Gia Lai
Bản mẫu:Thông tin đơn vị hành chính Việt Nam
Gia Lai là một tỉnh nằm ở khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, miền Trung Việt Nam và là tỉnh có diện tích lớn thứ hai Việt Nam.[1] Trung tâm hành chính của tỉnh là phường Quy Nhơn.
Theo dữ liệu Sáp nhập tỉnh, thành Việt Nam 2025, Gia Lai có diện tích: 21.577 km², xếp thứ 2; dân số: 3.583.693 người, xếp thứ 15; GRDP 2024: 242.007.551 triệu VNĐ, xếp thứ 19; thu ngân sách 2024: 22.736.658 triệu VNĐ, xếp thứ 19; thu nhập bình quân: 47,93 triệu VNĐ/năm, xếp thứ 26.[2]
Gia Lai cũng là một địa bàn chiến lược về quốc phòng, là nơi đóng trụ sở Bộ Tư lệnh Quân đoàn 34 và Bộ Tư lệnh Binh đoàn 15.
Tên gọi
Nguồn gốc tên gọi Gia Lai bắt nguồn từ chữ Jarai, tên gọi của một dân tộc thiểu số trong tỉnh, cách gọi này vẫn còn giữ trong tiếng của người Ê-đê, Ba Na, Lào, Thái Lan và Campuchia để gọi vùng đất này là Jarai, Charay có nghĩa là vùng đất của người Jarai, có lẽ ám chỉ vùng đất của Thủy Xá và Hỏa Xá xưa.
Địa lý
Gia Lai là một tỉnh nằm ở cả vùng núi và ven biển, thuộc khu vực Nam Trung Bộ với độ cao trung bình từ 700 - 800 mét so với mực nước biển đối với vùng núi và 0 - 30 mét đối với đồng bằng. Gia Lai cách Hà Nội 1.120 km, cách Đà Nẵng 396 km, cách Thành phố Hồ Chí Minh 491 km. Tỉnh Gia Lai trải dài từ 12°58'20" đến 14°36'30" vĩ bắc, từ 107°27'23" đến 108°54'40"kinh đông.
- Phía đông giáp Biển Đông
- Phía tây giáp tỉnh Ratanakiri (Campuchia)
- Phía nam giáp tỉnh Đắk Lắk
- Phía bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi.
Điều kiện tự nhiên
Gia Lai nằm trên một phần của nền đá cổ rộng lớn, dày trên 4.000 m, thuộc Địa khối Kon Tum. Gần vào phía cuối nam của khối núi Trường Sơn Nam. Gia Lai nằm gần như hoàn toàn phía đông dãy Trường Sơn. Khối địa khối nâng lên không đều từ cuối kỷ Đệ Tam. Nhưng địa hình được núi lửa và phong hóa nhiều năm trở nên bằng phẳng tạo nên các cao nguyên không hoàn toàn bằng phẳng mà nhấp nhô nhiều đồi xen kẽ các vùng tương đối trũng. Địa hình thấp dần từ bắc xuống nam và nghiêng từ đông sang tây, với các đồi núi, cao nguyên và thung lũng xen kẽ nhau khá phức tạp. Càng gần về phía nam chia nhau một nửa vùng đồng bằng với Đăk Lăk, và vùng thấp phía tây của Campuchia. Địa hình Gia Lai có thể chia thành 3 dạng chính là địa hình đồi núi, cao nguyên và thung lũng.[3] Trong đó, cao nguyên là dạng địa hình phổ biến và quan trọng của Gia Lai, với hai cao nguyên là Cao nguyên Kon Hà Nừng và Cao nguyên Pleiku. Địa hình thứ hai là địa hình đồi núi, chiếm 2/5 diện tích tự nhiên toàn tỉnh,[3] phần lớn nằm ở phía bắc, địa hình núi phân cách mạnh, bề mặt các dạng địa hình khác của Gia Lai như các cao nguyên, những thung lũng đồng bằng cũng đều rải rác có núi, độ cao trung bình của cả 2 cao nguyên là 800m, với đỉnh Kon Ka Kinh - "nóc nhà" của Gia Lai. Sự dập vỡ kiến tạo đa dạng là cơ sở cho trữ lượng nước ngầm. Các vùng trũng tương đối thường hình thành các con sông khi đi qua vùng đứt gãy đột ngột xuống vùng đồng bằng tạo nên các thác nước nổi tiếng ở đây. Địa hình thứ ba là Các vùng trũng, những vùng này sớm được con người khai thác để sản xuất lương thực. Hầu hết các vùng trũng nằm ở phía nam của tỉnh, các thung lũng ở đông nam. Ngoài ra đất đai Gia Lai được chia làm 27 loại khác nhau, gồm 7 nhóm chính: đất phù sa, đất xám, đất đen, đất đỏ, đất mùn vàng đỏ, nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá.[4] Chủ yếu là nhóm đất đỏ bazan, phân bố ở cao nguyên Pleiku, dày cho canh tác, các loại đất khác chủ yếu ở các cùng đất rìa cao nguyên hoặc vùng trũng, ven các con sông.
Khí hậu
Gia Lai thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, dồi dào về độ ẩm, có lượng mưa lớn, không có bão và sương muối, ngoài ra nhiệt độ còn phụ thuộc vào độ cao các vùng. Khí hậu ở đây được chia làm 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Trong đó, mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm là 20 – 250C. Vùng vùng Đông Trường Sơn từ 1.200 – 1.750 mm, Tây Trường Sơn có lượng mưa trung bình năm từ 2.200 – 2.500 mm. Khí hậu và thổ nhưỡng Gia Lai rất thích hợp cho việc phát triển nhiều loại cây công nghiệp ngắn và dài ngày, chăn nuôi và kinh doanh tổng hợp nông lâm nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế cao.[3]
Khoáng sản
Toàn tỉnh có 27 loại đất, được hình thành trên nhiều loại đá mẹ thuộc 7 nhóm chính. Tài nguyên khoáng sản là một tiềm năng kinh tế quan trọng của tỉnh Gia Lai, với nhiều khoáng sản, nổi bật nhất là vàng, nguồn vật liệu xây dựng, bô xít (kim loại nhôm) và đá quý.[3]
Tài nguyên thiên nhiên
Hành chính
Tỉnh Gia Lai có 135 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 25 phường và 110 xã.[5]
| Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Gia Lai[6] | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
|
|
|
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Lịch sử
Tỉnh Gia Lai ngày nay xưa kia là địa bàn sinh sống lâu đời của các dân tộc Jrai, Ba Na, Chăm H'roi, tập quán sống thành từng làng. Trước khi người Pháp đặt ách đô hộ lên Tây Nguyên, các dân tộc Gia Lai đang ở giai đoạn cuối của xã hội nguyên thủy chuyển sang giai đoạn xã hội có giai cấp.[7]
Từ những năm đầu thập niên 40 của thế kỷ 19, các giáo sĩ người Pháp bắt đầu truyền đạo ở khu vực cư trú của người Ba Na thuộc xã Hà Tây thuộc huyện Chư Păh và xã Hà Đông thuộc địa phận huyện Đăk Đoa ngày nay. Lúc này người Pháp ngày càng tiến sâu vào Bắc Tây Nguyên, đồng thời tạo nên những xáo trộn mới bằng những chính sách chia để trị, dựa vào nhóm này để chống nhóm khác, chia rẽ Kinh - Thượng, chia rẽ các dân tộc trong tỉnh, trong khu vực với nhau.
Cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, Pháp đã từng bước thiết lập bộ máy cai trị trên đất Gia Lai. Sau nhiều lần thay đổi, sáp nhập, chia tách để thành lập các đơn vị hành chính trên vùng Tây Nguyên, ngày 24 tháng 5 năm 1932, theo Nghị định Toàn quyền Đông Dương lúc này tỉnh Pleiku được thành lập.
Đến trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, tỉnh Pleiku có Thị xã Pleiku,[8] huyện An Khê, huyện Plei Kli, huyện Chư Ty và huyện Cheo Reo.
