IRIS-T (infrared imaging system tail/thrust vector-controlled – Hệ thống tên lửa đầu tự dẫn ảnh hồng ngoại điều chỉnh hướng lực đẩy động cơ) là một loại tên lửa không đối không tầm ngắn có đầu dò tự dẫn hồng ngoại. Tên lửa này còn có tên AIM-2000.[9][10][7] Ngoài phiên bản không đối không, IRIS-T còn là nền tảng cho các phiên bản phòng không phóng từ mặt đất IRIS-T SLS và IRIS-T SLM cùng các biến thể phát triển từ chúng.

IRIS-T
Tập tin:IRIS-T expo front.JPG
Mô hình tên lửa IRIS-T
Loại
Nơi chế tạoĐức, Ý, Thụy Điển, Hy Lạp, Na Uy, Tây Ban Nha
Lược sử hoạt động
Phục vụ12/2005
Sử dụng bởiSee operators
Lược sử chế tạo
Nhà sản xuấtDiehl Defence, Avio S.p.A., Litton Italia, Leonardo S.p.A., Saab AB, GPCC, Nammo[1]
Giá thành400.000 €[2][3] với phiên bản không đối không
Số lượng chế tạo> 5.000 tên lửa tính đến tháng 12/2023 [4]
Thông số
Khối lượng87,4 kg (193 lb)
Chiều dài2,94 m (9,6 ft)[5]
Đường kính127 mm (5,0 in)
Đầu nổThuốc nổ/mảnh văng
Trọng lượng đầu nổ11,4 kg (25 lb)[6]
Cơ cấu nổNgòi nổ va chạm và ngòi nổ cận đích radar chủ động

Động cơĐộng cơ điều khiển hướng vòi phun nhiên liệu rắn[7]
Sải cánh447 mm (17,6 in)
Chất nổ đẩy đạnHTPB[8]
Tầm hoạt động
Trần bayIRIS-T SLS: Lên tới 8.000 m (26,000 feet)

IRIS-T SLM: 20 km IRIS-T SLX: 30 km

IRIS-T HYDEF: 50 km
Độ cao bayđộ cao đánh chặn tối đa 20.000 m (66.000 ft)
Tốc độMach 3[7]
Hệ thống chỉ đạođầu dò hồng ngoại ảnh nhiệt.[7]
Hệ thống lái4 miệng xả chỉnh hướng phụt và 4 cánh đuôi[1]
Nền phóng

Tên lửa được phát triển vào cuối những năm 1990 và đầu những năm 2000 trong khuôn khổ một chương trình do Đức dẫn đầu nhằm chế tạo một loại tên lửa không đối không tự dẫn hồng ngoại tầm ngắn đến trung bình để thay thế tên lửa AIM-9 Sidewinder đang được một số quốc gia NATO sử dụng. Một trong những yêu cầu khi thiết kế là IRIS-T phải có khả năng phóng từ bất kỳ máy bay nào vốn đang trang bị tên lửa Sidewinder trước đó.[11] Phiên bản không đối không được đưa vào trang bị năm 2005..

Lịch sử

Bối cảnh

Tập tin:IRIS-T air-to-air-missile.jpg
Một tên lửa không đối không IRIS-T của Không quân Đức.

Tháng 8 năm 1980, Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Đức và Pháp đã ký một bản ghi nhớ nhằm phát triển hai loại tên lửa không đối không để thay thế các loại đang sử dụng. Hoa Kỳ phát triển Tên lửa không đối không tầm trung tiên tiến (AMRAAM) để thay thế AIM-7 Sparrow, trong khi các nước châu Âu sẽ phát triển Tên lửa không đối không tầm ngắn tiên tiến (ASRAAM) để thay thế AIM-9 Sidewinder. Công việc này sau đó được khôi phục dưới hình thức hợp tác Anh–Đức,[12] trong đó Đức đảm nhiệm phát triển đầu tự dẫn mới, còn Anh đảm nhiệm phần lớn các thành phần còn lại.

