Bước tới nội dung

Người Mạ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Xin xem các cách dùng khác tại Mạ (định hướng).

Bản mẫu:Ethnic group

Người Mạ (tiếng Mạ: Cau Maa') là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam, cư trú chủ yếu tại Tây Nguyên.[1]

Người Mạ nói tiếng Mạ thuộc tiểu nhóm Bahnar của ngữ hệ Nam Á.

Dân số và địa bàn cư trú

Theo điều tra dân số năm 1999, người Mạ có khoảng 33.338 người,[2] cư trú chủ yếu ở các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đồng Nai (Việt Nam).

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Mạ ở Việt Nam có dân số 41.405 người, cư trú tại 34 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Mạ cư trú tập trung tại các tỉnh: Lâm Đồng (31.869 người, chiếm 77,0% tổng số người Mạ tại Việt Nam), Đắk Nông (6.456 người), Đồng Nai (2.436 người), Bình Phước (432 người), Thành phố Hồ Chí Minh (72 người).[3]

Tổ chức cộng đồng

Bộ tộc Mạ đã xác lập được chế độ phụ hệ vững chắc trong hôn nhân gia đình. Đây là điều khác nhau giữa người Mạ với người Kơho, Chil, Lạt và Mnông. Lãnh thổ người Mạ đã từng ổn định trong lịch sử, khiến cho một số tài liệu xưa gọi nó là tiểu vương quốc Mạ hoặc xứ Mạ.[4]

Tham khảo

  1. ^ Các dân tộc Việt Nam Lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2018 tại Wayback Machine. Trang thông tin điện tử Ban Dân tộc tỉnh Hậu Giang, 2012. Truy cập 01/04/2017.
  2. ^ Điều tra dân số 1999, tập tin 44.DS99.xls
  3. ^ Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội, 6-2010. Biểu 5, tr.134-225. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011.
  4. ^ Mạc Đường. Quá trình phát triển dân tộc và những biến đổi xã hội ở Lâm Đồng trong lịch sử. Lưu trữ ngày 20 tháng 5 năm 2010 tại Wayback Machine Trích trong Vấn đề dân cư và dân tộc ở Lâm Đồng. Sở Văn hóa Lâm Đồng, 1983.

Liên kết ngoài