Sau năm 1945, chính quyền cách mạng gọi là tỉnh Gia Lai. Tháng 6 năm 1946, Pháp chiếm lại vùng đất Gia Lai và gọi tên đây là tỉnh Pleiku. Giai đoạn từ năm 1946 đến năm 1954, tỉnh Pleiku nói riêng, Tây Nguyên nói chung trải qua nhiều lần chủ thể cai quản theo các văn bản của chính quyền thực dân.[9]
Tuy nhiên về phía chính quyền cách mạng, trong những năm kháng chiến chống Pháp, vẫn gọi là tỉnh Gia Lai, nhưng qua từng thời điểm khác nhau, tỉnh Gia Lai lại thuộc sự chỉ đạo trực tiếp của các cơ quan khác nhau trong khu vực, các huyện trong tỉnh cũng nhiều lần thay đổi tên gọi và địa giới hành chính.
Dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa thì tỉnh mang tên Pleiku với ba quận. Năm 1962 tách quận Cheo Reo lập tỉnh Phú Bổn nên Pleiku chỉ còn hai quận: Lệ Trung và Lệ Thanh. trước năm 1958 thì đổi Lệ Thanh thành Thanh An.
Sau năm 1975, tỉnh Pleiku đổi tên thành tỉnh Gia Lai.
Ngày 20 tháng 9 năm 1975, thực hiện theo Nghị quyết của Bộ Chính trị, hợp nhất hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum thành tỉnh mới là Gia Lai - Kon Tum.
Ngày 23 tháng 4 năm 1979, chia huyện Ayun Pa thành 2 huyện: Ayun Pa và Krông Pa.[10]
Ngày 17 tháng 8 năm 1981, thành lập huyện Chư Sê trên cơ sở tách ra từ 2 huyện: Chư Prông và Mang Yang.[11]
Ngày 28 tháng 12 năm 1984, chia huyện An Khê thành 2 huyện: An Khê và K'Bang.[12]
Ngày 30 tháng 5 năm 1988, chia tiếp huyện An Khê thành 2 huyện: An Khê và Kông Chro.[13]
Ngày 12 tháng 8 năm 1991, theo Nghị quyết kỳ họp thứ 9 của Quốc hội khoá VIII, Gia Lai - Kon Tum tách thành 2 tỉnh: Gia Lai và Kon Tum.[14] Khi tách ra, tỉnh Gia Lai có tỉnh lị là thị xã Pleiku và 9 huyện: An Khê, Ayun Pa, Chư Păh, Chư Prông, Chư Sê, K'Bang, Kông Chro, Krông Pa, Mang Yang.
Ngày 15 tháng 10 năm 1991, thành lập huyện Đức Cơ trên cơ sở tách ra từ 2 huyện: Chư Păh và Chư Prông.[15]
Ngày 11 tháng 11 năm 1996, chia huyện Chư Păh thành 2 huyện: Chư Păh và Ia Grai.[16]
Ngày 24 tháng 4 năm 1999, chuyển thị xã Pleiku thành thành phố Pleiku.[17]
Ngày 21 tháng 8 năm 2000, chia huyện Mang Yang thành 2 huyện: Mang Yang và Đăk Đoa.[18]
Ngày 18 tháng 12 năm 2002, chia huyện Ayun Pa thành 2 huyện: Ayun Pa và Ia Pa.[19]
Ngày 9 tháng 12 năm 2003, chia huyện An Khê thành thị xã An Khê và huyện Đăk Pơ.[20]
Ngày 26 tháng 4 năm 2007, chia huyện Ayun Pa thành thị xã Ayun Pa và huyện Phú Thiện.[21]
Ngày 27 tháng 8 năm 2009, chia huyện Chư Sê thành 2 huyện: Chư Sê và Chư Pưh.[22]
Từ đó, tỉnh Gia Lai có 1 thành phố Pleiku (tỉnh lị); 2 thị xã: An Khê, Ayun Pa và 14 huyện: Chư Păh, Chư Prông, Chư Pưh, Chư Sê, Đắk Đoa, Đắk Pơ, Đức Cơ, Ia Grai, Ia Pa, K'bang, Kông Chro, Krông Pa, Mang Yang, Phú Thiện.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 202/2025/QH15[23] về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 12 tháng 6 năm 2025). Theo đó, sáp nhập tỉnh Bình Định vào tỉnh Gia Lai.
Sau khi sáp nhập, tỉnh Gia Lai có 21.576,53 km² diện tích tự nhiên và quy mô dân số là 3.583.693 người.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, theo nghị quyết sửa đổi Hiến pháp năm 2013, toàn bộ các đơn vị hành chính cấp huyện tại tỉnh Gia Lai được giải thể. Cùng ngày, theo nghị quyết sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã, tỉnh Gia Lai có 135 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 25 phường và 110 xã.[24][25]
Nhân khẩu
Dân số
Theo kết quả điều tra dân số giữa kỳ năm 2024, dân số tỉnh Gia Lai tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2024 là 1.630.311 người.Lỗi chú thích: Tham số "ref" không hợp lệ trong thẻ <ref>. Các tham số được hỗ trợ là: dir, follow, group, name. dân số nữ ước tính đạt khoảng 816.000 người chiếm (49,91%),[26] dân số thành thị ước tính đạt khoảng 482.840 người chiếm (29,53%),[26] dân số nông thôn ước tính đạt khoảng 1.152.060 người chiếm (70,47%),[26] với mật độ dân số là 105 người/km².[26]
Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2024 tỉnh Gia Lai có diện tích tự nhiên 21.576,53 km², quy mô dân số là 3.583.693 người, trong đó dân số thành thị ước tính đạt khoảng 1.152.775 người (Bản mẫu:Percentage), dân số nông thôn ước tính đạt khoảng 2.430.918 người (Bản mẫu:Percentage), mật độ dân số đạt 166 người/km².[27][28]
Dân số trung bình sơ bộ của tỉnh năm 2025 là 3.182,7 nghìn người, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước tính năm 2025 là 1.820,5 nghìn người, lao động 15 tuổi trở lên có việc làm đạt 1.800,7 nghìn người.[29]
Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, Toàn tỉnh Gia Lai có 10 Tôn giáo khác nhau chiếm 397.566 người, Trong đó, nhiều nhất là Công giáo có 166.996 người, đạo Tin Lành có 142.220 người, xếp thứ ba là Phật giáo có 85.229 người, đạo Cao Đài có 2.971 người, cùng các đạo khác như Bahá'í có 59 người, Phật giáo Hòa Hảo có 41 người, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa có 23 người, Minh Lý Đạo có 18 người, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có năm người, ít nhất là Hồi giáo với 4 người.
