66]
- Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên[67]
- Pakistan[68][69][70][71][72]
- Philippines : Biến thể Type 85 của Trung Quốc.[73] Ngoài ra lô súng trường SVD do Nga viện trợ.[74]
- Ba Lan: Phiên bản hiện đại hóa SVD của Ba Lan; được gọi là SWD-M và được nâng cấp với nòng súng nặng hơn, phạm vi phóng đại thay đổi và giá đỡ hai chân có thể tháo rời.[75] Người ta đã lên kế hoạch thay thế SVD bằng biến thể xạ thủ của FB MSBS Grot.[76]
- Nga: SVD-M[36] và SVDS báng gấp.[77]
- Sénégal: Được sử dụng bởi Không quân[78] và Lục quân.[79]
- Serbia[80]
- Slovakia [81]
- Sudan[82]
- Syria[51]
- Tajikistan[36]
- Thổ Nhĩ Kỳ: Được sử dụng bởi Bộ tư lệnh hiến binh và Polis Özel Harekat.[83]
- Turkmenistan[36]
- Ukraine[36]
- Venezuela[84]
- Việt Nam: Quân đội Nhân dân Việt Nam sử dụng từ thời chiến tranh Việt Nam cho đến tận ngày nay và ngày nay Việt Nam tự nâng cấp và tự sản xuất cho riêng mình.[85]
- Zimbabwe[86]
- Armenia
- Nicaragua[36]
- Romania: Tự chế tạo với giấy phép bản quyền.[34]
- Azerbaijan
- Angola
- Uzbekistan[36]
- Lào
- Cuba
Các quốc từng sử dụng
- Liên Xô: Đưa vào sử dụng rất nhiều trong quân đội Xô Viết từ năm 1967.[34]
- Cộng hòa Chechnya Ichkeria[87]
- Đông Đức : Được gọi là SWD.[34]
- Tiệp Khắc : Được quân đội Tiệp Khắc sử dụng từ năm 1970[88]
- Panama: Trước đây được sử dụng bởi Lực lượng Phòng vệ Panama không còn tồn tại.[89]
Các phiến quân khủng bố
- ISIL: SVD và Type 79
Chú thích
- ^ a b c d Hogg, Ian V. (2002). Jane's Guns Recognition Guide. London: Jane's Information Group. ISBN 0-00-712760-X.
- ^ "Первая в мире. Снайперская винтовка Драгунова" (bằng tiếng Nga). ngày 5 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2023.
- ^ "Снайперская винтовка Драгунова СВД 7,62 мм". Izhmash.ru. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2014.
- ^ Kjellgren, G. L. M. "The Practical Range of Small Arms" (PDF). The American Rifleman. tr. 40–44. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2015.
- ^ Wilk, Remigiusz (ngày 21 tháng 10 năm 2018). "The Dragunov Replacement for Poland: New 7,62x51 mm marksman rifle". MILMAG.
- ^ "Chinese Sniper Rifles Have a Troubled History". ngày 4 tháng 6 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2019.
- ^ "В "Калашникове" сообщили о начале серийного производства снайперской винтовки Чукавина". TACC. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2023.
- ^ ""Калашников" завершил квалификационные испытания СВЧ". rostec.ru. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2023.
- ^ "SVCh Sniper Rifle". Modern Firearms. ngày 3 tháng 11 năm 2017.
- ^ "Kalashnikov group SVCh rifles line". Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2025.[liên kết hỏng]
- ^ McNab 2023, tr. 71.
- ^ Korshak, Stefan (ngày 3 tháng 8 năm 2023). "How Ukraine's Most Elite Snipers Rewrote the Marksman's Handbook". Kyiv Post (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2024.
- ^ McNab 2023, tr. 71−72.
- ^ McNab 2023, tr. 72.
- ^ "Súng bắn tỉa Chukavin có thể lặp lại thành công của súng trường Dragunov?".
