Phalanx CIWS (đọc: "SEE-wiz") là một hệ thống vũ khí tầm gần (CIWS) tự động sử dụng pháo để bảo vệ tàu chiến trước các mối đe dọa đang tiếp cận như máy bay, tên lửa và xuồng nhỏ. Hệ thống này được thiết kế và chế tạo bởi tập đoàn General Dynamics, bộ phận Pomona,[3] về sau trực thuộc Raytheon. Bao gồm một pháo Vulcan cỡ 20 mm (0,8 inch) được điều khiển bằng radar, lắp trên một bệ xoay, Phalanx đã được Hải quân Hoa Kỳ và lực lượng hải quân của 15 quốc gia khác sử dụng. Hải quân Hoa Kỳ triển khai hệ thống này trên mọi lớp tàu chiến mặt nước, ngoại trừ tàu khu trục lớp Zumwalt và tàu vận tải đổ bộ lớp San Antonio.[5] Các quốc gia sử dụng khác bao gồm Hải quân Hoàng gia Anh, Hải quân Hoàng gia Úc, Hải quân Hoàng gia New Zealand, Hải quân Hoàng gia CanadaTuần duyên Hoa Kỳ.

Phalanx CIWS
Hệ thống Phalanx CIWS trên tàu USS Elrod (FFG-55) vào năm 2019.
LoạiHệ thống vũ khí phòng thủ tầm gần
Nơi chế tạoHoa Kỳ
Lược sử hoạt động
Phục vụNăm 1980 đến nay
Sử dụng bởiXem Quốc gia sử dụng
Trận
Lược sử chế tạo
Người thiết kếGeneral Dynamics
Năm thiết kếNăm 1969
Nhà sản xuấtGeneral Dynamics
Giá thành
  • 5 bộ Block 1B, giá 8,56 triệu bảng Anh mỗi bộ, cho Vương quốc Anh
  • 9 bộ Block 1B, giá 13,66 triệu USD mỗi bộ, cho Hàn Quốc
  • 13 bộ Mk 15 Block 1B Baseline 2 cho Đài Loan, tổng chi phí 416 triệu USD, kèm 260.000 viên đạn xuyên giáp Mk 244 Mod 0. Trong đó, 8 bộ dùng để nâng cấp từ Block 0 hiện tại lên MK15 Phalanx Block 1B Baseline 2.[1]
Giai đoạn sản xuấtNăm 1978[2]
Các biến thể3
Thông số (early models)
Khối lượng
  • 12.500 lb (5.700 kg)[2]
Độ dài nòngPháo dài 59,8 in (1,52 m) (L/76) (Block 0 & 1):[2]
Chiều cao15,5 ft (4,7 m)

Đạn pháoĐạn xuyên giáp bằng tungsten 20 × 102 mm có đầu tự hủy (CIWS) hoặc đạn cháy có ngòi phát sáng nổ mạnh (tracer) (C-RAM)
Cỡ đạn20 mm (0,79 in)
Cỡ nòng6 nòng (xoắn phải dạng parabol tiến triển, 9 rãnh xoắn)
Góc nâng
  • Block 0: −10°/+80°
  • Block 1: −20°/+80°
  • Block 1B: −25°/+85°
Xoay ngang150° về hai phía của đường tâm
Tốc độ bắn4.500 phát/phút (75 viên/giây)
Sơ tốc đầu nòng3.600 ft/giây (1.100 m/giây)[2]
Tầm bắn hiệu quả1.625 yd (1.486 m) tầm bắn hiệu quả tối đa[2]
Tầm bắn xa nhất6.000 yd (5.500 m)[2]

Một biến thể trên bộ, LPWS (Land Phalanx Weapon System), là một phần của hệ thống C-RAM (chống rocket, pháo và súng cối), đã được phát triển.[6] Nó được triển khai để đối phó với các cuộc tấn công bằng rocket, pháo và súng cối trong quá trình Hoa Kỳ rút quân khỏi Afghanistan năm 2021.[7][8] Hải quân Hoa Kỳ cũng triển khai hệ thống SeaRAM, kết hợp tên lửa RIM-116 Rolling Airframe với các cảm biến dựa trên Phalanx.

Lịch sử

Hệ thống vũ khí tầm gần Phalanx (CIWS) được phát triển như tuyến phòng thủ vũ khí tự động cuối cùng (phòng thủ giai đoạn cuối hoặc phòng thủ điểm) chống lại mọi mối đe dọa đang tiếp cận, bao gồm tên lửa chống hạm (AShM hoặc ASM), máy bay — kể cả các mục tiêu bay bám biển có khả năng cơ động và chịu quá tải lớn — và các xuồng nhỏ.