Các dân tộc
Tỉnh Gia Lai là địa bàn cư trú lâu đời của nhiều tộc người, trong đó người Kinh chiếm đa số còn các dân tộc thiểu số bản địa tập trung ở khu vực cao nguyên phía tây và vùng núi phía tây bắc của khu vực duyên hải phía đông. Theo báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh, toàn tỉnh có 47 dân tộc cùng sinh sống với 831.497 người thuộc các dân tộc thiểu số, chiếm khoảng 23,20% dân số; các dân tộc thiểu số đông nhất là Jrai với 15,54%, Bahnar với 5,69%, Mường với 0,42% và H'rê với 0,30%.[30]
Cơ cấu dân tộc có sự khác biệt rõ rệt giữa hai khu vực của tỉnh sau khi hợp nhất. Ở khu vực phía tây, tức địa bàn tỉnh Gia Lai cũ, dân số khoảng 1.660.576 người, trong đó số người dân tộc thiểu số là 767.149 người, chiếm 46,20%; riêng người Jrai chiếm 29,64% và người Bahnar chiếm 12,90% dân số toàn khu vực. Ở khu vực phía đông, tức địa bàn tỉnh Bình Định cũ, dân số khoảng 1.609.703 người với 39 dân tộc thiểu số nhưng chỉ có 42.479 người thuộc các dân tộc này, tương đương tỷ lệ 2,64% dân số; đông nhất là người Bahnar với 1,35%, tiếp đến là người H'rê với 0,69% và người Chăm với 0,39%.[31]
Người Jrai và người Bahnar là hai cộng đồng bản địa lớn nhất, cư trú thành các làng ở vùng cao nguyên phía tây, các dân tộc này vẫn còn bảo lưu nhà rông, nhà mồ, các bộ sử thi và văn hóa cồng chiêng. Ở phía đông, nhóm Bahnar K'riêm sinh sống chủ yếu tại vùng Vĩnh Thạnh, người H'rê tại vùng An Lão, còn nhóm Chăm H'roi tập trung ở vùng Vân Canh; các cộng đồng này duy trì những lễ hội riêng như lễ hội ăn cốm lúa mới của người Bahnar K'riêm và lễ hội Thần Làng của người Chăm H'roi. Việc hợp nhất hai tỉnh khiến Gia Lai trở thành nơi hội tụ đồng thời không gian văn hóa Tây Nguyên và không gian văn hóa duyên hải Nam Trung Bộ.[32][33]
Chênh lệch phát triển giữa các vùng vẫn còn lớn. Ở khu vực phía tây, số hộ nghèo là 23.852 hộ, còn ở khu vực phía đông là 4.517 hộ.[34] Trong năm 2025, cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh cấp thẻ bảo hiểm y tế cho 314.163 người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại các vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn.[35] Năm học 2025–2026, các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có 257 trường mầm non với 72.611 trẻ, trong đó 46.034 trẻ là người dân tộc thiểu số, chiếm tỷ lệ 63,4%.[36]
| Khu vực | Dân số | Người dân tộc thiểu số | Tỷ lệ | Các dân tộc thiểu số chính |
|---|---|---|---|---|
| Phía tây (Gia Lai cũ) | 1.660.576 | 767.149 | 46,20% | Jrai (29,64%), Bahnar (12,90%) |
| Phía đông (Bình Định cũ) | 1.609.703 | 42.479 | 2,64% | Bahnar (1,35%), H'rê (0,69%), Chăm (0,39%) |
| Dân tộc | Thành phần dân tộc tỉnh Gia Lai và Bình Định năm 2019.[37] | |||||
|---|---|---|---|---|---|---|
| Gia Lai | Bình Định | Tổng cộng | ||||
| Dân số | % | Dân số | % | Dân số | % | |
| Toàn tỉnh | 1.513.847 | 100% | 1.486.918 | 100% | 3.000.765 | 100% |
| Kinh | 814.056 | 53,77% | 1.445.150 | 97,19% | 2.259.206 | 75,29% |
| Gia Rai | 459.738 | 30,37% | 322 | / | 460.060 | 15,33% |
| Ba Na | 189.367 | 12,51% | 21.650 | 1,46% | 211.017 | 7,03% |
| Nùng | 12.420 | 0,82% | 72 | / | 12.492 | 0,42% |
| Tày | 11.412 | 0,75% | 176 | / | 11.588 | 0,39% |
| Hrê | 278 | / | 11.112 | 0,75% | 11.390 | 0,38% |
| Mường | 8.283 | 0,55% | 502 | / | 8.785 | 0,29% |
| Chăm | 759 | / | 6.364 | 0,43% | 7.123 | 0,24% |
| Thái | 5.440 | 0,36% | 496 | / | 5.936 | 0,20% |
| Dao | 4.825 | 0,32% | 52 | / | 4.877 | 0,16% |
| H'Mông | 3.386 | 0,22% | 20 | / | 3.406 | 0,11% |
Kinh tế – Xã hội
Năm 2025, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) theo giá hiện hành của tỉnh ước đạt 270.698 tỷ đồng, tăng 7,2% so với năm trước, xếp thứ 28 trong số 34 tỉnh, thành phố của cả nước và xếp thứ ba trong số sáu địa phương thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Trong cơ cấu kinh tế, khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất với 104.499,5 tỷ đồng, tương đương 38,60%; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 78.071 tỷ đồng, chiếm 28,84%; khu vực công nghiệp – xây dựng đạt 77.482,8 tỷ đồng, chiếm 28,63%, trong đó riêng công nghiệp chiếm 21,92%; phần còn lại 3,93% là thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm. GRDP bình quân đầu người đạt 85,05 triệu đồng, tăng 12,4% so với năm 2024, còn năng suất lao động toàn nền kinh tế đạt 149,59 triệu đồng/năm trên một lao động.[38][39]
Tăng trưởng của năm 2025 chịu ảnh hưởng đáng kể từ thiên tai: trong năm, toàn tỉnh xảy ra 69 vụ thiên tai, trong đó bão Kalmaegi và đợt lũ giữa tháng 11 gây thiệt hại ước tính 11.658 tỷ đồng, làm gián đoạn sản xuất công nghiệp và kéo giảm đà tăng của khu vực dịch vụ trong quý IV.[40] Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2025 tăng 4,11% so với năm trước. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh năm 2025 ước đạt 26.656,1 tỷ đồng, tăng 30,9% so với năm 2024, trong khi tổng chi ngân sách đạt 56.656,6 tỷ đồng. Đến cuối năm 2025, tổng số dư huy động vốn của hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng trên địa bàn đạt khoảng 209.000 tỷ đồng và tổng dư nợ cho vay đạt khoảng 248.500 tỷ đồng.[41]
Trong sáu tháng đầu năm 2026, GRDP của tỉnh ước tăng 8,21% so với cùng kỳ năm trước, mức cao nhất từ trước đến nay và cao hơn bình quân chung cả nước là 8,18%, đưa Gia Lai lên vị trí thứ 22 trong 34 tỉnh, thành phố về GRDP. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,68%, khu vực dịch vụ tăng 8,17% và khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 4,14%. Thu ngân sách nhà nước ước đạt 16.271,6 tỷ đồng, bằng 58,4% dự toán năm và tăng 20,4%, còn kim ngạch xuất khẩu đạt 2.146,2 triệu USD, tăng 6,7%.[42]
Cũng trong nửa đầu năm 2026, tỉnh thu hút 165 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký gần 164.750 tỷ đồng, gấp hơn 3,2 lần cùng kỳ năm trước. Tỉnh đã trao quyết định chủ trương đầu tư và ký kết ghi nhớ hợp tác cho 273 dự án với tổng vốn gần 850.000 tỷ đồng tại Hội nghị xúc tiến đầu tư năm 2026. Nhờ các hoạt động của Năm Du lịch Quốc gia – Gia Lai 2026, tỉnh đón tổng cộng hơn 8,74 triệu lượt khách, tăng 18,5% so với năm trước, với doanh thu du lịch khoảng 19.000 tỷ đồng. Tỉnh đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP cả năm 2026 từ 10,2% trở lên.[43]
Nông, lâm nghiệp và thủy sản
Nông nghiệp vẫn là nền tảng của kinh tế tỉnh và là nơi thu hút phần lớn lao động, với 946,8 nghìn người, tương đương 52,6% tổng số lao động có việc làm năm 2025. Diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 479.298,4 ha, trong đó diện tích lúa là 169.572,3 ha với sản lượng khoảng 1,07 triệu tấn. Nhóm cây lâu năm đạt tổng diện tích 294.011,9 ha và sản lượng 1.087,4 nghìn tấn, đứng đầu là cà phê với 108.389,6 ha và 340,6 nghìn tấn, tiếp đến là cao su với 85.717 ha và 84,1 nghìn tấn, điều với 40.230,6 ha và 38,1 nghìn tấn, hồ tiêu với 8.420,3 ha và 26,6 nghìn tấn. Diện tích trồng cây ăn quả mở rộng nhanh, nổi bật là sầu riêng với 9.028,8 ha và sản lượng 52,3 nghìn tấn, tăng 25,3% so với năm trước, cùng chanh leo với diện tích 4.383 ha và sản lượng 95,3 nghìn tấn.[44]