Năm 1987, sau nhiều năm chương trình gần như đình trệ, Hoa Kỳ đề xuất yêu cầu rằng loại vũ khí mới phải sử dụng được các ray phóng của AIM-9 Sidewinder thay vì bộ giá chuyển đổi ray phóng máy bay đa dụng mang tên Missile Support Unit đã được phát triển trước đó. Điều này khiến dự án bị chậm một năm do các đề xuất của Anh, Đức và Na Uy phải được thiết kế lại. Lo ngại sự suy giảm của nền công nghiệp quốc phòng trong nước, Hoa Kỳ đề xuất sẽ lựa chọn phiên bản mới nhất của tên lửa Sidewinder với khả năng cơ động cao hơn và các biện pháp đối kháng hồng ngoại cải tiến (IRCCM), trừ khi các đối tác châu Âu tăng tỷ lệ công việc dành cho các công ty quốc phòng Hoa Kỳ.[13] Đề xuất nâng cấp này sau đó được định danh là AIM-9X.[14] Tuy nhiên, phương án nâng cấp tên lửa Sidewinder không thu hút được sự quan tâm của các các nước NATO.

Sau khi nước Đức thống nhất vào năm 1990, Đức đã sở hữu một số lượng lớn tên lửa không đối không Vympel R-73 của Liên Xô (định danh NATO: AA-11 Archer) trang bị trên các tiêm kích MiG-29 Fulcrum, và đi đến kết luận rằng khả năng của loại tên lửa này trước đây đã bị phương Tây đánh giá quá thấp.[15] Đây là một trong những tên lửa không đối không tầm gần thế hệ thứ tư đầu tiên và có khả năng tác chiến quần vòng vượt trội so với các tên lửa thế hệ thứ ba.[6][16][17] Năm 1990, Đức rút khỏi dự án ASRAAM, trong khi Vương quốc Anh quyết định phát triển một đầu tự dẫn khác và tiếp tục phát triển ASRAAM theo các yêu cầu về tầm bắn ban đầu.[18] Đến năm 1992, chương trình phát triển tên lửa chính thức tách thành các dự án riêng: Anh phát triển ASRAAM, Pháp phát triển MBDA MICA, Hoa Kỳ phát triển AIM-9X, còn Đức lựa chọn khởi động lại chương trình phát triển loại tên lửa sau này trở thành IRIS-T.

Phát triển

Năm 1995, Đức công bố khởi động chương trình phát triển IRIS-T với sự hợp tác của Hy Lạp, Ý, Na Uy, Thụy Điển và Canada. Đến năm 1997, Đức đã đầu tư hơn 500 triệu Mác Đức (DM) vào dự án này và nắm giữ 46% cổ phần. Ngoài ra, Ý chiếm 20%, Thụy Điển 18%, Hy Lạp 8%, Canada 4% và Na Uy 3%.[19] Canada sau đó rút khỏi chương trình, trong khi Tây Ban Nha tham gia với tư cách đối tác mua sắm vào năm 2003.[20] Không quân Đức bắt đầu tiếp nhận tên lửa IRIS-T vào biên chế tháng 12 năm 2005.[21]

Đặc tính tên lửa

So với AIM-9M Sidewinder, IRIS-T có khả năng chống đối kháng điện tử (ECM) và chống mồi bẫy nhiệt cao hơn.[22] Những cải tiến trong khả năng phân biệt mục tiêu cho phép IRIS-T có tầm bắn đối đầu lớn hơn từ năm đến tám lần so với AIM-9L[23] và tầm bắt bám mục tiêu lớn hơn từ ba đến bốn lần so với AIM-9M.[24] Đầu tự dẫn của tên lửa có thể nhận dữ liệu chỉ thị mục tiêu từ radar, hệ thống hiển thị gắn trên mũ bay, thiết bị tìm kiếm và theo dõi hồng ngoại (IRST), hệ thống cảnh báo tên lửa tiếp cậnliên kết dữ liệu.[25] Tên lửa có khả năng tiêu diệt các mục tiêu nằm phía sau máy bay phóng nhờ tính cơ động cực cao ở cự ly gần, cho phép thực hiện các cú ngoặt với quá tải lên tới 60 g ở tốc độ quay 60°/giây thông qua điều khiển vectơ lực đẩy và khả năng khóa mục tiêu sau khi phóng (LOAL).[5][26]

