Phan Văn Sử
Phan Văn Sử (1910 – 1982) là một chính trị gia, nhà ngoại giao người Việt Nam. Ông từng là Chủ tịch tỉnh Vĩnh Long và Long Châu Sa.[2] nguyên Đại sứ Việt Nam tại Tiệp Khắc.[3]
Phan Văn Sử | |
|---|---|
Chức vụ | |
Vụ trưởng Vụ Đông Nam Á– Nam Á – Thái Bình Dương | |
| Nhiệm kỳ | 1970 – 1973 |
| Tiền nhiệm | Đinh Nho Liêm |
| Kế nhiệm | Nguyễn Sỹ Hoạt |
| Vị trí | Bộ Ngoại giao Việt Nam |
Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền | |
| Nhiệm kỳ | 1964 – 1969 |
| Tiền nhiệm | Nguyễn Thanh Hà[1] |
| Kế nhiệm | Nguyễn Hữu Ngô |
| Vị trí | Tiệp Khắc |
Vụ trưởng Vụ Liên Xô – Đông Âu | |
| Nhiệm kỳ | 1962 – 1964 |
| Tiền nhiệm | Hoàng Văn Tiến |
| Kế nhiệm | Nguyễn Hữu Ngô |
| Vị trí | Bộ Ngoại giao Việt Nam |
Chủ tịch tỉnh | |
| Nhiệm kỳ | 1951 – 1953 |
| Vị trí | Long Châu Sa |
| Nhiệm kỳ | 1946 – 1951 |
| Vị trí | Vĩnh Long |
Thông tin cá nhân | |
| Quốc tịch | |
| Sinh | 1910 Vĩnh Long, Liên bang Đông Dương |
| Mất | 6 tháng 5, 1982 (71–72 tuổi) Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam |
| Nghề nghiệp | Chính khách, nhà ngoại giao |
| Đảng chính trị | tháng 3, 1945 |
Tiểu sử
Phan Văn Sử sinh năm 1910 trong một gia đình khá giả tại làng Trung Thành, huyện Vũng Liêm, (nay là xã Trung Thành) tỉnh Vĩnh Long. Học xong bậc tiểu học ở Vĩnh Long, ông qua Mỹ Tho học trung học (Collège de Mỹ Tho) và đỗ bằng Thành chung (diplôme). Ông được gia đình đưa sang Pháp học tại Bordeau và đỗ bằng tú tài và về nước năm 1933.[3]
Sự nghiệp
Hoạt động chính trị
Năm 1934, Phan Văn Sử mở một trường học có tên của trường là Trung Thành ở bên cầu Thiềng Đức, cách tỉnh lỵ Vĩnh Long bởi con rạch Long Hồ. Tháng 3 năm 1945, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản và sau đó trở thành Ủy viên của Ban Chấp hành Tỉnh ủy lâm thời, sau đó làm Thường vụ Tỉnh ủy, Tổng Thư ký Ủy ban Nhân dân tỉnh.[3][4] Cũng trong thời gian này, ông là Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I.[4] Năm 1946, Phan Văn Sử giữ chức Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chánh (tương đương Chủ tịch tỉnh) tỉnh Vĩnh Long.[3]
Khi thực dân Pháp đem quân trở lại Việt Nam, Phan Văn Sử cùng nhiều giáo viên và học sinh của trường thoát ly theo kháng chiến. Từ năm 1951 đến 1953, ông được điều chuyển về công tác ở Long Châu Sa, giữ chức Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến. Năm 1954, thực hiện Hiệp định Genève, ông làm Ủy viên phụ trách khối tập kết Dân chính Đảng Nam bộ rồi tập kết ra Bắc.[3]
Hoạt động ngoại giao
Từ năm 1956 đến 1958, ông được cử làm Tham tán của Đại sứ quán tại Rumani.[3]
Từ năm 1962 đến 1964, Phan Văn Sử làm Vụ trưởng Vụ Liên Xô – Đông Âu kiêm Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ Ngoại giao thay Hoàng Văn Tiến.[2][3]
Từ năm 1964 đến 1969, ông được bổ nhiệm làm Đại sứ Việt Nam tại Tiệp Khắc.[3][5]
Từ năm 1970, ông kế nhiệm Đinh Nho Liêm làm Vụ trưởng Vụ Đông Nam Á– Nam Á – Thái Bình Dương đến khi nghỉ hưu vào tháng 7 năm 1973.[2][3] Phan Văn Sử cùng gia đình chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh từ sau năm 1975 cho đến khi qua đời ngày 6 tháng 5 năm 1982.[3]
Khen thưởng
- Huân chương Kháng chiến chống Pháp– Hạng I
- Huân chương Kháng chiến chống Mỹ – Hạng II
- Huy hiệu Thành đồng Tổ quốc
- Tên ông được đặt cho một con đường ở quận Tân Bình – Thành phố Hồ Chí Minh
Xem thêm
Tham khảo
- ^ Đại biện
- ^ a b c Nguyễn Kim Nga; Cù Thúy Lan; Hoàng Thu Quỳnh (2015). Bộ Ngoại giao: 70 năm xây dựng và phát triển (1945-2015). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. tr. 120, 123, 415, 419.
- ^ a b c d e f g h i j Dương Tấn Đệ. "Phan Văn Sử (1910 – 1982)". Báo và phát thanh, truyền hình Vĩnh Long. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2026.
- ^ a b Phạm Bá Nhiễu (ngày 3 tháng 6 năm 2021). "Ba đại biểu đầu tiên tỉnh Vĩnh Long của Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội năm 1946". Trang tin điện tử - Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Vĩnh Long. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2026.
- ^ Nghị quyết 11NQ/TVQH (1964)