Chăn nuôi phát triển theo hướng trang trại quy mô lớn và ứng dụng công nghệ cao, với các dự án tiêu biểu như DHN Gia Lai, Hùng Phát Farm và Thành Đạt Gia Lai. Tính đến đầu năm 2026, tổng số lượng đàn bò của tỉnh đạt 793.817 con, trong đó có 14.299 con bò sữa; đàn lợn đạt 1.681.101 con, tăng 13,8% so với năm trước; đàn gia cầm đạt 18,4 triệu con, trong đó riêng đàn gà là 16 triệu con. Ngược lại, đàn trâu giảm còn 26.709 con do hiệu quả kinh tế thấp và diện tích chăn thả bị thu hẹp. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng năm 2025 đạt 315.603,6 tấn, tăng 13,7%. Sản lượng thịt bò hơi đạt 90.750,2 tấn, thịt gia cầm đạt 59.483,2 tấn và sữa bò tươi đạt 73.508 tấn.[45]
Tỉnh chủ trương phát triển vùng nguyên liệu tập trung gắn với chế biến sâu nhằm giảm dần tỷ trọng xuất khẩu nguyên liệu thô, với định hướng trở thành trung tâm công nghiệp chế biến nông – lâm sản của khu vực miền Trung – Tây Nguyên.[46] Việc cấp mã số vùng trồng phục vụ truy xuất nguồn gốc được đẩy mạnh: đến tháng 6 năm 2026, toàn tỉnh có 400 mã số vùng trồng với tổng diện tích 12.162 ha, gồm 55 mã số phục vụ thị trường nội địa và 345 mã số phục vụ xuất khẩu, cùng 53 cơ sở đóng gói nông sản xuất khẩu; các loại cây được cấp mã số gồm cà phê, sầu riêng, chuối, chanh dây, thanh long và ớt.[47] Riêng với sầu riêng, tỉnh được cấp 80 mã số vùng trồng xuất khẩu trên tổng diện tích hơn 1.849 ha và 6 mã số cơ sở đóng gói với tổng công suất 400–420 tấn quả tươi mỗi ngày, chủ yếu phục vụ thị trường Trung Quốc.[48]
Công nghiệp và đầu tư
Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2025 tăng 9% so với năm trước, trong đó ngành sản xuất và phân phối điện là động lực chính với mức tăng 23,05% nhờ điều kiện thủy văn thuận lợi và một số dự án mở rộng công suất đi vào vận hành, còn công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,1% và công nghiệp khai khoáng giảm 6,61%. Các cơ sở công nghiệp chủ lực của tỉnh gồm các nhà máy chế biến nông sản và thủy sản, chế biến gỗ, dệt may, sản xuất vật liệu xây dựng và năng lượng tái tạo, phân bố tại các khu công nghiệp như Becamex VSIP Bình Định, Phù Mỹ, Nhơn Hòa, Nam Pleiku và Khu kinh tế Cửa khẩu Quốc tế Lệ Thanh.[49]
Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn năm 2025 đạt 85.330,6 tỷ đồng, tăng 8,9%, trong đó vốn ngoài nhà nước chiếm 62,9% và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ chiếm 2,2%. Toàn tỉnh có 3.000 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký 27.000 tỷ đồng. Tính đến ngày 30 tháng 11 năm 2025, tỉnh thu hút được 172 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký 157.050 tỷ đồng, trong đó có 16 dự án FDI.[50]
Thương mại, dịch vụ và du lịch
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2025 đạt 198.689,8 tỷ đồng, tăng 13,2% so với năm trước, trong đó bán lẻ hàng hóa đạt 149.395,7 tỷ đồng và nhóm lưu trú, ăn uống, lữ hành đạt 28.764,7 tỷ đồng. Doanh thu vận tải, kho bãi đạt 19.580,4 tỷ đồng, tăng 10,9%, còn sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển đạt 13.767 nghìn tấn, giảm 3,1% so với năm trước. Du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, kết hợp giữa du lịch biển ở Quy Nhơn, Kỳ Co – Eo Gió với du lịch sinh thái và không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở phía tây địa bàn tỉnh.[51]
Về ngoại thương, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2025 đạt 4.432,5 triệu USD, tăng 14%, trong đó xuất khẩu đạt 3.447,5 triệu USD và nhập khẩu đạt 985 triệu USD, mức xuất siêu là 2.462,5 triệu USD. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực gồm sản phẩm gỗ, dăm gỗ và viên nén gỗ, hàng dệt may, thủy sản, sản phẩm từ chất dẻo, gạo, sắn và các sản phẩm từ sắn; thị trường lớn nhất là châu Mỹ, tiếp đến là châu Á và châu Âu.[52]
Giao thông
Giao thông Gia Lai khá thuận lợi không những về đường bộ mà còn cả đường hàng không. Tỉnh có Quốc lộ 1A, Quốc lộ 1D, Quốc lộ 14 nối các tỉnh Đắk Lắk, Quảng Ngãi thông đến Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt tuyến đường Hồ Chí Minh đã rút ngắn khoảng cách từ Gia Lai đến các trung tâm kinh tế chính trị lớn của cả nước. Các tuyến Quốc lộ 19 xuống khu vực phía đông và các vùng lân cận của tỉnh, Quốc lộ 25 đến phường Tuy Hoà, thuộc địa phận tỉnh Đắk Lắk. Ngoài ra, Sân bay Pleiku và Sân bay Phù Cát của Gia Lai, có đường bay nối Pleiku, Phù Cát với các thành phố lớn là Đà Nẵng (ngưng hoạt động),[53] Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng (ngưng hoạt động).
Công trình hạ tầng lớn nhất đang triển khai trên địa bàn là đường bộ cao tốc Quy Nhơn – Pleiku, trục giao thông chiến lược nối Tây Nguyên với duyên hải miền Trung. Tuyến dài khoảng 125 km, đi qua 16 xã, phường của tỉnh, có tổng mức đầu tư khoảng 43.734 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước, quy mô bốn làn xe và vận tốc thiết kế 100 km/h; riêng các đoạn qua địa hình hiểm trở như đèo An Khê và đèo Mang Yang, tốc độ khai thác được điều chỉnh xuống dưới 80 km/h.[54]
Nhờ phần lãnh thổ ven biển kế thừa từ tỉnh Bình Định cũ, tỉnh hiện có hệ thống cảng biển giữ vai trò cửa ngõ ra biển cho cả vùng Tây Nguyên.
Xe buýt
Gia Lai có mạng lưới tuyến xe buýt nội tỉnh và liên tỉnh liền kề, với các tuyến như sau:
Tuyến nội tỉnh
- Bến xe Đức Long - Trung tâm Thương mại TP. Pleiku
- Trường Cao đẳng Sư Phạm - Thị xã An Khê
- Trung tâm Thương mại TP. Pleiku - Xã Ia Tiêm huyện Chư Sê
- Trung tâm Thương mại TP. Pleiku - Xã Ia Piơr huyện Chư Prông
- Trung tâm Thương mại TP. Pleiku - Thị xã Ayun Pa
- Trung tâm Thương mại TP. Pleiku - Trung tâm huyện Ia Pa
- Trung tâm Thương mại TP. Pleiku - Thị trấn Nhơn Hòa huyện Chư Pưh
- Trung tâm Thương mại TP. Pleiku - Thị trấn Chư Prông huyện Chư Prông
- Trung tâm Thương mại TP. Pleiku - Xã Ia Púch huyện Chư Prông
- Trung tâm Thương mại TP. Pleiku - Xã Ia Dom huyện Đức Cơ
Tuyến liền kề
Y tế – Giáo dục
Y tế
Những năm gần đây hệ thống y tế Gia Lai từng bước được cải thiện và nâng lên về mặt chất lượng với các bệnh viện lớn.
Việc cung ứng các dịch vụ y tế được mở rộng, tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số được khám chữa bệnh và hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng[55] Với một số bệnh viện lớn như: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai, Bệnh viện Quân y 211 (Binh đoàn Tây Nguyên), Bệnh viện Quân y 15 (Binh đoàn 15), Bệnh Viện Quân y 13 (Quân khu 5), Bệnh viện Đại học Y Dược - Hoàng Anh Gia Lai, Bệnh viện Hùng Vương Gia Lai, Bệnh viện 331, Viện Sốt Rét Ký Sinh Trùng Côn Trùng Quy Nhơn, Bệnh viện Phong - Da liễu trung ương Quy Hòa đã hạn chế được tình trạng các bệnh nhân phải chuyển tuyến đến các bệnh viện tuyến trên như: Bệnh viện Chợ Rẫy (Thành phố Hồ Chí Minh), Bệnh viện Đà Nẵng (Đà Nẵng), Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội). Với sự hình thành của Bệnh viện Nhi tỉnh Gia Lai đã góp phần nâng cao chất lượng về Y tế của tỉnh. Bệnh nhân ít phải chuyển tuyến đến các bệnh viện tuyến trên hiện nay đã quá tải trầm trọng như: Bệnh viện Nhi đồng (Thành phố Hồ Chí Minh), Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng (Đà Nẵng), Bệnh viện Nhi Trung ương (Hà Nội).
