Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Infobox3cols”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.Bản mẫu:Wikidata hình ảnhLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check for unknown parameters”.

Iván Luis Zamorano Zamora (sinh 18 tháng 1 năm 1967 tại Santiago) là một tiền đạo bóng đá người Chile. Ông từng chơi cho một số câu lạc bộ ở Tây Ban Nha như SevillaReal Madrid C.F. và thành công nhất là ở câu lạc bộ Inter Milan của Ý. Ivan vô địch La liga mùa bóng 94-95 và cũng là vua phá lưới của giải ở mùa bóng này. Ông cũng từng đoạt cúp UEFA với Inter Milan. Ông là thành viên của đội tuyển Chile tham dự giải vô địch bóng đá thế giới 1998 được tổ chức ở Pháp. Năm 2004, ông được bầu chọn vào danh sách 125 cầu thủ vĩ đại còn sống của bóng đá thế giới nhân dịp kỷ niệm 100 năm thành lập FIFA.

Sự nghiệp câu lạc bộ

Zamorano sớm bộc lộ tài năng bóng đá từ thời niên thiếu. Khi mới 3 tuổi, cha ông đã giúp ông "ký hợp đồng" với đội bóng địa phương. Năm 17 tuổi, ông có cho mình hợp đồng chuyên nghiệp đầu tiên với CLB Cobresal và có giai đoạn ngắn được cho mượn tại CLB hạng 2 Chile là Cobreandino tích luỹ kinh nghiệm. Khi quay lại Cobresal, ông giúp CLB giành danh hiệu quốc nội đầu tiên.

Ông bắt đầu sự nghiệp thi đấu ở nước ngoài của mình với CLB St. Gallen thuộc Giải VĐQG Thuỵ Sĩ. Tại đây ông có cho mình 34 bàn sau 56 trận và giành danh hiệu Vua phá lưới. Phong độ cao của ông khiến nhiều đội bóng châu Âu bắt đầu chú ý. Tuy vậy, ông đã quyết định chọn một CLB tầm trung thời đó là Sevilla.

Sevilla

Ông thi đấu 2 mùa cho đội bóng xứ Andalusia, ra sân 66 trận và có cho mình 23 bàn.[1]

Real Madrid

Sau những màn trình diễn tốt tại Sevilla và được coi là một trong những chân sút hàng đầu tại La Liga, CLB Real Madrid đã quyết định chiêu mộ Zamorano. Trong 4 năm tại thành Madrid (1992-1996), ông cùng CLB giành được 1 La Liga, 1 Cúp nhà vua Tây Ban Nha và 1 Siêu cúp bóng đá Tây Ban Nha. Giai đoạn ở Real Madrid cũng là giai đoạn rực sáng bậc nhất trong sự nghiệp của tiền đạo người Chile, với 101 bàn sau 173 trận trên mọi đấu trường. Trong đó riêng mùa bóng 1994-95, Zamorano có cho mình 28 bàn trong 38 trận tại La Liga. Mùa giải này cũng chứng kiến ông ghi hat-trick vào lưới Barcelona trong trận El Clasico diễn ra vào ngày 7/1/1995 thuộc vòng 16 La Liga, khi Real Madrid có thắng lợi lớn 5-0 trước đại kình địch.[2][3]

Sang mùa giải 1995-96, Zamorano thường xuyên ngồi dự bị tại Real khi Raul Gonzalez bắt đầu nổi lên tại đây. Kết thúc mùa bóng, Real MadridInter Milan thực hiện vụ trao đổi cầu thủ bom tấn bậc nhất lịch sử khi Zamorano đến Inter với giá 1 triệu euro, trong khi Roberto Carlos đến Real Madrid.

