Kim Jae-joong
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Infobox”. Bản mẫu:Infobox Chinese/HeaderBản mẫu:Infobox Chinese/KoreanBản mẫu:Infobox Chinese/Footer
Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Chinese/HeaderBản mẫu:Infobox Chinese/KoreanBản mẫu:Infobox Chinese/Footer
Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories Bản mẫu:Infobox Korean name/categories
Kim Jae-joong (Hangul: 김재중; Hán tự: 金在中; Hán-Việt: Kim Tại Trung; sinh ngày 26 tháng 1 năm 1986), còn được biết đến với nghệ danh Jaejoong tại Hàn Quốc và Jejung hoặc J-Jun tại Nhật Bản, là một nam ca sĩ, nhạc sĩ, diễn viên người Hàn Quốc. Là cựu thành viên của JYJ và trước đó là TVXQ với nghệ danh Hero Jaejoong, anh bắt đầu hoạt động với tư cách nghệ sĩ solo từ năm 2013.
Tiểu sử
Kim Jae-joong có tên khai sinh là Han Jae-joon, sinh ra tại Gongju, Chungcheongnam-do, Hàn Quốc. Ngày sinh thật của anh được mẹ ruột của anh tiết lộ sau này là ngày 4 tháng 2. Tuy nhiên, anh đã khẳng định rằng ngày sinh thật của mình là ngày 26 tháng 1. Anh được một gia đình họ Kim nhận nuôi từ khi còn nhỏ, vì vậy mà anh đã đổi tên mình là Kim Jae-joong.[1]
Năm 16 tuổi, Jaejoong rời quê hương lên Seoul thực hiện ước mơ làm ca sĩ của mình. Cuộc sống của anh lúc đó rất khó khăn, thường xuyên bị chủ nhà đe doạ đuổi ra khỏi nhà nếu anh không thanh toán đủ tiền phòng trọ. Để có thể kiếm được 150.000 won để trả tiền thuê nhà, anh từng phải làm nhiều công việc khác nhau, trong đó có đóng vai một anh lính trong phim Taegeukgi Hwinallimyeo (태극기 휘날리며) và bán kẹo cao su ở ga tàu điện ngầm.[2]
Lúc bán kẹo, vì gương mặt của Jaejoong trông không giống như những đứa trẻ phải lao động từ sớm, khiến một số người lầm tưởng anh là kẻ trộm cắp và họ đã đối xử với anh rất tệ. Có lần vì tuyệt vọng, anh quyết định vào làm nhân viên trong một siêu thị. Một người phụ nữ làm việc tại đây vì thương cảm cho anh nên đã mua hết số kẹo và khuyên anh không nên đi bán kẹo nữa và đã đưa cho anh 150.000 won. Sau này, Jaejoong chia sẻ rằng: "Kể từ ngày hôm đó, tôi đã hạ quyết tâm cố gắng nhiều hơn nữa để có thể biến giấc mơ của tôi thành hiện thực".
Anh tham gia thử giọng tại SM Entertainment vào năm 2001 và trở thành thực tập sinh vào cùng năm.
Sự nghiệp
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “main”. Ngày 26 tháng 12 năm 2003, với nghệ danh Hero Jaejoong, anh ra mắt cùng TVXQ trong một buổi diễn của BoA và Britney Spears.[3]
Jaejoong thể hiện ca khúc "Insa" (인사 Greeting), cho nhạc nền phim A Millionaire's First Love (2006).[4] Anh cũng hợp ca với CSJH The Grace cho ca khúc "Just for One Day", xuất hiện trong đĩa đơn tiếng Nhật thứ năm và album ra mắt của họ, Graceful 4.[5][6]
Jaejoong thể hiện ca khúc "Maze" trong đĩa đơn thứ năm và cuối cùng của dự án Trick, "Keyword/Maze".[7] Anh cũng viết nhạc và lời bài "Wasurenaide" (忘れないで lit. Đừng quên) trong đĩa đơn thứ 25 của TVXQ, "Bolero/Kiss the Baby Sky/Wasurenaide".[8][9] Sau đó bài hát được phát hành trong album tiếng Nhật thứ tư của TVXQ, The Secret Code, cùng với một bài hát khác do anh viết, "9095".[10] Cho album tiếng Hàn thứ tư của TVXQ, Mirotic, Kim Jae-joong viết nhạc và lời ca khúc "Don't Cry My Lover" (사랑아 울지마).[11]
Tháng 9 năm 2009, anh cùng Micky Yoochun sáng tác và thể hiện ca khúc "Colors (Melody and Harmony)". Đây là bài hát chủ đề của lễ kỉ niệm 35 năm chú mèo Hello Kitty và nằm trong đĩa đơn "Colors (Melody and Harmony) / Shelter" được phát hành ngày 23 tháng 9 năm 2009. Đĩa đơn còn bao gồm ca khúc "Shelter", một sáng tác chung của Kim Jae-joong, Yoochun và Junsu.[12]
Năm 2011, JYJ phát hành EP Their Rooms "Our Story" với các sáng tác của anh, bao gồm "Pierrot", "Nine", và "I.D.S.".