Nguyên mẫu đầu tiên được đề nghị cho Hải quân Hoa Kỳ đánh giá trên tàu khu trục chỉ huy USS King vào năm 1973, và kết luận cho thấy cần tiếp tục hoàn thiện để cải thiện hiệu suất và độ tin cậy. Sau đó, mẫu Phalanx Operational Suitability Model đã hoàn thành thành công chương trình Thử nghiệm và Đánh giá Tác chiến (OT&E) trên tàu khu trục USS Bigelow vào năm 1977.[2] Mẫu này vượt các tiêu chuẩn về bảo đảm kỹ thuật, độ tin cậy và khả năng sẵn sàng chiến đấu. Một đợt đánh giá tiếp theo cũng thành công, và hệ thống vũ khí đã được phê duyệt đưa vào sản xuất năm 1978. Việc sản xuất Phalanx bắt đầu với các đơn đặt hàng cho 23 hệ thống của Hải quân Hoa Kỳ và 14 hệ thống cho quân đội nước ngoài. Con tàu đầu tiên được trang bị đầy đủ là tàu sân bay USS Coral Sea vào năm 1980. Hải quân bắt đầu triển khai các hệ thống CIWS trên các tàu không chiến đấu từ năm 1984.

Thiết kế

 
Nguyên mẫu Phalanx trên boong đuôi tàu USS King vào năm 1973.
 
USNS Saturn trong một cuộc diễn tập đánh chìm, bị trúng đạn bắn từ hệ thống Phalanx CIWS Mk-15 trên tàu USS Mitscher
 
Một kỹ thuật viên kiểm tra bộ phát radar và các cụm vi sóng của hệ thống Phalanx CIWS; cũng có thể thấy (góc trên bên trái) là radar tìm kiếm, với radar bám mục tiêu bố trí phía dưới nó.

Nền tảng của hệ thống là pháo xoay M61 Vulcan cỡ 20 mm, được quân đội Hoa Kỳ sử dụng trên nhiều loại máy bay chiến thuật từ năm 1959, kết hợp với hệ thống radar điều khiển hỏa lực băng tần Ku để phát hiện và bám bắt mục tiêu. Hệ thống này được tích hợp với một bệ chuyên dụng, có khả năng nâng hạ và quay ngang với tốc độ cao để theo dõi các mục tiêu đang tiếp cận. Là một tổ hợp hoàn toàn độc lập, bệ lắp này chứa pháo, hệ thống điều khiển hỏa lực tự động và tất cả các thành phần chính khác, cho phép nó tự động tìm kiếm, phát hiện, bám bắt, khai hỏa và xác nhận tiêu diệt mục tiêu bằng hệ thống radar điều khiển bằng máy tính. Nhờ tính độc lập này, Phalanx đặc biệt phù hợp với các tàu hỗ trợ — vốn không có hệ thống chỉ thị mục tiêu tích hợp và thường có cảm biến hạn chế. Toàn bộ hệ thống có khối lượng từ 12.400 đến 13.500 lb (5.600 đến 6.100 kg).

Do có chụp radar hình trụ đặc trưng và khả năng vận hành tự động, các tổ hợp Phalanx CIWS đôi khi được đặt biệt danh là "R2-D2", theo nhân vật robot trong loạt phim Star Wars.[9][10]

Cải tiến

Hệ thống Phalanx đã được phát triển qua nhiều cấu hình. Phiên bản cơ bản (ban đầu) là Block 0, được trang bị điện tử trạng thái rắn thế hệ đầu và có khả năng hạn chế đối với mục tiêu mặt nước. Gói nâng cấp Block 1 (1988) cải thiện radar, đạn dược, năng lực tính toán, tốc độ bắn và tăng góc nâng tối đa khi tác xạ lên +70 độ. Những cải tiến này nhằm nâng cao khả năng của hệ thống trước các tên lửa chống hạm siêu âm mới của Nga. Block 1A giới thiệu hệ thống máy tính mới để đối phó với các mục tiêu cơ động hơn. Block 1B PSuM (Phalanx Surface Mode, 1999) bổ sung cảm biến hồng ngoại nhìn phía trước (FLIR) nhằm tăng hiệu quả đối phó mục tiêu mặt nước.[11] Sự bổ sung này được phát triển để bảo vệ tàu trước các mối đe dọa từ xuồng nhỏ và các mục tiêu nổi khác trong vùng nước ven bờ, đồng thời cải thiện hiệu suất đối với máy bay bay thấp tốc độ chậm. Khả năng của FLIR cũng hữu ích trong việc đối phó với tên lửa có độ bộc lộ thấp và có thể liên kết với hệ thống tên lửa RIM-116 Rolling Airframe Missile (RAM) để tăng tầm bắn và độ chính xác. Block 1B cũng cho phép người vận hành nhận dạng và chỉ thị mục tiêu bằng mắt.[11]