IRIS-T thuộc thế hệ thứ năm của các tên lửa tự dẫn hồng ngoại, sử dụng đầu tự dẫn ảnh hồng ngoại (IIR).[27] Khác với các tên lửa thế hệ thứ năm khác như AIM-9X và ASRAAM sử dụng mảng cảm biến kiểu staring array,[28] IRIS-T sử dụng đầu tự dẫn hai màu InSb[29] dựa trên mảng tuyến tính 128 × 2 phần tử kết hợp với gương quét để tạo ảnh từ một hàng phần tử cảm biến và quét nhanh trên mục tiêu. Hệ thống này tạo ra ảnh có độ phân giải 128 × 128 điểm ảnh với tốc độ 80 ảnh/giây.[28][30] Mỗi phần tử cảm biến có độ phân giải tính bằng mili radian.[24] Thiết kế này được đánh giá là có khả năng chống lại các hệ thống gây nhiễu hồng ngoại định hướng (DIRCM) tốt.[31][32] Công ty Bodenseewerk Gerätetechnik GmbH (BGT) cho rằng các mảng quét ít bị ảnh hưởng bởi DIRCM hơn các đầu tự dẫn mảng cảm biến kiểu staring array, do năng lượng gây nhiễu chỉ tác động lên chúng trong một phần nhỏ của giây thay vì liên tục.[28]

IRIS-T có khả năng đánh chặn các mục tiêu chuyển động nhanh và kích thước nhỏ như tên lửa không đối không, tên lửa đất đối không, tên lửa không đối đất, tên lửa đất đối đất, rocket, thiết bị bay không người lái (UAV), máy bay không người lái và tên lửa hành trình. Để nâng cao xác suất tiêu diệt bằng va chạm trực tiếp, tên lửa được trang bị ngòi nổ cận đích radar chủ động băng tần Ku.[28][32]

So với các tên lửa tương tự như AIM-9X, IRIS-T có khả năng độc đáo là phát hiện và bắn hạ các tên lửa không đối không và đất đối không khác, từ đó cung cấp khả năng phòng thủ toàn hướng 360°.[5][25] Các biến thể phóng từ mặt đất của IRIS-T, gồm IRIS-T SLS và IRIS-T SLM, có năng lực nâng cao trong việc tiêu diệt máy bay, trực thăng, tên lửa hành trình, tên lửa không đối đất, tên lửa chống hạm, rocket chống radar và rocket cỡ lớn. Chúng có xác suất tiêu diệt cao đối với UAV và các mục tiêu cơ động kích thước nhỏ khác ở cự ly rất ngắn và trung bình.[33]

Không quân Hoàng gia Na Uy đã thử nghiệm một khả năng không đối đất mới do Diehl BGT Defence phát triển cho IRIS-T. Một cuộc bắn thử nghiệm chứng minh tính khả thi nhằm phát hiện, theo dõi và tiêu diệt mục tiêu mô phỏng một xuồng tấn công nhanh cỡ nhỏ đã được tiến hành tại Na Uy vào tháng 9 năm 2016, trong đó tên lửa IRIS-T được phóng từ một máy bay đa năng F-16AM của Không quân Hoàng gia Na Uy.

Trong vai trò không đối đất, tên lửa vẫn giữ nguyên cấu hình phần cứng tiêu chuẩn của phiên bản không đối không IRIS-T, bao gồm đầu đạn nổ mạnh và cụm dẫn đường ảnh hồng ngoại (IIR), chỉ cần cập nhật phần mềm để bổ sung khả năng tấn công mặt đất.[34] Khả năng không đối đất cơ bản này cho phép tên lửa phát hiện, theo dõi và tấn công các mục tiêu mặt đất riêng lẻ như xuồng, tàu, công trình cỡ nhỏ và phương tiện cơ giới.[35]