- ^ "Chrome lined gun barrels". Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2010.
- ^ "Evgeniy Dragunov: Creator of Firepower (abstracts from a forthcoming book)". Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2010.
- ^ "(in Russian)". Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2010.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết) - ^ "Старая "плетка". Почему армия не может отказаться от винтовки Драгунова".
- ^ a b "PSO-1 Manual" (PDF). AR15.com. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 26 tháng 9 năm 2004. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2007.
- ^ "snipersparadise.com Nhận xét của các xạ thủ về độ chính xác của SVD". Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2007.
- ^ Liên Hợp Quốc lên án các xạ thủ bắn tỉa trong chiến tranh Yugoslav vì họ quá hiệu quả
- ^ Снайперская винтовка СВД-С [SVD-S Sniper Rifle]. Военный вестник (bằng tiếng Nga) (2): 93–94. 1992.
- ^ "Kalashnikov Ramps up Production of SVDS Sniper Rifles by 13 Times". Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2025.
- ^ "Dragunov Svd 1990 Sniper Firearm Weapon Stock Vector (Royalty Free) 2285366463". Shutterstock (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2024.
- ^ "Súng trường bắn tỉa huyền thoại SVD Dragunov". www.qdnd.vn. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2024.
- ^ "Russian Southern Military District receives upgraded large caliber rifles, automatic guns, www.armyrecognition.com. Retrieved 3 July 2018". ngày 27 tháng 6 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2018.
- ^ "Sniper rifle SVDM, Kalashnikov Group. Retrieved 2 July 2018". Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2018.
- ^ Дерюшев, И. (1993). Охотничий карабин «Тигр» [Tiger Hunting Carbine]. Охота и охотничье хозяйство (bằng tiếng Nga) (5): 24.
- ^ "Iraqi Al Kadesiah (also known as Al Kadesih) Sniper Rifle 7.62×54mmR". designatedmarksman.net. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2014.
- ^ "The Iraqi Al Kadesiah Rifle". Dragunov.net. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2012.
- ^ "Vietnam Defence Expo 2024: New Sniper Rifles". ngày 30 tháng 12 năm 2024.
- ^ Neville, Leigh (ngày 25 tháng 8 năm 2016). Modern Snipers. General Military. Osprey Publishing. tr. 127. ISBN 9781472815347.
- ^ a b c d Miller, David (2001). The Illustrated Directory of 20th Century Guns. Salamander Books. ISBN 1-84065-245-4.
- ^ Neville 2016, tr. 192.
- ^ a b c d e f g h i j k l m n o Jones, Richard D. (ngày 27 tháng 1 năm 2009). Jane's Infantry Weapons 2009–2010 (ấn bản thứ 35). Jane's Information Group. ISBN 978-0-7106-2869-5.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngày tháng và năm (liên kết) - ^ The World Defence Almanac 2006. Bonn: Mönch Publishing Group. 2006. tr. 95.
- ^ Bonn International Center for Conversion; Bundeswehr Verification Center. "Dragunov SVD". SALW Guide: Global distribution and visual identification. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2018.
- ^ "UNROCA original report Bangladesh 2007". Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2020.
- ^ FirearmsWorld (ngày 17 tháng 2 năm 2015). "Firearmsworld.net" 79/85式狙击步枪 (bằng tiếng Trung). firearmsworld.net. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2017.
- ^ Small Arms Survey (2007). "Armed Violence in Burundi: Conflict and Post-Conflict Bujumbura" (PDF). The Small Arms Survey 2007: Guns and the City. Cambridge University Press. tr. 204. ISBN 978-0-521-88039-8. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2018.
- ^ Letter dated 26 June 2014 from the Panel of Experts on the Central African Republic established pursuant to Security Council resolution 2127 (2013) addressed to the President of the Security Council (PDF). ngày 1 tháng 7 năm 2014. tr. 81. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 29 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2019.