Kể từ cuối năm tài khóa 2015, Hải quân Hoa Kỳ đã nâng cấp toàn bộ các hệ thống Phalanx lên biến thể Block 1B. Ngoài cảm biến FLIR, Block 1B còn tích hợp bộ bám bắt mục tiêu video tự động, nòng pháo tối ưu hóa (OGB) và đạn tăng cường sát thương (ELC) nhằm nâng cao khả năng đối phó với các mối đe dọa phi đối xứng như xuồng cơ động nhỏ, máy bay cánh cố định và cánh quay bay chậm, cũng như máy bay không người lái. Cảm biến FLIR cải thiện hiệu quả chống tên lửa hành trình chống hạm, trong khi OGB và ELC giúp độ phân tán đạn chặt hơn và tăng tầm "trúng phát đầu"; đạn Mk 244 ELC được thiết kế đặc biệt để xuyên phá tên lửa chống hạm với đầu xuyên tungsten nặng hơn 48% và mũi bằng nhôm. Một nâng cấp khác là radar Phalanx 1B Baseline 2 nhằm cải thiện khả năng phát hiện, tăng độ tin cậy và giảm yêu cầu bảo dưỡng. Nó cũng có chế độ mặt nước để bám bắt, phát hiện và tiêu diệt các mục tiêu gần mặt nước hơn, nâng cao khả năng phòng thủ trước xuồng tấn công nhanh và tên lửa bay thấp. Tính đến năm 2019, nâng cấp radar Baseline 2 đã được lắp đặt trên tất cả các tàu của Hải quân Hoa Kỳ trang bị Phalanx.[12] Block 1B cũng được sử dụng bởi các hải quân khác như Canada, Bồ Đào Nha, Nhật Bản, Ai Cập, Bahrain và Anh.[13]

 
Bảo dưỡng và thử nghiệm bắn đạn thật Phalanx CIWS của Hải quân Mỹ.

Vào tháng 4 năm 2017, Raytheon đã thử nghiệm một pháo điện mới cho Phalanx, cho phép hệ thống bắn với tốc độ biến thiên để tiết kiệm đạn. Thiết kế mới thay thế động cơ khí nén, máy nén và các bình chứa, giảm khối lượng hệ thống khoảng 180 lb (82 kg), đồng thời tăng độ tin cậy và giảm chi phí vận hành.[14]

Vận hành

CIWS được thiết kế như tuyến phòng thủ cuối cùng chống lại tên lửa chống hạm. Do tiêu chí thiết kế của nó, tầm bắn hiệu quả khá ngắn so với tầm bắn của các tên lửa chống hạm hiện đại, vào khoảng từ 1 đến 5 hải lý (2 đến 9 km). Cụm pháo chuyển động với tốc độ rất cao và độ chính xác lớn. Hệ thống yêu cầu rất ít dữ liệu đầu vào từ tàu, cho phép nó vẫn có thể hoạt động ngay cả khi con tàu bị hư hại.

Các đầu vào cần thiết duy nhất để vận hành là nguồn điện xoay chiều ba pha 440 V ở tần số 60 Hz và nước (dùng để làm mát thiết bị điện tử). Để vận hành đầy đủ, bao gồm một số chức năng không thiết yếu, hệ thống còn nhận dữ liệu hướng la bàn thực của tàu và nguồn điện xoay chiều 115 V cho phân hệ WinPASS. WinPASS (Windows-based Parameter Analysis and Storage Subsystem) là một máy tính phụ được tích hợp trong trạm điều khiển tại chỗ, cho phép kỹ thuật viên thực hiện nhiều phép kiểm tra khác nhau đối với phần cứng và phần mềm của hệ thống nhằm phục vụ bảo trì và khắc phục sự cố. Nó cũng lưu trữ dữ liệu từ các lần hệ thống khai hỏa, để có thể phân tích về sau.[cần dẫn nguồn]

Các thành phần radar

Phalanx CIWS có hai ăng-ten phối hợp với nhau để tiêu diệt mục tiêu. Ăng-ten thứ nhất, dùng để tìm kiếm, nằm bên trong chụp radar của cụm điều khiển vũ khí (ở phần trên của khối sơn trắng). Ăng-ten tìm kiếm cung cấp các thông tin về phương vị, cự ly, tốc độ, hướng bay và độ cao của các mục tiêu tiềm năng cho máy tính CIWS. Những thông tin này được phân tích để xác định liệu đối tượng phát hiện có đủ nguy hiểm để kích hoạt hệ thống CIWS khai hỏa hay không. Khi máy tính xác định được mục tiêu hợp lệ (xem chi tiết bên dưới), bệ pháo sẽ quay hướng về phía mục tiêu rồi chuyển việc bám bắt sang ăng-ten theo dõi ở khoảng cách khoảng 4,5 hải lý (8 km). Ăng-ten theo dõi có độ chính xác rất cao, nhưng phạm vi quan sát nhỏ hơn nhiều. Phân hệ bám mục tiêu theo dõi mục tiêu cho đến khi máy tính xác định rằng xác suất bắn trúng đã được tối đa hóa, và sau đó, tùy theo chế độ vận hành, hệ thống tự động khai hỏa ở khoảng cách khoảng 1 hải lý (2 km) hoặc đề xuất khai hỏa cho người vận hành. Trong khi bắn với tốc độ 75 viên mỗi giây, hệ thống theo dõi các viên đạn đã bắn ra và "hướng" chúng hội tụ vào mục tiêu.[15]

 
Các thủy thủ Hải quân Mỹ nạp đạn tungsten (vỏ sabot màu trắng ở bên phải) và tháo dỡ đạn giả (bên trái).

