Lâm Đồng
Bản mẫu:Thông tin đơn vị hành chính Việt Nam
Lâm Đồng là một tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, Việt Nam và là tỉnh có diện tích lớn nhất Việt Nam.
Tên gọi
Ở Tây Bắc thành phố Đà Lạt cũ có một ngọn núi cao tên Lang Biang, đỉnh cao nhất 2.163m. Về sau, tên núi trở thành tên cao nguyên. Thời phong kiến, người ta đã Hán Việt hóa tên cao nguyên này thành Lâm Viên.
Ngày 1-11-1899, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định tách khu vực thượng lưu sông Đồng Nai ra khỏi tỉnh Bình Thuận để thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng (Province du Haut Donnai). Tỉnh lỵ đặt tại Di Linh. Ngày 11-9-1903, Toàn quyền Đông Dương lại ra nghị định xóa bỏ tỉnh Đồng Nai Thượng, địa bàn lại thuộc tỉnh Bình Thuận.
Ngày 6-1-1916, Toàn quyền Đông Dương ra quyết định thành lập tỉnh Lâm Viên, tỉnh lị đặt tại Đà Lạt. Ngày 31-10-1920, lại có nghị định xóa bỏ tỉnh Lâm Viên; địa bàn chia làm hai: một phần thành lập thành phố Đà Lạt; một phần tái lập tỉnh Đồng Nai Thượng, tỉnh lỵ đặt tại Di Linh (Djiring).
Ngày 8-1-1941, Toàn quyền Đông Dương lại ra nghị định tái lập tỉnh Lâm Viên.
Ngày 19 tháng 5 năm 1958, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đổi tên tỉnh Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng, đồng thời tách một phần đất sáp nhập với thành phố Đà Lạt, thành lập tỉnh Tuyên Đức. Tỉnh Lâm Đồng gồm hai quận Di Linh và Bảo Lộc. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam nhập tỉnh Lâm Viên với tỉnh Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng. Như vậy tỉnh Lâm Đồng do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đặt bao gồm 2 tỉnh Lâm Đồng và Tuyên Đức do chính quyền Việt Nam Cộng hòa đặt.
Tháng 2 năm 1976, 2 tỉnh Lâm Đồng và Tuyên Đức hợp nhất thành tỉnh Lâm Đồng.
Tên tỉnh Lâm Đồng có nguồn gốc từ sự kết hợp của 2 tỉnh là: tỉnh Lâm Viên (còn được gọi là Langbiang hay Lâm Biên) và tỉnh Đồng Nai Thượng.
Địa lý
Vị trí địa lý
Tỉnh Lâm Đồng thuộc vùng Nam Trung Bộ, có tọa độ địa lý từ 11˚12'- 12˚15 vĩ độ bắc và 107˚45 kinh độ đông, có vị trí địa lý.[1]
- Phía đông giáp tỉnh Khánh Hòa
- Phía tây giáp Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đồng Nai
- Phía nam giáp Biển Đông
- Phía bắc giáp tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Mondulkiri (Campuchia).
Tỉnh lỵ là phường Xuân Hương – Đà Lạt nằm cách Thành phố Hồ Chí Minh 300 km về hướng Đông Bắc, cách thành phố Đà Nẵng 658 km về phía nam, cách thủ đô Hà Nội 1.414 km tính theo đường Quốc lộ 1A. Tỉnh tiếp giáp với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Phía bắc là dãy núi Yang Bông có đỉnh cao 1749 mét. Dãy núi phía nam có đỉnh Đan Sê Na cao 1950 mét, đỉnh Langbiang cao 2163 mét, Hòn Giao cao 1948 mét, và đỉnh Lomburr cao khoảng 1800 mét. Phía nam hai dãy núi là cao nguyên Lang Biang, trên đó có thành phố Đà Lạt cũ ở độ cao 1475 mét. Phía nam tỉnh có cao nguyên Di Linh cao 1010 mét, phía tây nam có cao nguyên Bảo Lộc cao từ 900 – 1100m địa hình khá bằng phẳng và đông dân cư, là nơi đầu nguồn của sông La Ngà, phía tây bắc có cao nguyên Mơ Nông cao trung bình khoảng 800m.[2]
Những liên kết với Nam Bộ
Tuy thuộc vùng Tây Nguyên nhưng Lâm Đồng vẫn có những liên kết nhất định với vùng Nam Bộ ở một vài lĩnh vực:
- Về mặt quân sự, Lâm Đồng được xếp vào Quân khu 7 (quân khu Đông Nam Bộ mở rộng).[3]
- Về mặt công thương, Công ty Điện lực Lâm Đồng trực thuộc Tổng công ty Điện lực Miền Nam.