Hệ thống y tế tỉnh Gia Lai do Sở Y tế quản lý, được kiện toàn lại sau khi hợp nhất hành chính vào tháng 7 năm 2025 và sau khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp được áp dụng, trong đó trạm y tế cấp xã trở thành đơn vị sự nghiệp trực thuộc thay vì tuyến dưới của trung tâm y tế cấp huyện như trước. Cơ sở khám chữa bệnh tuyến cuối của tỉnh là Bệnh viện Đa khoa Trung tâm tỉnh Gia Lai. Ngày 21 tháng 7 năm 2026, tỉnh công bố quyết định thành lập Bệnh viện Sản – Nhi tỉnh Gia Lai.[56][57]
Năm 2025, các cơ sở điều trị trực thuộc Sở Y tế tiếp nhận 3.090.933 lượt khám chữa bệnh, tăng 229.853 lượt so với năm trước; chi phí khám chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế ước hơn 3.000 tỷ đồng. Cũng trong năm, cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh cấp 814.911 thẻ bảo hiểm y tế cho các nhóm được ngân sách hỗ trợ, trong đó có 314.163 người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, 294.685 trẻ em dưới 6 tuổi và 92.807 người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo.[58] Đến giữa năm 2026, toàn tỉnh có 3.010.787 người tham gia bảo hiểm y tế, đạt tỷ lệ bao phủ 93,71% dân số, thấp hơn mức bình quân chung cả nước.[59]
Về an toàn thực phẩm, ngành y tế tỉnh quản lý 13.302 cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm và dịch vụ ăn uống, trong đó tuyến tỉnh quản lý 2.691 cơ sở và tuyến xã, phường quản lý 10.611 cơ sở. Trong năm 2025, trên địa bàn ghi nhận ba vụ ngộ độc thực phẩm với 160 người mắc và không có trường hợp tử vong.[60]
Giáo dục
Năm học 2025–2026, tỉnh Gia Lai có 1.283 cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên công lập với 21.237 lớp và hơn 724.000 học sinh, đứng trong nhóm địa phương có quy mô giáo dục lớn nhất cả nước sau khi hợp nhất với tỉnh Bình Định cũ. Sang năm học 2026–2027, quy mô toàn ngành dự kiến tăng lên 21.480 lớp với 735.356 học sinh. Tổng số viên chức ngành giáo dục hiện có là 39.255 người trên tổng biên chế được giao là 44.033 chỉ tiêu; theo Quyết định số 185-QĐ/TW, chỉ tiêu biên chế giáo dục của tỉnh năm 2026 giảm còn 39.627 người trong khi nhu cầu thực tế là 46.865 người, khiến tỉnh dự báo thiếu khoảng 7.238 người trong năm học mới và phải kiến nghị trung ương giữ nguyên mức biên chế như năm 2025.[61][62]
Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm học 2024–2025 là kỳ thi đầu tiên được tổ chức theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Tỉnh Gia Lai có 35.213 thí sinh dự thi, trong đó 34.974 em đỗ tốt nghiệp, đạt tỷ lệ 99,32%. Tại kỳ thi học sinh giỏi quốc gia cùng năm, học sinh của tỉnh giành 1 giải nhất, 17 giải nhì, 38 giải ba và 45 giải khuyến khích; ở đấu trường quốc tế, tỉnh có học sinh đoạt huy chương vàng Olympic Tin học Quốc tế năm 2025 và huy chương bạc Olympic Tin học châu Á – Thái Bình Dương, bên cạnh giải ba chung kết Đường lên đỉnh Olympia năm 2024 cùng nhiều giải thưởng tại Cuộc thi Khoa học kỹ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh trung học.[63]
Tỉnh đang triển khai Đề án phát triển giáo dục STEM giai đoạn 2025–2030, trong đó đã khởi công xây dựng ba phòng STEM-LAB đặt tại Trường Trung học phổ thông chuyên Lê Quý Đôn, Trường Trung học phổ thông chuyên Chu Văn An và Trường Trung học phổ thông chuyên Hùng Vương, hoàn thành trong cuối năm 2025.[64]
Địa bàn tỉnh Gia Lai có một vài cơ sở giáo dục bậc đại học và cao đẳng, bao gồm Trường Đại học Quy Nhơn. Trường Đại học Quang Trung, phân hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, phân hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp, phân hiệu Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (được chuyển đổi từ Trường Cao đẳng Sư phạm Gia Lai vào năm 2023),[65] phân hiệu Trường Đại học Đông Á, Trường Cao đẳng Gia Lai , Trường Cao đẳng số 21 (trực thuộc Bộ Quốc phòng),Trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghệ Quy Nhơn và Trường Cao đẳng Cơ điện - Xây dựng và Nông lâm Trung Bộ.
Khoa học và công nghệ
Sau khi hợp nhất, tỉnh Gia Lai kế thừa định hướng lấy khoa học và công nghệ làm động lực phát triển vốn được tỉnh Bình Định cũ theo đuổi từ đầu thập niên 2010, đồng thời triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Theo Kế hoạch số 31-KH/TU của Tỉnh ủy, đến năm 2026 tỉnh phấn đấu đưa tỷ trọng kinh tế số đạt 15% GRDP, đóng góp của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đạt 15% GRDP, tỷ lệ đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng khoảng 43,5%; song song với đó là chuyển các hệ thống thông tin lên Trung tâm Dữ liệu quốc gia, hình thành kho dữ liệu số cấp tỉnh và thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phát triển doanh nghiệp công nghệ cùng khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.[66]
Hạt nhân của hoạt động khoa học trên địa bàn là Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành (ICISE) tại Quy Nhơn, ra mắt năm 2013 với sự vận động của giáo sư Trần Thanh Vân và Hội Gặp gỡ Việt Nam. Sau mười năm hoạt động, trung tâm đã tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo và lớp học chuyên đề thu hút hơn 10.000 nhà khoa học từ 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có 18 giáo sư từng đoạt giải Nobel.[67] Xung quanh ICISE, Khu đô thị khoa học và giáo dục Quy Hòa được quy hoạch trên diện tích 242 ha, gồm ba phân khu là khu hội tụ khoa học với các viện nghiên cứu và trường đào tạo kỹ sư chất lượng cao, khu công viên khoa học và trung tâm phần mềm, cùng khu tái định cư và nhà ở dành cho chuyên gia. Trong khu đô thị đã hình thành Trung tâm Khám phá khoa học với nhà mô hình vũ trụ, bảo tàng khoa học và đài quan sát thiên văn, Công viên sáng tạo TMA của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Giải pháp phần mềm Tường Minh Bình Định, cùng tổ hợp trung tâm nghiên cứu, sản xuất và đào tạo chuyên gia công nghệ của FPT Software.[68]
Văn hóa - du lịch
Tiềm năng du lịch của Gia Lai rất phong phú, đa dạng với núi rùng cao có nhiều cảnh quan tự nhiên và nhân tạo. Rừng nguyên sinh nơi đây có hệ thống động thực vật phong phú, nhiều ghềnh thác, suối, hồ như Biển Hồ (hay Hồ T'Nưng) là một thắng cảnh nổi tiếng, ngoài ra có chùa Minh Thành (Gia Lai). Di tích Đền tưởng niệm liệt sỹ và Tượng đài Chiến thắng Đăk Pơ tại xã Đăk Pơ - nơi tưởng niệm các liệt sỹ hi sinh trong trận đánh Đăk Pơ.[69] Nhiều đồi núi như cổng trời Mang Yang, đỉnh Hàm Rồng (phường Hội Phú), thác Hang Dơi (xã K'Bang) và thác K50 (xã Sơn Lang). Các cảnh quan nhân tạo có các rừng cao su, đồi chè, cà phê bạt ngàn. Kết hợp với tuyến đường rừng, có các tuyến dã ngoại bằng thuyền trên sông, cưỡi voi xuyên rừng, v.v...