- ^ a b "Type 79/85 Sniper Rifle". SinoDefence. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2008.
- ^ a b "7.62 mm Sniping Rifle". Norinco Equipment. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2008.
- ^ "NDM-86". Dragunov.net. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2008.
- ^ "NDM86". Norinco Equipment. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2008.
- ^ a b Jones, Richard (2009). Jane's Infantry Weapons 2009–2010. Jane's Information Group. tr. 897. ISBN 978-0-7106-2869-5.
- ^ "Archived copy" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 29 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2010.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bản lưu trữ là tiêu đề (liên kết) - ^ "Combat units take over new CZ BREN 2 PPS precision shooting rifles". Defence Industry News (bằng tiếng Anh). ngày 25 tháng 1 năm 2022. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2022.
- ^ "Bojové jednotky přebírají nové pušky pro přesnou střelbu CZ BREN 2 PPS".
- ^ a b Katz, Sam (ngày 24 tháng 3 năm 1988). Arab Armies of the Middle East Wars (2). Men-at-Arms 128. Osprey Publishing. tr. 39, 42. ISBN 9780850458008.
- ^ "The Finnish Defence Forces 7,62 TKIV Dragunov". Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2010.
- ^ "Bản sao đã lưu trữ". Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2010.
- ^ Singh, Lieutenant General R.K. Jasbir (2007). Indian Defence Yearbook. India: Natraj Publishers. tr. 388–391. ISBN 978-81-86857-11-3.
- ^ Editorial Team (ngày 9 tháng 8 năm 2015). "8 Pictures Of Indian Army Sniper Team Will Give You Goosebumps". SSB Crack. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2017.
- ^ Manu Pubby (ngày 8 tháng 12 năm 2016). "Indian Army Looking For A Deadlier Sniper Rifle To Replace Ageing Draganov". India Times. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2017.
- ^ "Defence News, Air Force, Navy, ArmyIndian Army will get new sniper rifles by January 20, says General Bipin Rawat". Defence news.in. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2019.
- ^ "Archived copy". Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2010.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bản lưu trữ là tiêu đề (liên kết) - ^ Walter, John (2006). Rifles of the World. Krause Publications. tr. 100–101. ISBN 0-89689-241-7.
- ^ "Iran's Army Unveils New Gear in War Game". Tasnim News Agency. ngày 12 tháng 12 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2016.
- ^ "Iraqi Al Kadesiah". Dragunov.net. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2008.
- ^ Puxton, Matteo (ngày 30 tháng 8 năm 2017). "Kataib al-Imam Ali, cette puissante milice chiite qui se bat à la fois en Irak et en Syrie". France Soir (bằng tiếng Pháp). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2019.
- ^ Anders, Holger (tháng 6 năm 2014). Identifier les sources d'approvisionnement: Les munitions de petit calibre en Côte d'Ivoire (PDF) (bằng tiếng Pháp). Small Arms Survey and United Nations Operation in Côte d'Ivoire. tr. 15. ISBN 978-2-940-548-05-7. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2018.
- ^ Krott, Robb (tháng 4 năm 1999). "OMEGA'S SMALL ARMS: Latvia's Hostage Rescue Team Weaponry". Small Arms Review. Quyển 2 số 7. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2018.
- ^ Berman, Eric G. (tháng 3 năm 2019). Beyond Blue Helmets: Promoting Weapons and Ammunition Management in Non-UN Peace Operations (PDF). Small Arms Survey/MPOME. tr. 43. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 3 tháng 6 năm 2019.
- ^ Savannah de Tessières (tháng 1 năm 2018). At the Crossroads of Sahelian Conflicts: Insecurity, Terrorism, and Arms Trafficking in Niger (PDF) (Báo cáo) (bằng tiếng Anh). Small Arms Survey. tr. 58. ISBN 978-2-940548-48-4. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2018.