Các phiên bản

Các phiên bản đang hoạt động

Tính đến tháng 6 năm 2024, ba biến thể của IRIS-T đã được đưa vào sử dụng: IRIS-T phiên bản không đối không ban đầu, có tầm bắn 25 km, IRIS-T SLS (Short Range Surface Launched – tên lửa phòng không tầm ngắn), có tầm bắn 12 km và độ cao tác chiến tối đa 8 km và IRIS-T SLM (tên lửa phòng không tầm trung) có tầm bắn 40 km và độ cao đánh chặn tối đa 20 km.[36][37][38] Phiên bản phòng không tầm xa IRIS-T SLX đang được phát triển tính đến tháng 6 năm 2024. Phiên bản này được trang bị đầu tự dẫn hai chế độ (hồng ngoại và vô tuyến), có tầm bắn 80 km và độ cao đánh chặn tối đa 30 km.tính đến tháng 6 năm 2024.[39]

Do nhu cầu gia tăng sau cuộc xâm lược Ukraina của Nga, Diehl Defence đang tăng cường sản xuất các hệ thống và tên lửa IRIS-T. Công ty dự kiến sản xuất mười hệ thống vào năm 2026 và nâng công suất lên 16 hệ thống mỗi năm vào năm 2028, đồng thời đạt sản lượng từ 800 đến 1.000 tên lửa vào cuối năm 2025. Diehl đã đầu tư 1,5 tỷ euro nhằm mở rộng năng lực sản xuất lên 2.000 tên lửa mỗi năm.[40]

IRIS-T phiên bản không đối không

Phiên bản nguyên mẫu

Họ tên lửa đất đối không IRIS-T

IRIS-T SLS và IRIS-T SLM là các phiên bản đất đối không của tên lửa IRIS-T.

Các biến thể đang phát triển

IRIS-T AAM Block 2

Tháng 6 năm 2024, Diehl Defence tiết lộ rằng công ty đang phát triển một biến thể mới của tên lửa không đối không IRIS-T, được trang bị đầu tự dẫn mới, nâng cấp hệ thống điện tử và có khả năng liên kết dữ liệu.[41]

Quốc hội Đức đã phê duyệt kinh phí cho chương trình này vào tháng 12 năm 2024.[42] Hợp đồng chính thức được ký kết vào tháng 1 năm 2025.[43] Đến tháng 2 năm 2025, Thụy Điển, Ý và Tây Ban Nha cũng tham gia chương trình hiện đại hóa tên lửa IRIS-T.[44]

IRIS-T FCAAM

Tập tin:ILA 2024, Schoenefeld (ILA44513).jpg
FCAAM (Future Combat Air-to-Air Missile – tên lửa không đối không tương lai)

Năm 2022, Diehl cho biết công ty đang phát triển thế hệ thứ sáu của tên lửa không đối không tầm ngắn, được gọi là "Future Combat Air-to-Air Missile". Tên lửa này được thiết kế để trở thành một trong những loại vũ khí của hệ thống tác chiến tương lai châu Âu (Future Combat Air System).[45] Một số đặc điểm mới dự kiến của IRIS-T FCAAM bao gồm:

  • Thân tên lửa có tiết diện không tròn với đặc tính tàng hình.
  • Cảm biến hồng ngoại đa phổ.
  • Hệ thống xử lý dữ liệu tiên tiến.
  • Liên kết dữ liệu hai chiều.
  • Động cơ rocket xung kép hoặc đa xung.[46]

IRIS-T phiên bản không đối đất

Đối với vai trò không đối đất, điểm khác biệt duy nhất so với phiên bản không đối không là việc bổ sung phần mềm mới nhằm cung cấp khả năng tấn công mục tiêu mặt đất. Phiên bản này đã được Không quân Hoàng gia Na Uy thử nghiệm.[47]

IDAS (biến thể phóng từ tàu ngầm)

IDAS (Interactive Defence and Attack System for Submarines – Hệ thống phòng thủ và tấn công tương tác dành cho tàu ngầm) là biến thể phóng từ tàu ngầm của tên lửa IRIS-T, đồng thời cũng đang được phát triển cho tàu ngầm Type 212A mới của Hải quân Đức.