Địa hình
Tỉnh Lâm Đồng nằm ở phía Nam Tây Nguyên, trên 3 cao nguyên (cao nguyên Lâm Viên, cao nguyên Di Linh, cao nguyên M'Nông) và là khu vực đầu nguồn của hệ thống sông suối lớn, địa hình đa số là núi và cao nguyên với độ cao trung bình từ 800 đến 1.000 mét so với mực nước biển, đồng thời cũng có những thung lũng nhỏ bằng phẳng. Đặc điểm nổi bật của địa hình tỉnh Lâm Đồng là sự phân bậc khá rõ ràng từ bắc xuống nam. Lâm Đồng sở hữu đường bờ biển dài khoảng 192 km kéo dài từ mũi Đá Chẹt giáp Cà Ná thuộc Khánh Hòa đến bãi bồi Bình Châu thuộc địa phận TP. Hồ Chí Minh. Đặc điểm chung của Lâm Đồng là địa hình cao nguyên tương đối phức tạp ở phía Bắc và phía Nam, ven biển chủ yếu là đồi núi thấp, đồng bằng ven biển nhỏ hẹp, địa hình hẹp ngang kéo theo hướng đông bắc - tây nam, phân hóa thành các dạng địa hình đặc trưng của Nam Trung Bộ gồm đất cát và cồn cát ven biển, đồng bằng phù sa,...[4]
Khí hậu
Do chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa biến thiên theo độ cao, chính vì vậy khí hậu Lâm Đồng được chia làm 2 mùa riêng biệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 kéo dài đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ cũng thay đổi rõ rệt giữa các khu vực, càng lên cao nhiệt độ càng giảm. Nhiệt độ trung bình năm của tỉnh dao động từ 18 – 250C, thời tiết ôn hòa và mát mẻ quanh năm, thường ít có những biến động lớn trong chu kỳ năm. Lượng mưa trung bình 1.750 – 3.150 mm/năm, độ ẩm tương đối trung bình cả năm 85 – 87%. Đặc biệt Đà Lạt thuộc Lâm Đồng có khí hậu cận nhiệt đới núi cao ngay trong vùng khí hậu nhiệt đới savan điển hình và nằm không xa các trung tâm đô thị lớn và vùng đồng bằng đông dân.
Nằm trong hệ thống sông Đồng Nai, có nguồn nước rất phong phú, mạng lưới suối khá dày đặc, tiềm năng thủy điện rất lớn, với 73 hồ chứa nước, 92 đập dâng. Sông suối trên địa bàn Lâm Đồng phân bố khá đồng đều, phần lớn sông suối ở phía Bắc chảy từ hướng đông bắc xuống tây nam, hầu hết các sông suối ở đây đều có lưu vực khá nhỏ và có nhiều ghềnh thác ở thượng nguồn. Còn hệ thống sông ngòi ở phía Nam, ven biển đều ngắn, lượng nước không điều hòa, mùa mưa thì nước sông chảy mạnh, mùa nắng làm sông bị khô hạn, có sáu sông lớn là sông Lũy, sông Lòng Sông, sông Cái và Sông Cà Ty, sông La Ngà, sông Phan.
Lịch sử
| Dân số tỉnh Lâm Đồng 1967[5] | |
|---|---|
| Quận | Dân số |
| Bảo Lộc | 44.239 |
| Di Linh | 22.541 |
| Tổng số | 66.780 |
Thời kỳ Pháp thuộc
Ngày 1 tháng 11 năm 1899, chính quyền Pháp thuộc thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng (Province de Haut-Donnaï), tỉnh lỵ đặt tại Di Linh (Djiring). Ernest Outrey làm công sứ đầu tiên.[6]
Năm 1905, tỉnh Đồng Nai Thượng bị bãi bỏ, chuyển thành đại lý hành chính Di Linh.
Năm 1913, nhập đại lý Đà Lạt với đại lý Di Linh, gọi chung là đại lý Di Linh và vẫn thuộc tỉnh Bình Thuận, đặt Élie Joseph Marie Cunhac[7] làm đại biện.