Pháo và hệ thống nạp đạn

Các bệ CIWS Block 0 (dẫn động thủy lực) có tốc độ bắn 3.000 viên/phút và mang theo 989 viên trong trống đạn.[3] Các bệ CIWS Block 1 (thủy lực) cũng bắn với tốc độ 3.000 viên/phút nhưng sử dụng trống đạn mở rộng chứa 1.550 viên. Các bệ CIWS Block 1A và các phiên bản mới hơn (dẫn động khí nén) có tốc độ bắn 4.500 viên/phút với trống đạn 1.550 viên. Vận tốc đầu đạn khoảng 3.600 foot/giây (1.100 m/s). Đạn sử dụng là loại xuyên giáp với lõi xuyên bằng tungsten hoặc uranium nghèo, kèm vỏ sabot nhựa tách rời. Đạn 20 mm của Phalanx CIWS được thiết kế để phá hủy khung thân của tên lửa và làm mất tính khí động học của nó, qua đó giảm thiểu mảnh văng từ đầu đạn nổ, giúp hạn chế gây thiệt hại không mong muốn. Hệ thống xử lý đạn có hai băng tải. Băng thứ nhất đưa đạn từ trống lên pháo; băng thứ hai đưa vỏ đạn rỗng hoặc đạn chưa bắn về đầu đối diện của trống đạn.

Đạn 20 mm APDS gồm một lõi xuyên 15 mm (0,59 inch) được bọc trong một vỏ sabo nhựa và một bộ đẩy bằng kim loại nhẹ.[16] Mỗi viên đạn do Phalanx bắn ra có giá khoảng 30 USD, và khẩu pháo thường cần bắn loạt 100 viên hoặc nhiều hơn khi tiêu diệt một mục tiêu.

Nhận dạng mục tiêu

CIWS không có khả năng nhận dạng địch – ta (IFF). Hệ thống chỉ dựa vào dữ liệu thu thập theo thời gian thực từ radar để quyết định liệu mục tiêu có phải là mối đe dọa và có khai hỏa hay không. Một mục tiêu phải đáp ứng nhiều tiêu chí để CIWS coi đó là mục tiêu cần tiêu diệt. Các tiêu chí này bao gồm:

 
Một thủy thủ ngồi tại bảng điều khiển cục bộ (LCP) của CIWS trong một cuộc diễn tập báo động chiến đấu toàn tàu.
  1. Cự ly của mục tiêu đang tăng hay giảm so với con tàu? Radar tìm kiếm của CIWS phát hiện các vật thể lạ đang và tự động ngừng kích hoạt khi chúng bay theo hướng ra xa khỏi tàu. CIWS chỉ khai hỏa vào mục tiêu khi nó đang tiếp cận con tàu.
  2. Vật thể lạ bay tới có khả năng cơ động để đánh trúng con tàu hay không? Nếu một tiếp xúc không bay thẳng về phía con tàu, CIWS sẽ xét hướng bay của nó so với con tàu và vận tốc của nó. Sau đó hệ thống xác định liệu tiếp xúc đó vẫn có thể thực hiện cơ động để đánh trúng tàu hay không.
  3. Vật thể lạ bay tới có đang di chuyển trong khoảng vận tốc tối thiểu và tối đa hay không? CIWS có khả năng tiêu diệt mục tiêu trong một dải tốc độ rộng, nhưng không phải là vô hạn. Hệ thống có giới hạn vận tốc tối đa của mục tiêu; nếu mục tiêu vượt quá vận tốc này, CIWS sẽ không khai hỏa. Đồng thời, hệ thống cũng có giới hạn vận tốc tối thiểu và sẽ không khai hỏa đối với các tiếp xúc có tốc độ thấp hơn ngưỡng này. Người vận hành có thể điều chỉnh các giới hạn tối thiểu và tối đa trong phạm vi cho phép của hệ thống.

Có nhiều phân hệ khác phối hợp với nhau để bảo đảm hoạt động của hệ thống, như điều khiển môi trường, bộ phát, điều khiển chuyển động bệ pháo, điều khiển và phân phối điện năng, v.v. Cần từ sáu đến tám tháng để đào tạo một kỹ thuật viên có thể bảo trì, vận hành và sửa chữa hệ thống Phalanx CIWS.