- ^ "Archived copy" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2015.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bản lưu trữ là tiêu đề (liên kết) - ^ Khyberpass Customs (ngày 8 tháng 7 năm 2022). Svd Dragonov in Khyberpass Afghanistan Pakistan region Khyberpass ,Svd Dragonov Made in Germany. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2025 – qua YouTube.
- ^ "Dragunov Sniper Of Pakistan Army". Pakistan Defence (bằng tiếng Anh). ngày 19 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2025.
- ^ Dawn.com (ngày 16 tháng 6 năm 2017). "Large cache of weapons seized from North Waziristan: ISPR". DAWN.COM (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2025.
- ^ International Defence Analysis (ngày 9 tháng 8 năm 2019). Pakistan Armed Forces Service Rifles & Sniper Guns 2019. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2025 – qua YouTube.
- ^ Rizwan (ngày 3 tháng 5 năm 2025). "Levies official killed in Mangochar attack". www.thenews.com.pk (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2025.
- ^ Morallo, Audrey (ngày 28 tháng 6 năm 2017). "China exploring joint military drills with Philippines vs terrorism". Philstar.net. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2017.
- ^ "Russia to donate Kalashnikovs, trucks and munitions to Philippines". Reuters. ngày 11 tháng 10 năm 2017.
- ^ "Karabin wyborowy SWD-M – zapomniana modernizacja". Militech (bằng tiếng Ba Lan). Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2015.
- ^ "NCBiR będzie finansowało MSBS-5,56 - Altair Agencja Lotnicza". ngày 11 tháng 3 năm 2005. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2014.
- ^ Neville 2016, tr. 229.
- ^ "EFS : Formation " tireur embarqué " au profit de l'armée de l'Air sénégalaise". ecpad.fr (bằng tiếng Pháp). ngày 23 tháng 6 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2018.
- ^ "El Ejército asesora a Senegal". ejercito.mde.es (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 28 tháng 8 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2018.
- ^ "Снајперисти се спремају за нове успехе на такмичењу у Белорусији".
- ^ "Úvodná stránka :: Ministerstvo obrany SR". Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2010.
- ^ Scarlata, Paul (tháng 4 năm 2011). "Military rifle cartridges of the Sudan from the Khartoum to Darfur". Shotgun News. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2018.
- ^ "Bản sao đã lưu trữ". Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2010.
- ^ "Chávez's Bid for Russian Arms Pains U.S." The New York Times. ngày 16 tháng 8 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2008.
- ^ "Sniper Rifle in PAVN (Vietnamese)". ngày 25 tháng 11 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2016.
- ^ Staff Reporter (ngày 30 tháng 3 năm 2016). "Church blames ZANU-PF for economic turmoil". The Zimbabwean. Johannesburg, Gauteng. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2018.
- ^ Neville 2016, tr. 188-190.
- ^ "Ruční zbraně AČR" (PDF). Army of the Czech Republic (bằng tiếng Séc). Armáda České republiky.
- ^ Rottman, Gordon (2010). Panama 1989-90. Elite (bằng tiếng English). Quyển 37. Osprey Publishing. tr. 14, 15, 57, 62, 63. ISBN 9781855321564.
{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
Liên kết ngoài
- IZHMASH JSC official site: 7,62 mm Dragunov Sniper Rifle "SVD" Lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2015 tại Wayback Machine
- IZHMASH JSC official site: 7,62 mm Dragunov Sniper Rifle with folding butt "SVDS" Lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2015 tại Wayback Machine
- Dragunov.net Dragunov and PSL rifle information
- Buddy Hinton Collection
- Modern Firearms Lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2006 tại Wayback Machine
- Sniper Central
- SVD field manual
- Evgeniy Dragunov: Creator of Firepower (abstracts from a forthcoming book) Lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2009 tại Wayback Machine
- WeaponPlace.ru (bằng tiếng Nga)
- Video of operation trên YouTube (bằng tiếng Nhật)
- Mô phỏng hoạt động của SVD