Ngày 6 tháng 1 năm 1916, chính quyền Pháp thuộc thành lập tỉnh Lâm Viên, gồm đại lý Đà Lạt mới lập lại và đại lý Di Linh, tách từ tỉnh Bình Thuận. Tỉnh lỵ đặt tại Đà Lạt. Tỉnh Lâm Viên còn được gọi là Langbiang hay Lâm Viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 1920, tỉnh Lâm Viên bị xóa bỏ, một phần lập ra thành phố Đà Lạt, phần còn lại lập lại tỉnh Đồng Nai Thượng, tỉnh lỵ đặt tại Di Linh.
Năm 1928 chuyển tỉnh lỵ tỉnh Đồng Nai Thượng về Đà Lạt.
Ngày 8 tháng 1 năm 1941, lập lại tỉnh Lâm Viên, tỉnh lỵ đặt tại Đà Lạt. Tỉnh lỵ tỉnh Đồng Nai Thượng chuyển về Di Linh.
Thời kỳ Việt Nam Cộng hòa
Ngày 19 tháng 5 năm 1958, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đổi tên tỉnh Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng, đồng thời tách một phần đất sáp nhập với thành phố Đà Lạt, thành lập tỉnh Tuyên Đức. Tỉnh Lâm Đồng gồm 2 quận Bảo Lộc (B'Lao) và Di Linh, tỉnh lỵ đặt tại Bảo Lộc. Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam nhập tỉnh Lâm Viên với tỉnh Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng. Như vậy tỉnh Lâm Đồng do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đặt bao gồm 2 tỉnh Lâm Đồng và Tuyên Đức do Việt Nam Cộng hòa đặt.
Thời kỳ thống nhất
Tháng 2 năm 1976, 2 tỉnh Lâm Đồng và Tuyên Đức hợp nhất thành tỉnh Lâm Đồng mới, gồm thành phố Đà Lạt và 4 huyện: Bảo Lộc, Di Linh, Đơn Dương, Đức Trọng.
Ngày 14 tháng 3 năm 1979, chia huyện Bảo Lộc thành 2 huyện: Bảo Lộc và Đạ Huoai; chia huyện Đơn Dương thành 2 huyện: Đơn Dương và Lạc Dương.[8]
Ngày 6 tháng 6 năm 1986, chia huyện Đạ Huoai thành 3 huyện: Đạ Huoai, Đạ Tẻh và Cát Tiên.[9]
Ngày 28 tháng 10 năm 1987, chia huyện Đức Trọng thành 2 huyện: Đức Trọng và Lâm Hà.
Ngày 11 tháng 7 năm 1994, chia huyện Bảo Lộc thành thị xã Bảo Lộc và huyện Bảo Lâm.[10]
Ngày 24 tháng 7 năm 1999, thành phố Đà Lạt được Thủ tướng Chính phủ công nhận là đô thị loại II.[11]
Ngày 17 tháng 11 năm 2004, thành lập huyện Đam Rông trên cơ sở tách 3 xã thuộc huyện Lạc Dương và 5 xã thuộc huyện Lâm Hà.[12]
Ngày 23 tháng 3 năm 2009, thành phố Đà Lạt được công nhận là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Lâm Đồng.[13]
Ngày 8 tháng 4 năm 2010, chuyển thị xã Bảo Lộc thành thành phố Bảo Lộc.[14]
Ngày 24 tháng 10 năm 2024, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1245/NQ-UBTVQH15[15] về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã của tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2023 – 2025 (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1 tháng 12 năm 2024). Theo đó, sáp nhập huyện Cát Tiên và huyện Đạ Tẻh vào huyện Đạ Huoai.
Từ đó, tỉnh Lâm Đồng có 2 thành phố: Đà Lạt (tỉnh lỵ), Bảo Lộc và 8 huyện: Bảo Lâm, Đạ Huoai, Đam Rông, Di Linh, Đơn Dương, Đức Trọng, Lạc Dương, Lâm Hà.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 202/2025/QH15[16] về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 12 tháng 6 năm 2025). Theo đó, sáp nhập toàn bộ tỉnh Bình Thuận và tỉnh Đắk Nông vào tỉnh Lâm Đồng.