Sự cố

Tai nạn trong các cuộc diễn tập với mục tiêu bay không người lái

Vào ngày 10 tháng 2 năm 1983, USS Antrim tiến hành một cuộc diễn tập bắn đạn thật ngoài khơi Bờ Đông Hoa Kỳ, sử dụng Phalanx để tiêu diệt một mục tiêu bay không người lái. Mặc dù mục tiêu đã bị tiêu diệt thành công ở cự ly gần, các mảnh vỡ của mục tiêu sau khi bị phá hủy đã dội lên từ mặt biển và va vào con tàu, gây thiệt hại nghiêm trọng và cháy do nhiên liệu còn sót lại của mục tiêu, đồng thời khiến một giảng viên dân sự trên tàu thiệt mạng.

Vào ngày 13 tháng 10 năm 1989, USS El Paso tiến hành một cuộc diễn tập bắn đạn thật ngoài khơi Bờ Đông Hoa Kỳ, sử dụng Phalanx để tiêu diệt mục tiêu bay không người lái. Mục tiêu đã bị tiêu diệt thành công, nhưng khi rơi xuống biển, CIWS tiếp tục coi nó là mối đe dọa đối với El Paso và khai hỏa lần nữa. Đạn từ Phalanx đã bắn trúng đài chỉ huy của USS Iwo Jima, khiến một sĩ quan thiệt mạng và một hạ sĩ quan bị thương.[17]

Chiến tranh Iran-Iraq

 
Tàu Stark bị nghiêng sau vụ bắn nhầm.

Vào ngày 17 tháng 5 năm 1987, trong Chiến tranh Iran–Iraq, khi Hoa Kỳ đang tham gia giám sát với tư cách không tham chiến, một máy bay tiêm kích Dassault Mirage F1 của Iraq[18] đã phóng hai tên lửa chống hạm Exocet vào khinh hạm USS Stark của Hải quân Hoa Kỳ, gây thiệt hại nghiêm trọng, khiến 37 thủy thủ thiệt mạng và 21 người bị thương.

Hệ thống Phalanx CIWS vẫn ở chế độ chờ và hệ thống mồi bẫy Mark 36 SRBOC chưa được kích hoạt, do không dự đoán có cuộc tấn công. Cả hai tên lửa đều đánh trúng mạn trái của con tàu, gần khu vực đài chỉ huy. 37 quân nhân Hải quân Hoa Kỳ thiệt mạng và 21 người bị thương. Iraq đã xin lỗi và bồi thường cho vụ tấn công ngoài ý muốn này.[19]

Tấn công bằng tên lửa Iraq trong Chiến tranh Vùng Vịnh 1991

Ngày 25 tháng 2 năm 1991, trong Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất, tàu frigate USS Jarrett được trang bị Phalanx đang hoạt động cách vài dặm so với thiết giáp hạm USS Missouri và tàu khu trục HMS Gloucester của Hải quân Hoàng gia Anh. Một trận địa tên lửa của Iraq đã phóng hai tên lửa chống hạm Silkworm (thường được gọi là Seersucker); Missouri đã đáp trả bằng cách phóng mồi bẫy gây nhiễu SRBOC. Hệ thống Phalanx trên Jarrett, hoạt động ở chế độ tự động bắt mục tiêu, đã khóa vào đám mồi bẫy của Missouri và khai hỏa một loạt đạn, trong đó có bốn viên đã trúng Missouri, khi đó cách Jarrett khoảng 2 đến 3 hải lý (xấp xỉ 3,5 đến 5,5 km). Không có thương vong trên Missouri, và các tên lửa Iraq đã bị đánh chặn bởi tên lửa Sea Dart bắn từ tàu HMS Gloucester.[20]

Sự cố nổ súng ngoài ý muốn tại Trân Châu Cảng

Ngày 5 tháng 5 năm 1994, khẩu Phalanx bên mạn trái trên tàu USS Lake Erie đã vô tình khai hỏa hai viên đạn uranium nghèo khi con tàu đang neo tại Trân Châu Cảng, Hawaii. Vào thời điểm đó, các thủy thủ đang tiến hành kiểm tra mạch khai hỏa như một phần của công tác bảo dưỡng định kỳ đối với hệ thống CIWS.

Một cuộc điều tra của Cơ quan Thẩm phán Quân pháp (Judge Advocate General) kết luận rằng các quy trình kiểm tra trước và sau khi khai hỏa theo yêu cầu đối với CIWS đã không được thực hiện đầy đủ, khiến các viên đạn vẫn còn trong cơ cấu nạp đạn mà không bị phát hiện. Hải quân cho rằng các viên đạn đã rơi xuống một khu vực đồi núi hoang vu gần Aiea, bang Hawaii. Không có báo cáo nào về thương vong hay thiệt hại tài sản do sự cố này gây ra.[21][22][23]

 
Phalanx CIWS trên tàu của Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản

Sự cố hệ thống Phalanx trên tàu của Hải quân Nhật bắn nhầm vào máy bay Mỹ

Ngày 4 tháng 6 năm 1996, một hệ thống Phalanx do Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản (JMSDF) vận hành đã vô tình bắn hạ một máy bay A-6 Intruder của Hoa Kỳ, xuất phát từ tàu sân bay USS Independence, khi chiếc máy bay này đang kéo theo một mục tiêu radar trong một cuộc diễn tập bắn đạn thật, cách đảo Oahu (Hawaii) khoảng 1.500 dặm (2.400 km) về phía tây.