IDAS được thiết kế để đối phó với các mối đe dọa trên không, các tàu mặt nước cỡ nhỏ hoặc trung bình và các mục tiêu gần bờ.[48]

Giai đoạn thử nghiệm đánh giá cuối cùng của chương trình dự kiến diễn ra trong năm 2024.[49] Tháng 10 năm 2022, Bộ Quốc phòng Đức đã sửa đổi đề xuất ngân sách và hủy bỏ kế hoạch mua sắm IDAS;[50] tuy nhiên, đến năm 2024, dự án đã được khởi động lại.[51]

Các nước trang bị

Tập tin:IRIS-T operators.svg
Các nước trang bị IRIS-T
  Hiện đang trang bị
  Sẽ trang bị

Hiện đang biên chế

  Áo
25 tên lửa[52]
  Brazil
mua tên lửa IRIS-T đi kèm với máy bay tiêm kích Saab JAS 39 Gripen E/F.[52][53][54][55]
  Đức
Đặt hàng lô đầu gồm 1.250 tên lửa.[52]
Năm 2023, một hợp đồng khung cho tối đa 1.280 tên lửa IRIS-T đã được ký nhằm bổ sung lại số lượng đã chuyển giao cho Ukraine, trong đó có một lô đặt hàng ban đầu gồm 120 tên lửa theo thỏa thuận này.[56] Đơn vị Flugabwehrraketengruppe 61 tại Todendorf đã tiếp nhận đơn vị hỏa lực IRIS-T SLM đầu tiên vào ngày 13 tháng 2 năm 2026.[57]
  Hy Lạp
trang bị 350 tên lửa IRIS-T[52]
Bản mẫu:Country data IÝ
đặt mua 444 tên lửa IRIS-T trong hợp đồng 217 triệu Euro, từ năm 2003 đến năm 2015.[58]
{{flag|Ả Rập Xê Út}
trang bị 1.400 tên lửa IRIS-T[59]
đặt mua 150 tên lửa bổ sung tháng 1 năm 2024[60]
Ả Rập Xê Út cũng đặt mua tên lửa IRIS-T trang bị cho F-15S vào năm 2026.[61]
  Nam Phi
25 tên lửa IRIS-T được bàn giao như vũ khí trang bị tạm thời cho máy bay Saab JAS 39 Gripen cho đến khi dự án SRAAM A-Darter hoàn tất.[62][63]
  Tây Ban Nha
trang bị 700 tên lửa IRIS-T.[52] Chi phí ban đầu cho hợp đồng là 247 triệu €, sau nâng lên thành 291 triệu €.[64]
  Thụy Điển
450 tên lửa IRIS-T, mã định danh Robot 98 (RB 98).[52] Sử dụng cho hệ thống IRIS-T SLS.
  Thái Lan
đặt mua 220 tên lửa IRIS-T[65] nhằm trang bị cho máy bay F-5T, Gripen C/D, và F-16 eMLU.[66]
  Ukraina
Năm 2022, Đức đã chuyển giao lô tên lửa IRIS-T đầu tiên cho Ukraine trong một gói viện trợ.[67] Tính đến năm 2025, có 6 hệ thống được xác nhận đang hoạt động, và thêm 12 hệ thống khác đang chuẩn bị được bàn giao.[68] Ukraine hiện là quốc gia duy nhất đã sử dụng hệ thống tên lửa này trong chiến đấu với báo cáo “kết quả xuất sắc”.[69]

Các nước dự kiến trang bị

  Hungary
Việc mua tên lửa IRIS-T cho chương trình hiện đại hóa MS20 Block II của máy bay Saab JAS 39 Gripen của Hungary đã được đặt hàng vào tháng 12 năm 2021.[70]
  South Korea
Việc tích hợp IRIS-T cho chương trình tiêm kích KF-X được đặt hàng vào năm 2018.[71] Vụ bắn thử đầu tiên diễn ra vào tháng 4 năm 2023.[72] Ngày 17 tháng 5 năm 2024, Diehl Defence tuyên bố rằng một máy bay tiêm kích KF-21 Boramae đã bắn thành công một tên lửa không đối không IRIS-T để tấn công máy bay không người lái mục tiêu, được chỉ thị bởi radar mảng pha quét điện tử chủ động (AESA) trên máy bay.[73]