Sau khi sáp nhập, tỉnh Lâm Đồng có 24.233,07 km² diện tích tự nhiên và quy mô dân số là 3.872.999 người. Là tỉnh có diện tích lớn nhất Việt Nam sau sáp nhập.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, theo nghị quyết sửa đổi Hiến pháp năm 2013, toàn bộ các đơn vị hành chính cấp huyện tại tỉnh Lâm Đồng được giải thể. Cùng ngày, theo nghị quyết sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã, tỉnh Lâm Đồng có 124 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 20 phường, 103 xã và 1 đặc khu.[17][18]
Vào ngày 16 tháng 7 năm 2026, Chính phủ ban hành Quyết định số 118/NQ-CP, chính thức chuyển giao Vườn quốc gia Cát Tiên về UBND Thành Phố Đồng Nai trực tiếp quản lý, bao gồm cả phần diện tích thuộc địa giới hành chính tỉnh Lâm Đồng nhằm thống nhất đầu mối quản lý và bảo tồn. [1]
Hành chính
Tỉnh Lâm Đồng có 124 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 20 phường, 103 xã và 1 đặc khu.[19]
| Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Lâm Đồng[20] | ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
|
|
|
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Kinh tế
Lâm Đồng có diện tích trồng trà lớn nhất Việt Nam. Tuy nhiên một phần lớn doanh thu của tỉnh là nhờ vào phát triển du lịch và xuất khẩu cà phê. Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, tỉnh Lâm Đồng xếp ở vị trí thứ 61/63 tỉnh thành,[21] đến năm 2015 xếp hạng 20/63 tỉnh thành Việt Nam.[22]
Giai đoạn 9 tháng đầu năm 2012, GDP theo giá so sánh năm 1994 đạt 7.247 tỷ đồng tăng 15,6% so với cùng kỳ 2011. Trong đó Nông lâm thủy sản 1.752 tỷ đồng, công nghiệp - xây dựng đạt 2.760,8 tỷ đồng, dịch vụ 2.733,7 tỷ đồng. Cũng trong giai đoạn này, GDP theo giá hiện hành đạt 19.366 tỷ đồng tăng 24% so với cùng kỳ 2011. Trong đó Nông lâm thủy sản 6.104 tỷ đồng, công nghiệp - xây dựng đạt 4.515 tỷ đồng, dịch vụ 8.747 tỷ đồng. Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 197.7 tỷ đồng tăng 9,6 %, tổng mức đầu tư xã hội đạt 8.550 tỷ đồng, Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 2.886,5 tỷ đồng, thu hút du lịch đạt 2,98 triệu lượt đồng thời giải quyết cho 22.663 lao động.[23]
Theo dữ liệu Sáp nhập tỉnh, thành Việt Nam 2025, Lâm Đồng có diện tích: 24.233 km², là tỉnh lớn nhất Việt Nam; dân số: 3.872.999 người, xếp thứ 12; GRDP 2024: 319.878.839 triệu VNĐ, xếp thứ 8; thu ngân sách 2024: 27.190.308 triệu VNĐ, xếp thứ 14; thu nhập bình quân: 59,36 triệu VNĐ/năm, xếp thứ 14.[24]
Y tế
Theo thống kê về y tế năm 2022, trên địa bàn toàn tỉnh Lâm Đồng có 189 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế. Trong đó có 14 Bệnh viện, 22 phòng khám đa khoa khu vực và 142 Trạm y tế phường xã, 1 bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng, với 3015 giường bệnh và 582 bác sĩ, 596 y sĩ, 859 y tá và khoảng 483 nữ hộ sinh.[25]
Giáo dục
Tính đến thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2011, trên địa bàn toàn tỉnh Lâm Đồng có 459 trường học ở cấp phổ thông trong đó có 37 trường Trung học phổ thông, Trung học cơ sở có 133 trường, Tiểu học có 251 trường, trung học có 22 trường, có 16 trường phổ thông cơ sở, bên cạnh đó còn có 200 trường mẫu giáo.[26] Với hệ thống trường học như thế, nền giáo dục trong địa bàn Tỉnh Lâm Đồng cũng tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu nạn mù chữ trong địa bàn tỉnh.[26]
Tỉnh có 4 trường đại học là Trường Đại học Đà Lạt, Trường Đại học Yersin Đà Lạt, Trường Đại học Phan Thiết, Trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh cơ sở Đà Lạt, Trường Đại học Tôn Đức Thắng cơ sở Bảo Lộc và 2 học viện là Học viện Lục quân, Phân viện Học viện Hành chính Quốc Gia (Việt Nam) khu vực Tây Nguyên. [cần dẫn nguồn]
Dân số
Tính đến thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2022, tỉnh Lâm Đồng có diện tích tự nhiên là 9.781,20 km², dân số là 1.543.239 người[27], mật độ dân số 157 người/km².