Ngoài ra, Gia Lai còn có nền văn hoá lâu đời của đồng bào dân tộc, chủ yếu là dân tộc Gia Rai và Ba Na thể hiện qua kiến trúc nhà rông, nhà sàn, nhà mồ, qua lễ hội truyền thống, qua y phục và nhạc cụ...
Các nhạc cụ đặc trưng của các dân tộc thiểu số như Cồng chiêng, Đàn đá, Đàn K'ni, K'lông Pút, Đàn Goong, T'rưng, Alal,... Các lễ hội như Lễ hội đâm trâu, Lễ ăn cơm mới, Lễ bỏ mả,... Ngoài ra, tỉnh còn có các món đặc sản như Rượu ghè/Rượu cần, Cơm cháy - Rượu nếp, Phở khô (Loại phở hai tô) và điêu khắc nổi tiếng là Tượng nhà mồ.
Sau khi hợp nhất, tỉnh Gia Lai trở thành nơi hội tụ hai vùng văn hóa khác biệt: không gian văn hóa Tây Nguyên của các dân tộc Bahnar, Jrai ở phía tây và không gian văn hóa duyên hải Nam Trung Bộ với di sản Chăm, di tích phong trào Tây Sơn, võ cổ truyền, tuồng và bài chòi ở phía đông.[70][71]
Di sản văn hóa
Tiêu biểu nhất ở khu vực phía tây là Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, di sản đã được UNESCO ghi danh, cùng kho tàng sử thi của người Bahnar và người Jrai. Ở khu vực phía đông, tỉnh sở hữu nghệ thuật bài chòi cũng đã được UNESCO ghi danh, nghệ thuật hát bội gắn với truyền thống tuồng của Đào Tấn, và võ cổ truyền Bình Định – môn võ được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia ngày 27 tháng 12 năm 2012, hiện đang được Việt Nam lập hồ sơ trình UNESCO xem xét ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.[72]
Trong khuôn khổ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, tỉnh đã tổ chức kiểm kê, sưu tầm và tư liệu hóa di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc Bahnar, Jrai, Chăm H'roi và H'rê, phục dựng nhiều lễ hội truyền thống như lễ mừng lúa mới của người Jrai, lễ hội ăn cốm lúa mới của người Bahnar K'riêm và lễ hội Thần Làng của người Chăm H'roi.[73]
Di tích
Trên địa bàn tỉnh có nhiều di tích quốc gia đặc biệt trải dài theo các thời kỳ lịch sử khác nhau. Phức hợp di tích sơ kỳ Đá cũ Rộc Tưng – Gò Đá ở vùng An Khê thuộc lớp cổ nhất, gồm di tích Gò Đá và hệ thống các địa điểm Rộc Tưng. Quần thể di tích Tây Sơn Thượng đạo, phân bố ở An Khê, Đak Pơ, Kbang và Kông Chro, là nơi ba anh em nhà Tây Sơn dựng cờ khởi nghĩa năm 1771; sau khi hợp nhất tỉnh, quần thể này cùng hệ thống di tích Tây Sơn hạ đạo ở phía đông tạo thành một hệ thống di tích Tây Sơn thống nhất. Về di sản Chăm, tháp Dương Long được xây dựng dưới thời vua Champa Jaya Indravarman, kết hợp hài hòa nghệ thuật kiến trúc Khmer và Champa và được đánh giá là một trong những tháp Chăm đẹp nhất Việt Nam.[74][75]
Một số lễ hội lớn gắn với quần thể di tích Tây Sơn Thượng đạo vẫn được người dân duy trì hằng năm như lễ dâng hương tưởng niệm Chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa, lễ kỷ niệm ngày mất của Hoàng đế Quang Trung, lễ cúng Khai Sơn và lễ cúng Quý Xuân; từ năm 2017, người dân vùng An Khê đã phục hồi Hội cầu Huê sau nhiều thập kỷ mai một.[76]
Thể thao
Sau khi hợp nhất, tỉnh Gia Lai là địa phương duy nhất có hai câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp thi đấu ở hai hạng đấu khác nhau. Câu lạc bộ bóng đá Hoàng Anh Gia Lai đóng tại Pleiku, lấy sân vận động Pleiku làm sân nhà và có hệ thống đào tạo trẻ là Học viện bóng đá Hoàng Anh Gia Lai. Tại mùa giải V.League 2025–2026, đội trải qua phần lớn thời gian ở nhóm cuối bảng và chỉ chính thức trụ hạng ở vòng 25 sau chiến thắng ngược dòng 3–1 trước Hà Nội FC trên sân Pleiku tối 31 tháng 5 năm 2026.[77] Đội bóng thứ hai là Câu lạc bộ bóng đá Quy Nhơn United, tiền thân là Câu lạc bộ bóng đá Quy Nhơn Bình Định, thi đấu trên sân vận động Quy Nhơn. Sau khi xuống hạng ở cuối mùa giải 2024–2025 và trong bối cảnh nhà tài trợ rút lui, đội từng được tính đến phương án sáp nhập với Hoàng Anh Gia Lai để tỉnh chỉ duy trì một câu lạc bộ chuyên nghiệp, song phương án này không được thực hiện và đội vẫn dự Giải bóng đá hạng nhất quốc gia 2025–2026.[78] Ngày 5 tháng 8 năm 2025, Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai có công văn chấp thuận việc đổi tên đội thành Câu lạc bộ bóng đá Quy Nhơn United, qua đó tên gọi Bình Định không còn tồn tại trên bản đồ bóng đá Việt Nam; đây là lần đổi tên thứ tư của đội kể từ mùa giải 2021.[79][80]
Khu vực phía đông của tỉnh, tức đất Bình Định cũ, được biết đến là "miền đất Võ" với hệ thống lò võ và võ đường gắn liền với võ cổ truyền Bình Định. Tỉnh duy trì các giải đấu truyền thống như Giải võ cổ truyền các võ đường Bình Định tranh cúp Hoàng đế Quang Trung. Tỉnh là nơi đăng cai Liên hoan quốc tế võ cổ truyền Việt Nam lần thứ IX từ ngày 2 đến ngày 5 tháng 8 năm 2026 với sự tham dự của 16 đoàn võ thuật quốc tế và 43 đoàn trong nước.[81] Nhiều tour, tuyến du lịch trải nghiệm gắn với võ cổ truyền cũng được khai thác nhằm kéo dài thời gian lưu trú của du khách.[82]
Năm 2025, tỉnh có 4 huấn luyện viên và 34 vận động viên được triệu tập vào các đội tuyển quốc gia, trong đó 2 huấn luyện viên và 19 vận động viên ở cấp độ trẻ; tính đến ngày 1 tháng 12 năm 2025, các đội tuyển thể thao thành tích cao của tỉnh đã tham dự 121 giải đấu cấp khu vực, quốc gia và quốc tế.[83]
Trên địa bàn tỉnh thường xuyên diễn ra nhiều sự kiện thể thao quy mô lớn, trong đó năm 2025 có Giải vô địch Golf Gia Lai và Giải vô địch trẻ Kickboxing tỉnh Gia Lai lần thứ nhất.[84] Trong khuôn khổ Năm Du lịch Quốc gia 2026, tỉnh tiếp tục tổ chức Liên hoan Lân Sư Rồng quốc tế tại Quy Nhơn, Giải Marathon VnExpress cùng nhiều hoạt động thể thao khác kéo dài đến lễ bế mạc vào tháng 12 năm 2026.[85]
Danh nhân
Chính trị, lịch sử
- Anh Hùng Núp (Đinh Núp), anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
- Kpă KLơng, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
- Puih San (A Sanh), anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
- Nay Der, người sáng lập bộ chữ viết đầu tiên của dân tộc Jrai
- Wừu, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
- Ya Dố, nữ tướng thời Tây Sơn
Nghệ thuật
- Binz, rapper (Gia Lai cũ, Việt Nam)
- Nguyễn Thị Hương Ly, người mẫu, quán quân Vietnam's Next Top Model 2015, Top 5 Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam 2022, Á Hậu 1 Miss Universe Vietnam 2023 (Gia Lai cũ, Việt Nam)
- Phi Nhung, ca sĩ (Pleiku, Gia Lai)
- Nhóm nhạc TaynguyenSound (TNS), được biết đến với những sản phẩm âm nhạc mang màu sắc núi rừng Tây Nguyên (gồm các thành viên: Tùng TeA, PC, Tofu, Namlee, VoVanDuc, Tuyết, D.blue, Urabe, An)
- Ribi Sachi (Nguyễn Thị Thuỷ), diễn viên, người mẫu (Gia Lai cũ, Việt Nam)
- Changg (Nguyễn Huyền Trang), ca sĩ
- Nguyễn Hùng, ca sĩ kiêm nhạc sĩ
- Lê Hạ Anh, diễn viên (Pleiku, Gia Lai)
Khác
- Công Tố, người dẫn chương trình, biên tập viên của Đài Truyền hình Việt Nam
- Đoàn Nguyên Đức (còn gọi là "bầu Đức"), chủ tịch Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai, một doanh nhân nổi tiếng trong lĩnh vực bất động sản và bóng đá
- Cường Đô La, doanh nhân nổi tiếng, được biết đến với niềm đam mê xe hơi và các hoạt động kinh doanh
- CEO Lê Hoàng Diệp Thảo, doanh nhân thành đạt trong lĩnh vực cà phê, được biết đến với vai trò lãnh đạo của Trung Nguyên Legend
- Hiếu PC, chuyên gia an ninh mạng, được biết đến với những đóng góp trong lĩnh vực an ninh mạng và bảo mật
- Dur Siu, YouTuber, được biết đến với những video mang đậm dấu ấn văn hóa Gia Lai.