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ a b "BGT/SAAB/Alenia IRIS-T". Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 1 năm 2009.
  2. ^ Felix Busjaeger (ngày 22 tháng 10 năm 2022). "Flugabwehrsystem Iris-T: Das kann das System aus Deutschland". kreiszeitung.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2024.
  3. ^ Simon Cleven (ngày 10 tháng 1 năm 2024). "Was die Iris-T-Lenkraketen so besonders macht". t-online.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2024.
  4. ^ "FRAMEWORK CONTRACT FOR IRIS-T GUIDED MISSILES SIGNED". Diehl.com. ngày 22 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024.
  5. ^ a b c d "Diehl Defence: IRIS-T, the short-distance missile of the latest generation". Diehl.com. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015.
  6. ^ a b "IRIS-T". Airpower.at. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2014.
  7. ^ a b c d e "IRIS-T". SAAB. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2025.
  8. ^ Andersson 2012, tr. 26.
  9. ^ "Luft-Luft-Rakete IRIS-T AIM-2000". www.bundeswehr.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2023.
  10. ^ "AIM-2000 (IRIS-T) Infrared Imaging Seeker - Tail". Hellenic Air Force (bằng tiếng Hy Lạp). Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2023.
  11. ^ "IRIS-T European Short Range Air-to-Air Missile" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 11 năm 2012.
  12. ^ Gibson, Chris; Buttler, Tony (2007). British Secret Projects: Hypersonics, Ramjets and Missiles. Midland Publishing. tr. 50. ISBN 9781857802580.
  13. ^ "Advanced Short Range Air to Air Missile (ASRAAM) - Think Defence". ngày 5 tháng 11 năm 2022.
  14. ^ Tirpak, John. "The Evolution of the Force". Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2014.
  15. ^ Menon, KB (ngày 17 tháng 7 năm 2012). "Evolution of the Air-To-Air Missiles: Options for the IAF". Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2014.
  16. ^ Robinson, Tim (tháng 7 năm 2002). "The Market for 4th Generation Dogfight Missiles". Military Technology. Quyển 26 số 7. tr. 51. ISSN 0722-3226. The revolution in WVR technology came from Russia, back when it was the Soviet Union, with a missile that was effectively a generation ahead of Western designs. The Vympel R-73 was a revelation when it first appeared in 1986 ... What also was critical with R-73 was its integration with a helmet-mounted sight, allowing impressive off-boresight shots.
  17. ^ Nordeen, Lon O. (tháng 1 năm 2004). "A Half-Century of Jet-Fighter Combat". Journal of Electronic Defense. Quyển 27 số 1. tr. 46. ISSN 0192-429X. Western military planners have had widespread access to Russian technology, which revealed the uncomfortable lead the R-73 had over the American AIM-9L. With the helmet-mounted sight, the R-73 could be cued by head movement to hit a target within 180 degrees of the centerline.
  18. ^ Arms and the State: Patterns of Military Production and Trade. Cambridge University Press. ngày 25 tháng 8 năm 1995. 253. ISBN 0521558662.
  19. ^ "Germany clears IRIS-T missile development". Flightglobal. ngày 2 tháng 12 năm 1997. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2014.
  20. ^ "IRIS-T – the world's highest-performance, short-range, air-to-air guided missile". Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2016.
  21. ^ "Germany tees-off with Iris". Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2014.
  22. ^ "IRIS-T Guided Missile Family, Germany". Diehl. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2014.
  23. ^ Mader, Georg (2016). "Air-to-Air Missile Update". Military Technology. Quyển 40 số 6. tr. 129. ISSN 0722-3226. Improvements in target discrimination not only allows for 5-8 times longer head-on firing range than the AIM-9L
  24. ^ a b "Any one for IRIS-T". Flightglobal. ngày 30 tháng 4 năm 1997. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2014.