Theo kết quả điều tra dân số giữa kỳ năm 2024, dân số tỉnh Lâm Đồng tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2024 là 1.361.129 người.Lỗi chú thích: Tham số "ref" không hợp lệ trong thẻ <ref>. Các tham số được hỗ trợ là: dir, follow, group, name. dân số trung bình là 1.362.470 người,[28] trong đó dân số nam là 685.910 người chiếm 50,34%),[28] dân số nữ là 676.570 người chiếm 49,66%),[28] dân số thành thị là 540.440 người chiếm 39,67%),[28] dân số nông thôn là 822.030 người chiếm 60,33%),[28] với mật độ dân số đạt 139 người/km².[28]
Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2024, tỉnh Lâm Đồng có diện tích 24.233,07 km², quy mô dân số là 3.872.999 người, trong đó dân số thành thị ước tính đạt khoảng 1.027.205 người chiếm (Bản mẫu:Percentage), dân số nông thôn ước tính đạt khoảng 2.845.794 người chiếm (Bản mẫu:Percentage), mật độ dân số là 159 người/km².[16][29][30]
Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, trên địa bàn toàn tỉnh có 43 dân tộc cùng 18 người nước ngoài sinh sống. Trong đó dân tộc Kinh là đông nhất với 901.316 người, xếp ở vị trí thứ hai là người Kaho với 145.665 người, người Mạ đứng ở vị trí thứ 3 với 31.869 người, thứ 4 là người Nùng với 24.526 người, người Tày có 20.301 người, Chu Ru có 18.631 người, người Hoa có 14.929 người, Mnông có 9.099 người, người Thái có 5.277 người, người Mường có 4.445 người cùng các dân tộc ít người khác như Mông với 2.894 người, Dao với 2.423 người, Khơ Me với 1.098 người... ít nhất là Lô Lô, Cơ Lao và Cống mỗi dân tộc chỉ có duy nhất 1 người.[31]
Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, tỉnh Lâm Đồng, có 13 Tôn giáo khác nhau chiếm 1.409.702 người. Trong đó, nhiều nhất là Công giáo có 746.782 người, Phật giáo có 351.176 người, Tin Lành có 207.192 người, Cao Đài có 48.964 người, Hồi giáo có 29.643 người, Bà La Môn có 25.186 người. Các tôn giáo khác như Phật giáo Hòa Hảo có 517 người, 76 người theo Minh Lý Đạo, 75 người theo đạo Bahá'í, 49 người theo Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, 29 người theo Minh Sư Đạo, 7 người Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam, và 6 người theo Bửu Sơn Kỳ Hương.[31]
| Dân tộc | Thành phần dân tộc tỉnh Bình Thuận, Lâm Đồng và Đắk Nông năm 2019.[32] | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Bình Thuận | Lâm Đồng | Đắk Nông | Tổng cộng | |||||
| Dân số | % | Dân số | % | Dân số | % | Dân số | % | |
| Toàn tỉnh | 1.230.808 | 100% | 1.296.906 | 100% | 622.168 | 100% | 3.149.882 | 100% |
| Kinh | 1.133.802 | 92,12% | 963.290 | 74,28% | 419.808 | 67,48% | 2.516.900 | 79,88% |
| Cơ Ho | 13.531 | 1,10% | 175.531 | 13,53% | 124 | / | 189.186 | 6,0% |
| M'Nông | 27 | / | 10.517 | 0,81% | 50.718 | 8,15% | 61.262 | 1,94% |
| Nùng | 2.529 | 0,21% | 24.423 | 1,88% | 31.063 | 4,99% | 58.015 | 1,84% |
| Tày | 5.978 | 0,49% | 20.248 | 1,56% | 24.751 | 3,98% | 50.977 | 1,62% |
| Mạ | 33 | / | 38.523 | 2,97% | 8.087 | 1,30% | 46.643 | 1,48% |
| Chăm | 39.557 | 3,21% | 953 | / | 109 | / | 40.619 | 1,29% |
| H'Mông | 2 | / | 5.248 | 0,40% | 34.976 | 5,62% | 40.226 | 1,28% |
| Hoa | 9.917 | 0,81% | 13.788 | 1,06% | 5.779 | 0,93% | 29.484 | 0,94% |
| Dao | 47 | / | 3.316 | 0,26% | 19.786 | 3,18% | 23.149 | 0,73% |
| Chu Ru | 8 | / | 22.473 | 1,73% | 11 | / | 22.492 | 0,71% |
| Raglay | 17.382 | 1,41% | 1.910 | 0,15% | 39 | / | 19.331 | 0,61% |
| Thái | 230 | / | 5.680 | 0,44% | 11.250 | 1,81% | 17.160 | 0,54% |
| Mường | 788 | / | 6.072 | 0,47% | 5.446 | 0,88% | 12.306 | 0,39% |
| Ê Đê | 42 | / | 285 | / | 6.726 | 1,08% | 7.053 | 0,22% |
| Chơ Ro | 3.777 | 0,31% | 169 | / | 83 | / | 4.029 | 0,13% |
Giao thông
Mặc dù địa hình chủ yếu là đèo, núi, tuy nhiên hệ thống giao thông đường bộ vẫn phân bố đều khắp các vùng trong tỉnh. Các tuyến đường Quốc lộ qua Lâm Đồng như Quốc lộ 1A, Quốc lộ 20, Quốc lộ 28, Quốc lộ 55, Quốc lộ 27, Quốc lộ 14,...