Inter Milan

Chuyển sang nửa xanh đen thành Milan, ông phải chấp nhận san sẻ nhiệm vụ ghi bàn với một trong những tiền đạo hàng đầu khi đó là Ronaldo de Lima. Tuy vậy, trong 5 năm thi đấu tại Inter Milan (1996-2001), ông cũng đã kịp để lại dấu ấn với 41 bàn sau 149 trận.[4] Trong trận chung kết UEFA Cup 1998, Zamorano đã đóng góp 1 bàn trong chiến thắng 3-0 trước Lazio và giúp đội bóng có được danh hiệu cấp châu lục sau khi trở thành tội đồ ở trận chung kết 1 năm trước đó khi sút hỏng penalty khiến Inter mất cúp UEFA 1997 vào tay đội bóng nước Đức Schalke 04.[5]

Câu chuyện nổi tiếng nhất khi Zamorano khoác áo Inter liên quan đến số áo lạ "1+8". Ông từng kể lại như sau:

"Tôi quyết định nhường lại số áo của mình cho Ronaldo. Sandro Mazzola nói với tôi: "Nào Ivan, cậu có thể chọn một con số khác. 18, 27 chẳng hạn. Tổng của các chữ số chẳng phải bằng 9 sao?". Tôi liền nghĩ đến điều đó và hỏi Chủ tịch Massimo Moratti xem có thể đặt một dấu "+" nhỏ giữa 2 con số hay không. Sau khi được Liên đoàn bóng đá Italia cho phép, tôi giao nhiệm vụ này cho Paolo và Claudio, những nhân viên hậu cần của Inter Milan. Mùa giải bắt đầu, tôi ra sân với chiếc áo có dấu cộng giữa hai con số. Thật kỳ lạ, chiếc áo ấy được bán ra nhiều nhất tại các cửa hàng. Nike sản xuất với số lượng ngày càng nhiều hơn"[6]

Chặng cuối

Cựu tiền đạo Real Madrid chia tay Nerazzurri vào năm 2001, sau thời gian bị ám ảnh bởi chấn thương và sự sa sút do tuổi tác. Ông chuyển đến Mexico, gia nhập Club America. Sang mùa giải 2001/02, ông ghi 18 bàn thắng, giúp đội bóng của mình giành chức vô địch quốc gia.

Đầu năm 2003, Zamorano trở về quê nhà, khoác áo Colo Colo. Ông ghi 8 bàn sau 14 trận cho đến khi kết thúc mùa giải. Đến tháng 7/2003, ông tuyên bố treo giày. Đó không phải là quyết định dễ dàng. Zamorano muốn tiếp tục thi đấu, cống hiến cho quê hương và đón nhận tình cảm của người hâm mộ. Tuy nhiên, một vết đen hiếm hoi trong sự nghiệp khiến ước muốn ấy tan biến. Tiền đạo người Chile tấn công trọng tài trong trận chung kết lượt về Cúp Quốc gia Chile với Cobreloa và bị treo giò 11 trận.

Đội tuyển quốc gia

Ông đã khoác áo đội tuyển quốc gia 69 lần và ghi 34 bàn thắng. Ông lần đầu thi đấu cho đội tuyển quốc gia vào ngày 19-6-1987 khi mới 20 tuổi trong trận giao hữu với Peru và giành thắng lợi 3-1. Chiến dịch vòng loại World Cup 1998 khu vực Nam Mỹ giúp ông đi vào sách kỷ lục khi ghi 12 bàn trong 16 trận vòng loại. Ông chơi cả bốn trận của ChileVòng chung kết World Cup 1998 và góp công trong bàn thắng của Marcelo Salas. Ông cũng tham gia Olympic 2000 cùng đội tuyển và giành HCĐ, đồng thời là vua phá lưới với 6 bàn thắng. Trận đấu quốc tế cuối cùng của ông vào ngày 1-9-2001 trong trận giao hữu với Pháp và giành thắng lợi với tỉ số 2-1.

Ông cùng Chile tham dự 4 kỳ Copa America vào các năm 1987, 1991, 1993 và 1999, ghi 8 bàn trong 15 trận và là cầu thủ Chile đá nhiều trận tại Copa America thứ 2, chỉ sau thủ môn huyền thoại Sergio Livingstone.

Danh hiệu

Câu lạc bộ

Trasandino
  • Segunda División de Chile: 1985
Cobresal
  • Copa Chile: 1987
Real Madrid
Inter Milan
Club América

Quốc tế

Chile

Cá nhân

Tham khảo

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  2. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  3. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  4. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  5. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  6. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
  7. ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Navboxes colour Bản mẫu:Navboxes colour

Bản mẫu:Authority control