  25. ^ a b "IRIS-T European Short Range Air-to-air Missile" (PDF). Diehl. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2018.
  26. ^ "IRIS-T Air-to-Air Guided Missile, Germany". Air force technology. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2014.
  27. ^ Maini, Anil Kumar (tháng 4 năm 2015). "Precision-Guided Munitions: Infra-Red-Guided Weapons". Electronics For You. Quyển 3 số 12. tr. 84. ISSN 0013-516X.
  28. ^ a b c d "Short-range square-off". Flightglobal. ngày 27 tháng 6 năm 2000. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2014.
  29. ^ Quaranta, Paolo (2016). "Missile Guidance Technology". Military Technology. Quyển 40 số 7/8. tr. 26. ISSN 0722-3226.
  30. ^ Friedman 1997, tr. 423.
  31. ^ "IRIS-T - European Short Range Air-to-Air Missile". Military Technology. Quyển 34 số 7. 2010. tr. 175. ISSN 0722-3226. IRIS-T provides the pilot with an unmatched full sphere launch capability under all modern countermeasure conditions, inciuding blinding laser
  32. ^ a b "Living in a safe environment: Technology for peace and freedom" (PDF). Diehl Defence. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2022.
  33. ^ "IRIS-T SL Surface-to-Air Guided Missile". Air force technology. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2014.
  34. ^ "Diehl develops air-to-surface capability for IRIS-T AAM". Jane’s. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2016.
  35. ^ "Royal Norwegian Air Force tested IRIS-T in air-to-ground mission" (Press release). Diehl. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2016.
  36. ^ "IRIS-T SLM GBAD system | Egypt's choice to boost air defence - PHOTOS & VIDEO". ngày 20 tháng 12 năm 2021.
  37. ^ "DIEHL DEFENCE and HENSOLDT are enhancing the performance of their existing ground-based air defence systems". ngày 6 tháng 4 năm 2022.
  38. ^ "The new mobile Air Defence system IRIS-T SLS Mk III unveiled at EUROSATORY 2022". ngày 16 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2024.
  39. ^ "Diehl Defence with strong trade fair presence at ILA 2024". Diehl Defence. ngày 29 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2026.
  40. ^ Pryhodko, Roman (ngày 24 tháng 1 năm 2026). "IRIS-T Manufacturer Launches New Production Facility and Plans to Produce 10 Air Defense Systems in 2026". Militarnyi. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2026.
  41. ^ Craig Hoyle (ngày 6 tháng 6 năm 2024). "Defensive role in Ukraine helps to propel IRIS-T air-defence developments". Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2024.
  42. ^ "Bundestag billigt 38 Rüstungsvorhaben für rund 21 Milliarden Euro" (bằng tiếng Đức). ngày 18 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2024.
  43. ^ "Diehl Defence secures contract for further development of IRIS-T Block II" (bằng tiếng Anh). ngày 30 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2025.
  44. ^ Redacción (ngày 4 tháng 2 năm 2025). "Germany, Spain, Italy, and Sweden order Diehl Defence to develop the Block II version of the IRIS-T missile for their Air Forces' fighters". Zona Militar (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2025.
  45. ^ Valpolini, Paolo (ngày 27 tháng 7 năm 2022). "IRIS-T FCAAM: the future SRAAM 6th generation missile by Diehl Defence". EDR Magazine (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2024.
  46. ^ Raj, Anil (2023). "Present and future air-to-air missiles". Military Technology. Quyển 47 số 1. tr. 22. ISSN 0722-3226.
  47. ^ "Diehl develops air-to-surface capability for IRIS-T AAM". Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2016.
  48. ^ "null". www.thyssenkrupp-marinesystems.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2024.
  49. ^ Valenti, Alix (ngày 11 tháng 5 năm 2023). "Update on IDAS submarine-launched missile with TKMS". Naval News (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2024.