Các con sông lớn chảy qua địa bàn tỉnh như sông Đa Dâng, sông Đồng Nai, sông La Ngà, sông Đa Nhim, nhưng vì tốc độ chảy khá cao, ngắn và dốc nên không thuận lợi cho giao thông đường thủy. Mặt khác đối với đường hàng không thì tỉnh có sân bay Liên Khương, với các hãng Vietnam Airlines, Air Mekong và Vietjet Air, Bamboo Airways, AirAsia,... có các chuyến bay thẳng nối Đà Nẵng, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh và một số sân bay quốc tế trong khu vực tới Sân bay quốc tế Liên Khương, nằm ở ngoại ô thành phố Đà Lạt cũ.
Tỉnh Lâm Đồng nằm trên hai trục giao thông chính của Việt Nam là Quốc lộ 1A và Quốc lộ 14, vì thế có điều kiện thuận lợi để di chuyển đến địa phương khác và đẩy mạnh ngành Giao thông vận tải.
Nhiều công ty vận tải và vận chuyển hành khách đã khai thác các tuyến giao thông đường bộ ở Lâm Đồng lâu năm như nhà xe Phương Trang, nhà xe Thành Bưởi, nhà xe Lạc Hồng.
Đường bộ
Có ba tuyến đường bộ có lưu lượng giao thông lớn trên địa bàn tỉnh là Quốc Lộ 20 kết nối Lâm Đồng với Đồng Nai và đi tuyến TP. Hồ Chí Minh. Quốc lộ 14 kết nối TP. Hồ Chí Minh với TP. Đà Nẵng. Quốc Lộ 27 kết nối Lâm Đồng với Khánh Hòa mà lưu lượng chính chủ yếu là tuyến Đà Lạt - Nha Trang. Đường cao tốc Liên Khương – Prenn kết nối sân bay Liên Khương đến Đà Lạt.
Nhiều tuyến đường cao tốc huyết mạch như Đường cao tốc CT.28 đoạn Tân Phú - Bảo Lộc và Bảo Lộc - Liên Khương, Đường cao tốc CT.25 (Nha Trang - Đà Lạt),... đang trong giai đoạn xây dựng nhằm tăng tính kết nối giữa các vùng, đẩy mạnh giao thương, phát triển kinh tế.
Nhiều công ty vận tải và vận chuyển hành khách đã khai thác các tuyến giao thông đường bộ ở Lâm Đồng lâu năm như nhà xe Phương Trang, nhà xe Thành Bưởi, nhà xe Phong Phú, nhà xe Lạc Hồng.
Xe buýt
Xe buýt đóng vai trò quan trọng trong việc di chuyển tham quan du lịch tại Lâm Đồng. Theo đó, có một số tuyến xe buýt chính bao gồm:
- Tuyến Đà Lạt - Đơn Dương
- Tuyến Đà Lạt - Lạc Dương
- Tuyến Đà Lạt - Bảo Lộc
- Tuyến Đà Lạt - Xuân Trường
- Tuyến Đà Lạt - Tân Thanh
- Tuyến Đà Lạt - Đại Lào
- Tuyến Đà Lạt - Phú Sơn
- Tuyến Đà Lạt - Thái Phiên
- Tuyến Đà Lạt - Đức Trọng
Ngoài các tuyến trên còn một số tuyến xe buýt khác được khai thác nhằm tạo thuận lợi cho di chuyển giữa các địa điểm và cả phục vụ cho tham quan du lịch các địa điểm nổi tiếng của Lâm Đồng.