- Trường Quân TQ97, YouTube.
Hình ảnh
Thành phố Pleiku (cũ)
-
Ngã ba Phù Đổng (2010)
-
Đường Lê Duẩn - Thành phố Pleiku
-
Sân bay Pleiku (2018)
-
Đường phố ở Pleiku (2012)
-
Quảng trường Đại đoàn kết
-
Pleiku về đêm
-
Trên cao nguyên Pleiku
-
Ho T'Nưng (Biển Hồ)
Thị xã An Khê (cũ)
-
Một góc An khê
-
Thị xã An Khê, Gia Lai (2009)
-
Di tích An Khê Trường
-
Tượng Quang Trung - Nguyễn Huệ
-
Rìu tay An Khê
-
Nhà trưng bày Tây Sơn Thượng đạo tại An Khê
-
Lễ tế Quý xuân tại Đình An Khê
Huyện Đăk Pơ (cũ)
-
Trụ sở UBND xã Đăk Pơ
Huyện Mang Yang (cũ)
-
Đèo Mang Yang, Gia Lai (2010)
-
Đền tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ trung đoàn bộ binh 95 (Đoàn Mang Yang)
-
Ngã ba thị trấn Kon Dơng
-
Xã H'Ra
Kết nghĩa
Xem thêm
Chú thích
- ^ Sau tỉnh Lâm Đồng
- ^ "Danh sách dự kiến tên gọi của 34 tỉnh, thành phố và trung tâm chính trị - hành chính". vtv.vn. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2025.
- ^ a ă â b Địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và nghiêng từ Đông sang Tây Lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2018 tại Wayback Machine, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
- ^ https://gialai.gov.vn/gioi-thieu/dieu-kien-tu-nhien.7.aspx
- ^ "Toàn văn Nghị quyết số 1664/NQ-UBTVQH15 sắp xếp các ĐVHC cấp xã của tỉnh Gia Lai năm 2025". Báo Điện tử Chính phủ. ngày 12 tháng 6 năm 2025.
- ^ Căn cứ theo Đề án số 393/ĐA-CP của Chính phủ ngày 09 tháng 5 năm 2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Gia Lai (mới) năm 2025
- ^ Vùng đất tỉnh Gia Lai ngày nay là địa bàn cư trú lâu đời của các dân tộc Jrai, Bahnar có tập quán sống thành từng làng, Theo Báo Gia Lai.
- ^ Thị xã Pleiku được thành lập ngày 3 tháng 12 năm 1929 theo Nghị định Khâm sứ Trung Kỳ
- ^ Thông tin lịch sử tỉnh Gia Lai, Tỉnh Gia Lai. Lưu trữ ngày 19 tháng 6 năm 2012 tại Wayback Machine.
- ^ Quyết định 77-CP năm 1979 về việc thành lập và điều chỉnh địa giới một số xã, thị trấn thuộc các huyện Chư Prông, An Khê, Sa Thầy và Ayun Pa, tỉnh Gia Lai - Kon Tum
- ^ "Quyết định 34-HĐBT năm 1981 về việc thành lập huyện Chư Sê thuộc tỉnh Gia Lai-Kon Tum". Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2013.
- ^ "Quyết định 181-HĐBT năm 1984 về việc điều chỉnh địa giới huyện Kon Plong và chia huyện An Khê thuộc tỉnh Gia Lai-Kon Tum". Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2013.
- ^ "Quyết định 96-HĐBT năm 1988 về việc phân vạch lại địa giới hành chính huyện An Khê và một số xã, thị trấn thuộc tỉnh Gia Lai - Kon Tum".
- ^ Nghị quyết kỳ họp thứ 9 của Quốc hội khoá VIII, Gia Lai - Kon Tum tách thành hai tỉnh: Gia Lai và Kon Tum. Lưu trữ ngày 21 tháng 6 năm 2012 tại Wayback Machine, UBND tỉnh Gia Lai.
- ^ "Quyết định 315-HĐBT năm 1991 thành lập huyện mới Đức Cơ thuộc tỉnh Gia Lai". Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2013.
- ^ "Nghị định 70/CP năm 1996 về việc điều chỉnh địa giới hành chính, thành lập một số xã, thị trấn và huyện Ia Grai thuộc tỉnh Gia Lai". Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2013.
- ^ "Nghị định 29/1999/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Pleiku thuộc tỉnh Gia Lai".
- ^ "Nghị định 37/2000/NĐ-CP về việc đổi tên xã, thị trấn, thành lập xã thuộc huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai và chia huyện Mang Yang thành hai huyện Đak Đoa và Mang Yang". Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2013.
- ^ "Nghị định 104/2002/NĐ-CP về việc chia tách huyện Ayun Pa thành hai huyện Ia Pa và Ayun Pa, tỉnh Gia Lai". Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2013.
- ^ "Nghị định 155/2003/NĐ-CP về việc thành lập thị xã An Khê và huyện Đak Pơ, thành lập xã Đak Pơ thuộc huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai". Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2013.
- ^ "Nghị định 50/2007/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Ayun Pa;thành lập thị xã Ayun Pa và huyện Phú Thiện;thành lập các phường Cheo Reo, Hòa Bình, Đoàn Kết, Sông Bờ". Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2013.
- ^ "Nghị quyết số 43/NQ-CP về điều chỉnh địa giới hành chính xã để thành lập xã thuộc huyện Chư Sê; điều chỉnh địa giới hành chính huyện Chư Sê để thành lập huyện Chư Pưh thuộc tỉnh Gia Lai". Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2013.
- ^ "Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh". Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam. ngày 12 tháng 6 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2025.
- ^ Nghị quyết số 203/2025/QH15 ban hành ngày 16/06/2025 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- ^ Nghị quyết 1664/NQ-UBTVQH15 năm 2025 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Gia Lai.
- ^ a ă â b Diện tích, dân số và mật độ dân số phân theo địa phương, Trang Thông tin điện tử Cục Thống kê - Bộ Tài chính
- ^ Thành Chung (ngày 13 tháng 5 năm 2025). "Chi tiết dự kiến quy mô dân số, diện tích, kinh tế của 34 tỉnh, thành sau sáp nhập". Tuổi Trẻ Online. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2025.