Danh sách phim
Phim truyền hình
| Năm | Tên phim | Vai diễn | Kênh |
|---|---|---|---|
| 2005 | Banjun Drama | SBS | |
| 2006 | Vacation | Bản thân / Chang Shik | |
| 2010 | Hard To Say I Love You | Park Seon-su/Doctor | Fuji TV |
| 2011 | Protect the Boss | Cha Mu-won | SBS |
| 2012 | Dr. Jin | Kim Kyung-tak | MBC |
| 2014 | Triangle | Jang Dong-chul/Heo Young-dal | |
| 2015 | SPY | Kim Seon-woo | KBS2 |
| 2017 | Manhole: Feel so good | Bong Pil | |
| 2024 | Bad Memory Eraser | Lee Goon | MBN |
Phim điện ảnh
| Năm | Tên phim | Vai diễn | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| 2004 | Taegeukgi | Vai phụ | |
| 2009 | Heaven's Postman | Shin Jae-joon | |
| 2012 | Jackal is coming | Choi Hyun | |
| 2021 | Jaejoong: On the Road | Phim tài liệu[13] |
Lồng tiếng
| Năm | Tên phim | Vai trò | Nhà đài |
|---|---|---|---|
| 2013 | The Zoo Is Alive 2 | Người dẫn truyện[14] | MBC |
Danh sách đĩa nhạc
Album phòng thu
| Tên | Chi tiết | Thứ hạng cao nhất | Tiêu thụ | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| KOR | JPN | US World | ||||||||
| Tiếng Hàn | ||||||||||
| WWW |
|
1 | 4 | — | ||||||
| No.X |
|
1 | 8 | 3 | ||||||
| Born Gene |
|
5 | 13 | — | ||||||
| Flower Garden |
|
7 | 13 | — | ||||||
| Tiếng Nhật | ||||||||||
| Flawless Love |
|
— | 1 | — | ||||||
| Love Covers |
|
— | 1 | — |
| |||||
| Love Covers II |
|
— | 1 | — | ||||||
| Fallinbow |
|
— | 2 | — |
| |||||
| Love Covers III |
|
— | 4 | — |
| |||||
| "—" cho biết album không lọt vào bảng xếp hạng hoặc không được phát hành ở khu vực này. | ||||||||||
Đĩa mở rộng
| Tên | Chi tiết | Thứ hạng cao nhất | Tiêu thụ | ||
|---|---|---|---|---|---|
| KOR | JPN | US World | |||
| Tiếng Hàn | |||||
| I |
|
1 | 8 | 2 | |
| Love Song |
|
1 | 9 | — | |
| Beauty in Chaos |
|
13 | 23 | — | |
| Tiếng Nhật | |||||
| Rhapsody |
|
— | 1 | — |
Nhật: 17,237 vật lý[34] |
Giải thưởng và đề cử
| Giải thưởng | Năm | Hạng mục | Đề cử | Kết quả | TK |
|---|---|---|---|---|---|
| Asia Artist Awards | 2023 | Top of K-pop Record Award | Kim Jae-joong | Đoạt giải | [35] |
| Best Choice Award | Đoạt giải | ||||
| Asian Film Awards | 2019 | Next Generation Star Award | Đoạt giải | [36] | |
| BIFF — Asia Contents Awards | 2019 | Excellence Award | Đoạt giải | [37] | |
| Golden Disc Awards | 2017 | Asia Popularity Award | Đoạt giải | [38] | |
| Japan Gold Disc Award | 2020 | Best 3 Albums (Asia) | Love Covers | Đoạt giải | [39] |
| Japan Record Awards | 2019 | Planning Award | Đoạt giải | [40] | |
| KBS Entertainment Awards | 2025 | Excellence Award (Reality) | Stars' Top Recipe at Fun-Staurant | Đoạt giải | [41] |
| Korea Drama Awards | 2012 | Excellence Award, Actor | Dr. Jin | Đề cử | |
| 2014 | Top Excellence Award, Actor | Triangle | Đoạt giải | [42] | |
| MBC Drama Awards | 2012 | Best New Actor | Dr. Jin | Đoạt giải | [43] |
| 2014 | Best Actor in a Special Project Drama | Triangle | Đề cử | ||
| Nikkan Sports Drama Grand Prix | 2010 | Best Supporting Actor for Spring Season | Sunao ni Narenakute | Đoạt giải | [44] |