  50. ^ Thomas Wiegold (ngày 28 tháng 11 năm 2022). "Nach Rechnungshof-Kritik: Weniger Projekte im Bundeswehr-Sondervermögen" (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2024.
  51. ^ "Marine erhält vier neue U-Boote der Klasse 212 CD" (bằng tiếng Đức). ngày 18 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2024.
  52. ^ a b c d e f "South Africa Orders IRIS-T Missiles". Defense industry daily. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2014.
  53. ^ "Conheça as armas do caça Saab Gripen E/F da FAB". Poder Aéreo (bằng tiếng Bồ Đào Nha). ngày 15 tháng 9 năm 2017.
  54. ^ "FAB adquire os modernos mísseis ar-ar IRIS-T para o Gripen". Defesa aérea & naval. ngày 21 tháng 12 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2026.
  55. ^ "Caça F-39 Gripen realiza ensaios com quatro mísseis Meteor em GPX". Poder Aéreo. ngày 21 tháng 12 năm 2021.
  56. ^ "Beschaffung von bis zu 1.280 IRIS-T geplant". Hartpunkt (bằng tiếng Đức). ngày 11 tháng 12 năm 2023.
  57. ^ "NNbS: Germany's SHORAD Rebuild Is Delivering — Except at the Bottom". Großwald | European Defence Intelligence (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 3 năm 2026. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2026.
  58. ^ "Nota Aggiuntiva allo stato di previsione per la Difesa per l'anno 2012" (PDF) (bằng tiếng Ý). Ministero delle Difesa. tháng 4 năm 2012. tr. II - 1.C/7. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2014. Programma, in cooperazione internazionale con GERMANIA, SVEZIA, GRECIA, CANADA e NORVEGIA relativo allo sviluppo e produzione e supporto in sevizio di 444 missili aria/aria a corto raggio di nuova generazione
  59. ^ "Trade Registers". Armstrade.sipri.org. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2014.
  60. ^ "Germany to resume arms deliveries to Saudi Arabia with IRIS-T missiles". Reuters. Berlin. ngày 10 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2024.
  61. ^ Defensa.com (ngày 28 tháng 5 năm 2026). "Fuerza Aérea Saudita arma con misiles IRIS-T sus cazas F-15SA - Noticias Defensa Noticias defensa.com África". Defensa.com (bằng tiếng Tây Ban Nha). Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2026.
  62. ^ "Sipri: Trade Registers". Portal.sipri.org. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015.
  63. ^ "SAAF maintaining IRIS-T". defenceWeb. ngày 23 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015.
  64. ^ "Evaluación de los Programas Especiales de Armamento (PEAs)" [Special armament programs evaluation] (PDF). Atenea (bằng tiếng Tây Ban Nha). Madrid: Ministerio de Defensa. tháng 9 năm 2011. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2012.
  65. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên diehl12
  66. ^ Hoyle, Craig. "Thai F-5s to fight on with IRIS-T missiles". FlightGlobal.
  67. ^ https://orf.at/stories/3289828
  68. ^ https://defence-network.com/ukraine-erhaelt-dreifache-anzahl-iris-t-sl/
  69. ^ https://www.n-tv.de/politik/Ukraine-Krieg-IRIS-T-soll-ballistische-Raketen-abgefangen-haben-article25930517.html
  70. ^ "A legkorszerűbb légiharc-rakétákkal bővül a Magyar Honvédség Gripenjeinek fegyverzete". webradio.hu (bằng tiếng Hungary). ngày 17 tháng 12 năm 2021.
  71. ^ "South Korea confirms Meteor, Iris-T integration on KF-X fighter jet". www.airrecognition.com. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2024.
  72. ^ Dubois, Gastón (ngày 5 tháng 4 năm 2023). "KF-21 Boramae fired an IRIS-T missile for the first time". Aviacionline.com (bằng tiếng Tây Ban Nha). Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2023.
  73. ^ "Kai KF-21 accomplished first successful firing of IRIS-T". Diehl Defence. ngày 17 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2024.

Nguồn

Đọc thêm

  • Bonds, Ray ed. The Modern US War Machine. New York City: Crown Publishers, 1989. ISBN 0-517-68802-6.