Tàu khu trục lớp Asagiri JDS Yūgiri đã khóa nhầm vào chiếc Intruder thay vì mục tiêu, hoặc đã chuyển sang bám theo dây kéo mục tiêu sau khi bắt được mục tiêu kéo theo. Hai phi công trên chiếc máy bay đã thoát hiểm an toàn bằng cách nhảy dù.[24] Một cuộc điều tra sau tai nạn kết luận rằng sĩ quan vận hành pháo của tàu Yūgiri đã ra lệnh khai hỏa trước khi chiếc A-6 rời khỏi vùng tác chiến hiệu quả của CIWS.[25]

Khủng hoảng Biển Đỏ

Ngày 30 tháng 1 năm 2024, lực lượng Houthi đã phóng một tên lửa hành trình chống hạm về phía Biển Đỏ. Tên lửa này đã tiếp cận trong phạm vi khoảng một hải lý so với tàu khu trục lớp Arleigh Burke USS Gravely. Hệ thống Phalanx CIWS trên Gravely đã được sử dụng để bắn hạ tên lửa. Đây là lần đầu tiên Phalanx CIWS được sử dụng để tiêu diệt một tên lửa do lực lượng Houthi phóng.[26] Không có thiệt hại hay thương vong nào được ghi nhận.[27][28]

Centurion – Hệ thống phòng thủ tên lửa, đạn pháo, cối trên mặt đất

 
Centurion C-RAM

Nhằm tìm giải pháp chống lại các vụ tấn công bằng rocket và cối liên tục vào các căn cứ ở Iraq, Quân đội Mỹ đã yêu cầu một hệ thống chống đạn nhanh triển khai vào tháng 5 2004, nằm trong sáng kiến Counter-Rocket, Artillery, Mortar (C-RAM).[29] Kết quả của chương trình này là hệ thống Centurion. Về cơ bản, đây là phiên bản mặt đất của CIWS trên hải quân, được phát triển nhanh chóng,[30] với một thử nghiệm proof-of-concept vào tháng 11 cùng năm. Hệ thống được triển khai tới Iraq từ năm 2005,[29][31] nhằm bảo vệ các căn cứ tiền phương và các vị trí quân sự quan trọng xung quanh thủ đô Baghdad.[32] Israel từng mua một hệ thống để thử nghiệm và được báo cáo đã cân nhắc việc mua để chống rocket và bảo vệ các cơ sở quân sự.[33] Tuy nhiên, do hệ thống Iron Dome nội địa của Israel phát triển nhanh và hiệu quả, nên Israel không triển khai Centurion.

Mỗi hệ thống Centurion gồm một Phalanx 1B CIWS đã được chỉnh sửa, có máy phát điện kèm theo và được gắn trên xe kéo để di chuyển dễ dàng. Hệ thống vẫn dùng súng Gatling 20 mm M61A1, với tốc độ bắn 4.500 viên/phút.[6][34] Đến năm 2008, hơn 20 hệ thống C-RAM đang bảo vệ các căn cứ trong khu vực hoạt động của U.S. Central Command. Một phát ngôn viên của Raytheon cho biết các hệ thống này đã ngăn chặn 105 vụ tấn công, chủ yếu là cối. Dựa trên thành công này, 23 hệ thống bổ sung đã được đặt hàng vào tháng 9 năm 2008.[35]

Tính năng kỹ thuật

  • Radar và FLIR: Centurion dùng radar băng Ku và FLIR để phát hiện và theo dõi các đạn tấn công.[36]
  • Tấn công mặt đất: Có thể nhắm bắn các mục tiêu trên mặt đất, với góc nâng tối đa tới -25°.
  • Vùng bảo vệ: Khoảng 0,5 dặm vuông Anh (~1,3 km²).[37]
  • Đạn: Khác với Phalanx hải quân dùng đạn xuyên thép vonfram, Centurion dùng 20 mm HEIT-SD (High-Explosive Incendiary Tracer, Self-Destruct), vốn được phát triển cho M163 VADS.[30][38]
    • Đạn nổ khi trúng mục tiêu.
    • Nếu trượt, đạn sẽ tự hủy khi mồi lửa hết, giảm thiểu rủi ro cho khu vực xung quanh.[30][38]
 
Phalanx CIWS và pháo Bofors 40 mm L/70 trên tàu ROCN Di Hua (PFG-1206)
 
Phalanx LPWS tiến hành bắn thử nghiệm tại Sân bay Bagram, Afghanistan vào ngày 1 tháng 3 năm 2014.
 