Biển số xe
Biển số xe của các huyện, thành phố trực thuộc tỉnh Lâm Đồng trước ngày 1 tháng 7 năm 2025 như sau:
- Biển số xe ô tô: 49A, 49B, 49C, 49D, 49LD
- Biển số xe Thành phố Đà Lạt: 49-B1, 49-M8
- Biển số xe Huyện Đơn Dương: 49-F1
- Biển số xe Huyện Lạc Dương: 49-P1
- Biển số xe Huyện Đức Trọng: 49-E1
- Biển số xe Huyện Lâm Hà: 49-D1
- Biển số xe Huyện Đam Rông: 49-C1
- Biển số xe Huyện Di Linh: 49-G1
- Biển số xe Huyện Đạ Huoai: 49-L1
- Biển số xe Huyện Đạ Tẻh: 49-M1
- Biển số xe Huyện Cát Tiên: 49-N1
- Biển số xe Thành phố Bảo Lộc: 49-K1; 49-S1
- Biển số xe Huyện Bảo Lâm: 49-H1
Đường không
Trước đây, sân bay Liên Khương chỉ khai thác tuyến Đà Lạt - Hà Nội với tần suất bay 02 chuyến/tuần. Những năm trở lại đây, giao thông bằng đường hàng không dần trở nên phổ biến hơn khi các hãng hàng không mở rộng khai thác thêm các tuyến bay kết nối Sân Bay Liên Khương với các địa điểm khác.
Du lịch
Lâm Đồng có nhiều thắng cảnh nổi tiếng như các thác nước tại huyện Đức Trọng và những thắng cảnh thiên nhiên tại thành phố mộng mơ Đà Lạt như Hồ Than Thở, Hồ Xuân Hương,... Ngoài ra còn có nhiều thác nước hùng vĩ khác như Thác Datanla, Thác Đrây Nur, Thác Pongour, Thác Preen, Thác Cam Ly,... Sở hữu bờ biển dài nên có nhiều bãi biển đẹp như Mũi Né, Cổ Thạch, Đồi Dương...
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, do không được quan tâm bảo trì đúng mức, cảnh quan nhiều thắng cảnh đang bị phá hủy. Ngày nay 10 trong số 17 thắng cảnh quốc gia xuống cấp, trong đó có ba ngọn thác ở huyện Đức Trọng đã được xếp hạng quốc gia tại Lâm Đồng đã biến mất gồm: thác Gougah, thác Liên Khương và thác Bảo Đại.[33] Lý do là vì các đơn vị được giao đầu tư thiếu năng lực và chỉ lo khai thác kinh doanh bán vé.[33] Ông Đinh Bá Quang - Trưởng phòng Quản lý di sản văn hóa (Sở VH-TT-DL) Lâm Đồng cho biết: "Theo quy định, hằng năm các đơn vị trích từ 3 - 5% lãi suất kinh doanh để tu bổ, tôn tạo và tổ chức các hoạt động văn hóa tại di tích. Thế nhưng thực tế qua kiểm tra thì các điểm này không thực hiện được như vậy".[34]
Danh nhân
- Nguyễn Phúc Phương Mai phong hiệu Thái Công tước Phu nhân xứ Addis Ababa và Thái Hầu tước Phu nhân xứ Sabotino, là con gái đầu lòng của vua Bảo Đại và hoàng hậu Nam Phương thuộc hoàng tộc Nhà Nguyễn.
- Nguyễn Phúc Bảo Thăng là đích tử của vua Bảo Đại.
- Nguyễn Phúc Phương Minh con gái vua Bảo Đại.
- Nguyễn Phúc Bảo Ân con trai của vua Bảo Đại.
Chú thích
- ^ Lâm Đồng là một tỉnh miền núi thuộc Nam Tây Nguyên Lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2013 tại Wayback Machine, Cổng Thông tin Điện tử tỉnh Lâm Đồng
- ^ Non nước Việt Nam, Vũ Thế Bình chủ biên, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội 2005
- ^ "Tư lệnh Quân khu 7 kiểm tra tại Lâm Đồng".
- ^ [https://web.archive.org/web/20200205122113/http://www.lamdong.gov.vn/vi-vn/home/about/pages/dieu_kien_tu_nhien.aspx Lưu trữ ngày 5 tháng 2 năm 2020 tại Wayback Machine, Cổng thông tin điện tử Lâm Đồng
- ^ Việt Nam Cộng hòa bản đồ hành chính. Đà Lạt: Phân cục Địa dư Quốc gia, 1967.