| Philippine K-pop Awards | 2010 | Hottest Male Idol | Kim Jae-joong | Đoạt giải | [45] |
| 2011 | Hottest Male Artist | Đoạt giải | [46] | ||
| 2012 | Đoạt giải | [47] | |||
| SBS Drama Awards | 2011 | New Star Award | Protect the Boss | Đoạt giải | [48] |
| Seoul International Drama Awards | 2013 | Best Hallyu Drama OST Award | "Living Like A Dream" | Đoạt giải | [49] |
| Shorty Awards | 2011 | Best Celebrity on Twitter | Kim Jae-joong | Đoạt giải | [50] |
| V Chart Awards | 2017 | Best Male Artist | Đoạt giải | [51] |
Đời tư
Thân thế
Vào ngày 21 tháng 11 năm 2006, một người đàn ông mang họ Han đã nộp đơn khởi kiện những người giám hộ hợp pháp của Jaejoong. Ông cho rằng mình là cha ruột của anh, do đó yêu cầu pháp luật trao cho mình quyền làm cha,[52] đồng thời cho biết lý do khởi kiện người giám hộ hợp pháp của Jaejoong là vì họ "không thực hiện đúng trình tự, thủ tục pháp lý theo quy định trước khi đăng ký quyền giám hộ".[53] Phiên điều trần đầu tiên dự kiến diễn ra tại Gongju vào ngày 29 tháng 11 năm 2006, nhưng đến ngày 22 tháng 11, ông Han đã rút đơn khởi kiện.[54]
Để làm rõ mọi chuyện, Jaejoong đã đăng tải một bài viết chia sẻ rằng anh đã được người mẹ hiện tại cho biết về sự tồn tại của cha mẹ ruột cách đây khoảng hai, ba năm, và thông tin này đã khiến anh rất sốc. Với sự giúp đỡ của mẹ nuôi, mẹ ruột của Jaejoong vẫn có thể giữ liên lạc và thỉnh thoảng gặp mặt anh, còn cha ruột thì không rõ tung tích. Jaejoong cũng bày tỏ mong muốn chỉ sử dụng cái tên "Kim Jae-joong" do cha nuôi đặt cho, thay vì tên khai sinh "Han Jae-joon".[55]
Bị thương
Tháng 9 năm 2005, trong khi điều chỉnh vũ đạo cho "Rising Sun", Kim Jae-joong bị vỡ sụn đầu gối và được đưa tới một bệnh viện ở Seoul.[56] Anh được phẫu thuật trong ngày hôm đó để điều trị vết thương.[57]
Bị treo bằng lái xe
Ngày 7 tháng 4 năm 2006, lúc 01:20 sáng, Kim Jae-joong bị cảnh sát giữ lại trên chiếc BMW của một người quen khi đang về nhà từ Khách sạn Renaissance. Qua kiểm tra, nồng độ cồn trong hơi thở của anh được tiết lộ là 0.071%. Sau khi bị giữ tại đồn cảnh sát 20 phút, anh được thả. Do vi phạm luật giao thông, say rượu trong khi điều khiển ô tô, Kim Jae-joong bị đình chỉ tạm thời mọi hoạt động với TVXQ và bị treo bằng lái xe 100 ngày.[58]
Vụ kiện SM Entertainment
Cuối tháng 7 năm 2009, Kim Jae-joong cùng hai thành viên của TVXQ: Micky Yoochun, và Xiah Junsu— cùng ký vào đơn kiện gửi lên toà án Seoul để phá vỡ hiệu lực của bản hợp đồng giữa họ với SM Entertainment.[59] Qua luật sư, các thành viên chỉ ra rằng, hợp đồng 13 năm thực sự quá dài và tiền thù lao nhóm được hưởng quá ít so với công sức họ bỏ ra.[60] Nếu thua kiện, theo hợp đồng, đơn phương phá bỏ hợp đồng trước thời hạn, nhóm sẽ phải đền bù gấp 3 lần số lợi nhuận dự kiến thu được từ nhóm cho phần còn lại của hợp đồng, ước tính khoảng hơn 100 tỉ won (100 triệu đô la).[61] Vụ kiện khiến cổ phiếu của SM Entertainment giảm xuống 30% trên sàn KOSPI.[62]