Phalanx LPWS trong bài tập bắn thật của tiểu đoàn tại Fort Campbell, Kentucky
 
Các quốc gia hiện đang vận hành Phalanx CIWS được đánh dấu màu xanh dương, các quốc gia từng sử dụng đánh dấu màu đỏ

Quốc gia sử dụng

Các quốc gia hiện đang sử dụng Phalanx CIWS

  Úc[39][40]

  Bahrain[39]

  Canada[39]

  Chile

  Ecuador

  Ai Cập[41]

  Hy Lạp[42]

  Israel[39]

  Nhật Bản[41]

  México[43]

  New Zealand[39]

  Pakistan[39]

  Ba Lan[39]

  Bồ Đào Nha[41]

  Ả Rập Xê Út[39]

  Hàn Quốc[44]

  Thái Lan[45]

  Thổ Nhĩ Kỳ

  Đài Loan (13 bộ MK15 Phalanx Block 1B Baseline 2; 8 bộ dùng để nâng cấp từ Block 0 hiện tại lên MK15 Phalanx Block 1B Baseline 2, tổng chi phí: 0,416 tỷ USD kèm 260.000 viên đạn xuyên giáp MK 244 MOD 0; Baseline 2 là mẫu mới nhất trong Block 1B vào tháng 11 năm 2016)[1][39]

  Anh Quốc[41]

  Hoa Kỳ[41]

Các quốc gia đã từng sử dụng trước đây

  Úc

  Canada

  Ấn Độ[48]

  • Tàu vận tải đổ bộ lớp Austin

  Nhật Bản

  Malaysia

  New Zealand

  Pakistan

  Thái Lan

  Đài Loan

  Anh Quốc

  Hoa Kỳ

  Afghanistan[39][49]

Thông số kỹ thuật (Block 1A/B)

  • Súng: 1 × súng Gatling 6 nòng 20 mm M61A2 Vulcan[3]
  • Chiều cao: 15,5 ft (4,7 m)
  • Trọng lượng: 12.500 lb (5.700 kg); các phiên bản mới hơn: 13.600 lb (6.200 kg)
  • Góc nâng: −25° đến +85°
  • Vận tốc đầu nòng: 3.600 ft/giây (≈1.100 m/giây)
  • Tốc độ bắn: 4.500 viên/phút
  • Số viên đạn tối đa trong một loạt bắn: 1.000 viên
  • Dung lượng đạn: 1.550 viên
  • Radar: Băng tần Ku
  • Chi phí: Khoảng 12 triệu USD[50]
  • Khả năng bắn mục tiêu siêu âm: Mach 2[51]