- ^ "Tỉnh Đồng Nai Thượng, đơn vị hành chính đầu tiên của vùng đất Lâm Đồng". www.baotanglamdong.com.vn. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2025.
- ^ Trong Tuần san Indochine, Cunhac là một thành viên trong đoàn thám hiểm tìm ra cao nguyên Lâm Viên cuối thế kỉ XIX, với vai trò là viên đội chuyên đo vẽ địa hình. Năm 1903, khi tỉnh Đồng Nai Thượng bị giải thể. Đầu tháng 3 năm 1916, tỉnh Lang-bian được thành lập. Năm 1920, Đà Lạt trở thành hạt tự trị.
- ^ "Quyết định 116-CP năm 1979 về việc chia một số huyện thuộc tỉnh Lâm Đồng". Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2013.
- ^ Quyết định 68-HĐBT năm 1986 điều chỉnh địa giới hành chính huyện Đạ Hu oai thuộc tỉnh Lâm Đồng
- ^ "Nghị định 65-CP năm 1994 về việc chia huyện Bảo Lộc thành thị xã Bảo Lộc và huyện Bảo Lâm". Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2013.
- ^ "Quyết định 158/1999/QĐ-TTg về việc công nhận thành phố Đà Lạt là đô thị loại II do Thủ tướng Chính phủ ban hành". Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2015.
- ^ Nghị định 189/2004/NĐ-CP về việc thành lập huyện Đam Rông
- ^ "Quyết định: Về việc công nhận Thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Lâm Đồng". Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2018.
- ^ Nghị quyết 19/NQ-CP năm 2010 thành lập thành phố Bảo Lộc
- ^ "Nghị quyết số 1245/NQ-UBTVQH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã của tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2023 – 2025". Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam. ngày 24 tháng 10 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2024.
- ^ a ă "Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh". Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam. ngày 12 tháng 6 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2025.
- ^ Nghị quyết số 203/2025/QH15 ban hành ngày 16/06/2025 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- ^ Nghị quyết 1671/NQ-UBTVQH15 năm 2025 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Lâm Đồng.
- ^ "Toàn văn Nghị quyết số 1671/NQ-UBTVQH15 sắp xếp các ĐVHC cấp xã của tỉnh Lâm Đồng năm 2025". Báo Điện tử Chính Phủ. ngày 20 tháng 6 năm 2025.
- ^ Căn cứ theo đề án số 399/ĐA-CP ngày 09 tháng 5 năm 2025 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Lâm Đồng năm 2025
- ^ "PCI 2011: Lào Cai và Bắc Ninh 'vượt vũ môn' ngoạn mục". Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2012.
- ^ "Bảng xếp hạng PCI năm 2012". Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2013.
- ^ Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng trong 9 tháng đầu năm 2012 Lưu trữ ngày 11 tháng 3 năm 2016 tại Wayback Machine, Website Lâm Đồng
- ^ "Danh sách dự kiến tên gọi của 34 tỉnh, thành phố và trung tâm chính trị - hành chính". vtv.vn. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2025.
- ^ Y tế, Văn hoá, Thể thao và Mức sống dân cư , Tổng cục thống kê
- ^ a ă Thống kê về Giáo dục Việt Nam, Niên giám thống kê 2011, Theo tổng cục thống kê Việt Nam
- ^ UBND tỉnh Lâm Đồng (ngày 21 tháng 2 năm 2024). "Phương án số 1292/PA-UBND về việc tổng thể sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã giai đoạn 2023 – 2030 của tỉnh Lâm Đồng (sau khi rà soát)". Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2024.
- ^ a ă â b c d Diện tích, dân số và mật độ dân số phân theo địa phương, Trang Thông tin điện tử Cục Thống kê - Bộ Tài chính
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tênTT - ^ https://dantri.com.vn/noi-vu/du-kien-chi-tiet-dien-tich-dan-so-quy-mo-kinh-te-cua-34-tinh-thanh-moi-20250609213449364.htm
- ^ a ă Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, Tổng cục Thống kê Việt Nam.
- ^ "Kết quả toàn bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019" (PDF). Tổng cục Thống kê.
- ^ a ă Ba danh thắng thiên nhiên quốc gia biến mất[liên kết hỏng]
- ^ Thê thảm danh thắng ở Lâm Đồng