- ^ https://dantri.com.vn/noi-vu/du-kien-chi-tiet-dien-tich-dan-so-quy-mo-kinh-te-cua-34-tinh-thanh-moi-20250609213449364.htm
- ^ https://thongkegialai.nso.gov.vn/tin-tuc/30
- ^ "Báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai" (PDF). Công báo tỉnh Gia Lai. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Báo cáo về công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh Gia Lai" (PDF). Cổng thông tin điện tử tỉnh Gia Lai. ngày 16 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Mở hướng mới bảo tồn và phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số". Báo Gia Lai. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Gia Lai gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số - Nền tảng cho du lịch bền vững". Cổng thông tin điện tử tỉnh Gia Lai. ngày 5 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Báo cáo về công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh Gia Lai" (PDF). Cổng thông tin điện tử tỉnh Gia Lai. ngày 16 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Báo cáo KT-XH Quý IV và năm 2025". Thống kê tỉnh Gia Lai. ngày 10 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai" (PDF). Công báo tỉnh Gia Lai. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Kết quả toàn bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019" (PDF). Tổng cục Thống kê.
- ^ "Báo cáo KT-XH Quý IV và năm 2025". Thống kê tỉnh Gia Lai. ngày 10 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Gia Lai: Họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội năm 2025". Báo Gia Lai. ngày 5 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Báo cáo KT-XH Quý IV và năm 2025". Thống kê tỉnh Gia Lai. ngày 10 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Báo cáo KT-XH Quý IV và năm 2025". Thống kê tỉnh Gia Lai. ngày 10 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Gia Lai: GRDP sáu tháng đầu năm 2026 tăng trưởng 8,21%". Báo Nhân Dân. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Gia Lai đón làn sóng đầu tư lớn, tăng tốc cho mục tiêu tăng trưởng hai con số". VietnamNet. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Báo cáo KT-XH Quý IV và năm 2025". Thống kê tỉnh Gia Lai. ngày 10 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Báo cáo KT-XH Quý IV và năm 2025". Thống kê tỉnh Gia Lai. ngày 10 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Công nghiệp chế biến: Động lực tăng trưởng mới của Gia Lai". Báo Gia Lai. ngày 15 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Gia Lai có thêm 90 mã số vùng trồng". Báo Nông nghiệp và Môi trường. ngày 24 tháng 6 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Giữ "hộ chiếu" xuất khẩu cho sầu riêng". Báo Gia Lai. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Báo cáo KT-XH Quý IV và năm 2025". Thống kê tỉnh Gia Lai. ngày 10 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "GRDP năm 2025 của tỉnh Gia Lai ước đạt 7,2%, thu hút đầu tư bứt phá". Báo Gia Lai. ngày 2 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Báo cáo KT-XH Quý IV và năm 2025". Thống kê tỉnh Gia Lai. ngày 10 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Báo cáo KT-XH Quý IV và năm 2025". Thống kê tỉnh Gia Lai. ngày 10 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ https://web.archive.org/web/20051028000059/http://www.danang.gov.vn/. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2005. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2015.
{{Chú thích web}}:|title=trống hay bị thiếu (trợ giúp) - ^ "Cao tốc Quy Nhơn - Pleiku gần 44.000 tỷ đồng: Phấn đấu thông xe kỹ thuật năm 2027". Báo Lâm Đồng. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ Nâng cấp y tế Gia Lai Lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2012 tại Wayback Machine, Sở Kế Hoạch và Đầu tư Tỉnh Gia Lai.
- ^ "Quá tải kéo dài, bệnh viện tỉnh tuyến cuối đề xuất tăng giường bệnh". VietnamPlus. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Lễ công bố Quyết định thành lập Bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Gia Lai". Sở Y tế tỉnh Gia Lai. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Báo cáo KT-XH Quý IV và năm 2025". Thống kê tỉnh Gia Lai. ngày 10 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Gia Lai đạt tỷ lệ 93,71% dân số tham gia bảo hiểm y tế". Báo Gia Lai. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Báo cáo KT-XH Quý IV và năm 2025". Thống kê tỉnh Gia Lai. ngày 10 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Thiếu 7.238 biên chế giáo dục, Gia Lai kiến nghị gì?". Báo Thanh Niên. ngày 22 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Nguy cơ thiếu giáo viên đứng lớp, Sở GD&ĐT Gia Lai đề xuất giao biên chế năm 2026 bằng 2025". Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Báo cáo KT-XH Quý IV và năm 2025". Thống kê tỉnh Gia Lai. ngày 10 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Báo cáo KT-XH Quý IV và năm 2025". Thống kê tỉnh Gia Lai. ngày 10 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ Minh Giảng (ngày 29 tháng 4 năm 2023). "Trường đại học Sư phạm TP.HCM có thêm phân hiệu tại Gia Lai". Tuổi Trẻ. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2023.
- ^ "Gia Lai triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW: Quyết tâm tạo bứt phá về năng suất, quản trị và kinh tế số". Bộ Khoa học và Công nghệ. ngày 26 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ Phạm Linh, Bùi Toàn (ngày 13 tháng 11 năm 2023). "'Quy Nhơn sẽ là đô thị khoa học, sáng tạo'". VnExpress. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ Phạm Linh, Bùi Toàn (ngày 13 tháng 11 năm 2023). "'Quy Nhơn sẽ là đô thị khoa học, sáng tạo'". VnExpress. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "DI TÍCH ĐỀN TƯỞNG NIỆM LIỆT SĨ VÀ TƯỢNG ĐÀI CHIẾN THẮNG ĐAK PƠ - CÔNG TRÌNH KHẮC GHI LÒNG BIẾT ƠN VÀ NIỀM TỰ HÀO".
- ^ "Liên hoan võ cổ truyền quốc tế góp phần quảng bá bản sắc văn hóa Gia Lai". Báo Gia Lai. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Năm Du lịch Quốc gia 2026: Trao truyền các giá trị di sản văn hóa của Gia Lai". VietnamPlus. ngày 5 tháng 3 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Tinh hoa võ thuật thế giới hội tụ về Gia Lai". Báo Dân trí. ngày 22 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Gia Lai gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số - Nền tảng cho du lịch bền vững". Cổng thông tin điện tử tỉnh Gia Lai. ngày 5 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Danh sách di tích quốc gia đặc biệt". Xây dựng chính sách, pháp luật. ngày 11 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Tiến vào kỷ nguyên mới với nền tảng văn hóa độc đáo, giàu bản sắc". Báo Gia Lai. ngày 18 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Phát huy giá trị di tích quốc gia đặc biệt Tây Sơn Thượng đạo". Báo Gia Lai. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "V.League 2026: Hoàng Anh Gia Lai chính thức trụ hạng". Báo Nhân Dân. ngày 1 tháng 6 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Không sáp nhập với Hoàng Anh Gia Lai, CLB Quy Nhơn Bình Định vẫn dự Giải hạng nhất". Tuổi Trẻ Online. ngày 2 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "CLB Bình Định chuyển thành Quy Nhơn United: Đổi tên 4 lần trong 4 năm, không bỏ hạng nhất". Báo Thanh Niên. ngày 6 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Đội bóng vừa xuống hạng chính thức đổi tên thành CLB bóng đá Quy Nhơn United". Thể thao và Văn hóa. ngày 6 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Tinh hoa võ thuật thế giới hội tụ về Gia Lai". Báo Dân trí. ngày 22 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Liên hoan võ cổ truyền quốc tế góp phần quảng bá bản sắc văn hóa Gia Lai". Báo Gia Lai. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Báo cáo KT-XH Quý IV và năm 2025". Thống kê tỉnh Gia Lai. ngày 10 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Báo cáo KT-XH Quý IV và năm 2025". Thống kê tỉnh Gia Lai. ngày 10 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.
- ^ "Gia Lai tổ chức đại cảnh nghệ thuật tại liên hoan võ cổ truyền quốc tế". Báo Sài Gòn Giải Phóng. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2026.