Các hệ thống tương tự

Tham khảo

  1. ^ a b Storm.mg (ngày 7 tháng 11 năm 2016). "凱子軍購?海軍先斬後奏買方陣快砲 價格比英、韓貴1倍-風傳媒".
  2. ^ a b c d e f g DiGiulian, Tony (ngày 5 tháng 3 năm 2018). "USA 20 mm Phalanx Close-in Weapon System (CIWS)". NavWeaps. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2020.
  3. ^ a b c d Thomas, Vincent C. The Almanac of Seapower 1987 Navy League of the United States (1987) ISBN 0-9610724-8-2 p.191
  4. ^ [1] Lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2009 tại Wayback Machine
  5. ^ "Amphibious Transport Dock". www.public.navy.mil. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2014.
  6. ^ a b murdoc (ngày 20 tháng 3 năm 2006). "Murdoc online March 20, 2006 CIWS now does surface targets, too". Murdoconline.net. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 4 năm 2009.
  7. ^ Beinart, Matthew (ngày 30 tháng 8 năm 2021). "U.S. Forces Use C-RAM To Take Out Rocket Aimed At Kabul Airport". Defense Daily.
  8. ^ Roblin, Sebastien (ngày 30 tháng 8 năm 2021). "Robotic Gatling Guns Repel ISIS-K Rocket Attack On Kabul Airport". Forbes (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2021.
  9. ^ Sieff, Martin (ngày 3 tháng 11 năm 2006). "Phalanx Has a Future". Spacewar.com. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2017.
  10. ^ "TELUS, news, headlines, stories, breaking, canada, canadian, national". Home.mytelus.com. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010.
  11. ^ a b "Raytheon Company: Phalanx". Raytheon.com. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010.
  12. ^ Navy Overhauls Phalanx Ship Defense Weapon – Defensetech.org, 21 August 2013
  13. ^ "Raytheon Awarded Phalanx 1B Upgrade Order for Royal Navy". Prnewswire.com. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010.
  14. ^ New electric gun for Phalanx® Close-In Weapon System passes first test – PRNewswire.com, 4 April 2017
  15. ^ "Last ditch defence – the Phalanx close-in weapon system in focus | Navy Lookout". www.navylookout.com. ngày 10 tháng 8 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 6 năm 2021.
  16. ^ "CIWS: The Last Ditch Defense" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2022.
  17. ^ Plunkett, A.J. (ngày 12 tháng 10 năm 1989). "Iwo Jima Officer Killed In Firing Exercise". Daily Press. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2013.
  18. ^ "Cuộc điều tra chính thức về các tình huống xoay quanh cuộc tấn công vào tàu USS STARK (FFG 31) ngày 17 tháng 5 năm 1987" (PDF). www.dod.gov. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 23 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2026.
  19. ^ "DOD Letter, Subject: Formal investigation into the circumstances surrounding the attack on the USS Stark (FFG-31) on 17 May 1987" (PDF). ngày 3 tháng 9 năm 1987. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2020.
  20. ^ "Tab-H Friendly-fire Incidents". Gulflink.osd.mil. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010.
  21. ^ "Nuclear Regulatory Commission Preliminary Notification of Event or Unusual Occurrence" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 9 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2024.
  22. ^ "Department of the Navy USS Lake Erie (CG 70) Command History 1994" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2024.
  23. ^ "Naval Message Date/Time/Group 132025Z Jul 94" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2024.
  24. ^ "CNN - U.S. jet accidentally shot down by Japan - June 4, 1996". www.cnn.com. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2026.
  25. ^ "HUMAN ERROR CITED IN DOWNING OF NAVY PLANE BY JAPANESE". scholar.lib.vt.edu. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2026.
  26. ^ Altman, Howard (ngày 31 tháng 1 năm 2024). "Phalanx CIWS Downs Houthi Missile Dangerously Close To Destroyer: Report". The War Zone. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2024.
  27. ^ Liebermann, Oren; Bertrand, Natasha (ngày 31 tháng 1 năm 2024). "US warship had close call with Houthi missile in Red Sea". CNN. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2024.
  28. ^ Sherman, Ella; Epstein, Jake (ngày 31 tháng 1 năm 2024). "A Houthi missile got so close to a US destroyer the warship turned to a last resort gun system to shoot it down: report". Business Insider. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2024.
  29. ^ a b "Army C-RAM Intercepts 100th Mortar Bomb in Iraq". Defense-update.com. ngày 7 tháng 6 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010.
  30. ^ a b c "Navy News, news from Iraq". Navy Times. ngày 27 tháng 6 năm 2005. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010.
  31. ^ "First C-RAM joint intercept battery organizes for combat. – Free Online Library". Thefreelibrary.com. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010.
  32. ^ Ripley, Tim (ngày 25 tháng 5 năm 2007). "UK deploys Phalanx C-RAM system to protect forces in Iraq" (PDF). Jane's Defence Weekly. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 28 tháng 11 năm 2010.
  33. ^ "BMD Focus: Barak dithered on Phalanx". Spacewar.com. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010.
  34. ^ "Israel may buy rapid-fire cannon" Jerusalem Post Dec 20, 2007 Lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2011 tại Wayback Machine
  35. ^ Analyst: DDGs without CIWS vulnerable. Navy Times. September 16, 2008
  36. ^ "This is America's C-RAM Weapon System". YouTube. ngày 17 tháng 3 năm 2021.
  37. ^ "A Laser Phalanx?". Defenseindustrydaily.com. ngày 23 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010.
  38. ^ a b "Counter-RAM Systems Target Rockets". Aviation Week. ngày 27 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010.[liên kết hỏng vĩnh viễn]
  39. ^ a b c d e f g h i j "Mk 15 Phalanx Block 0 / CIWS, Close-In Weapon System". Deagel.com. ngày 7 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010.
  40. ^ "Phalanx Close-In Weapons System Block Upgrade". defence.gov.au (bằng tiếng Anh). Canberra: Department of Defence. ngày 1 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2024.
  41. ^ a b c d e "Mk 15 Phalanx Block 1B / CIWS, Close-In Weapon System". Deagel.com. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010.
  42. ^ "World Navies Today: india". Hazegray.org. ngày 24 tháng 3 năm 2002. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010.
  43. ^ "Mexico Missile Boats". HAARETZ.com. ngày 23 tháng 12 năm 2003. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2013.
  44. ^ "Raytheon to deliver 9 Phalanx CIWS to Republic of Korea Navy". ngày 25 tháng 2 năm 2014.
  45. ^ "World Navies Today: Thailand". Hazegray.org. ngày 25 tháng 3 năm 2002. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010.
  46. ^ Defense News
  47. ^ "The Navy's oldest operational ship just turned 50. Here's why it's still on the frontline of crises and conflict". BUSINESS INSIDER. Insider Inc. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2025.
  48. ^ "Indian Navy equips landing platform dock with indigenous combat systems | Jane's 360". www.janes.com. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2026.
  49. ^ "Afghanistan Anti-Missile System". ngày 12 tháng 7 năm 2021.
  50. ^ "Raytheon to deliver four Phalanx Close-In Weapon Systems to South Korea". navyrecognition.com. ngày 30 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2023.
  51. ^ "ВЗГЛЯД / "Циркон" выходит на рабочую скорость :: Общество". Vz.ru. ngày 17 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2022.

Liên kết ngoài