Toà án Trung tâm quận Seoul đưa ra phán quyết cuối cùng nghiêng về phía Kim Jae-joong, Junsu và Yoochun. Toà cũng chỉ ra rằng bản hợp đồng thiếu công bằng và các thành viên không được hưởng lợi nhuận xứng đáng với công sức bỏ ra.[63][64] Trong quá trình vụ việc còn diễn biến phức tạp, 3 thành viên đã được chấp nhận tạm hoãn hợp đồng với SM và tách ra hoạt động riêng lẻ.
Nghĩa vụ quân sự
Jaejoong chính thức nhập ngũ vào ngày 31 tháng 3 năm 2015 và đã xuất ngũ vào ngày 31 tháng 12 năm 2016.[65]
Trò đùa ngày cá tháng 4 gây tranh cãi
Vào ngày 1 tháng 4 năm 2020, trong thời gian Đại dịch COVID-19, Jaejoong chia sẻ trên Instagram rằng mình đã dương tính với COVID-19.[66] Một giờ sau, anh đăng bài xin lỗi, thừa nhận rằng thông tin được đăng tải trước đó là sai sự thật,[67] sau đó giải thích rằng mục đích của bài đăng ban đầu là nhằm nâng cao nhận thức về mức độ nguy hiểm của virus.[68]
Theo lời ông Yoon Tae-ho – người đứng đầu Trụ sở an toàn và phòng chống thiên tai: "Trường hợp cung cấp sai thông tin cho chính phủ hoặc cơ quan dịch tễ sẽ bị xử phạt theo luật về phòng chống và quản lý bệnh truyền nhiễm. Tuy nhiên, trường hợp này không vi phạm cả hai điều trên". Do đó, sẽ là rất khó để luận tội lời nói (bị cho là) trêu đùa này của anh bởi chúng mang đầy đủ những khuyến cáo, thông tin đúng về Corona.[69][70]
Chú thích
Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Bản mẫu:In lang Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Bản mẫu:In lang Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Bản mẫu:In lang Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Bản mẫu:In lang Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Bản mẫu:In lang Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Bản mẫu:In lang Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Bản mẫu:In lang Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Bản mẫu:In lang Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ a ă Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ No.X sales:
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Tổng doanh số của Flower Garden:
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Bản mẫu:In lang Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Bản mẫu:In lang Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Bản mẫu:In lang Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Unsubst”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Yahoo.co.kr Bản mẫu:Webarchive. Truy cập 26 tháng 8 năm 2009
- ^ Thomson Reuters. Korea Hot Stocks - Hankook Tire, S.M. Ent, Ssangyong Motor. Forbes.com. 3 tháng 8 năm 2009. Truy cập 3 tháng 8 năm 2009.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Unsubst”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
- ^ Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Citation/CS1”.
Liên kết ngoài
- Bản mẫu:Trim Bản mẫu:PAGENAMEBASE trên Twitter/XBản mẫu:EditAtWikidataBản mẫu:WikidataCheck
- Bản mẫu:Instagram
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Navbox”. Bản mẫu:Giải thưởng phim truyền hình Hàn Quốc nam diễn viên xuất sắc nhất