R-11 Zemlya
R-11 Zemlya (tiếng Nga: Р-11 Земля, n.đ. 'Trái đất'),[1] mã định danh GRAU 8A61[2] là một loại tên lửa đạn đạo chiến thuật của Liên Xô. Nó cũng được biết đến với tên định danh NATO là SS-1b Scud-A. Đây là loại tên lửa đầu tiên trong số các tên lửa tương tự của Liên Xô được đặt tên định danh là Scud. Biến thể R-11M đã được đưa vào biên chế với mã GRAU là 9K51 (9К51).
| R-11 Zemlya | |
|---|---|
| Tập tin:2P19 Transporter-Erector-Launcher with 8K14 rocket of 9K72 missile complex «Elbrus», Artillery museum, Saint-Petersburg pic3.JPG | |
| Loại | Tên lửa đạn đạo tầm ngắn |
| Nơi chế tạo | Liên Xô |
| Lược sử hoạt động | |
| Phục vụ | 1956-1978 |
| Lược sử chế tạo | |
| Giai đoạn sản xuất | 1956-1962 |
| Thông số | |
| Khối lượng | 5.4 tấn |
| Chiều dài | 10 604 mm |
| Đường kính | 880 mm |
| Đầu nổ | HE, hạt nhân |
Nguồn gốc
R-11 bắt nguồn từ một yêu cầu năm 1951 về một loại tên lửa đạn đạo có hiệu suất tương tự như tên lửa V-2 của Đức nhưng có kích thước chỉ bằng một nửa. Với Wasserfall (một phiên bản phòng không của V-2) làm hình mẫu, R-11 được phát triển bởi kỹ sư Victor Makeev, người lúc đó đang làm việc tại OKB-1 dưới sự lãnh đạo của Sergey Korolyov. Hai người đã đồng ý sử dụng RG-1 làm nhiên liệu, nhưng lại bất đồng về việc sử dụng chất oxy hóa; Korolev ủng hộ oxy lỏng, trong khi Makeev ủng hộ việc sử dụng một chất oxy hóa có thể lưu kho lâu dài nhưng có độc tính. Phiên bản của Makeev, bay lần đầu vào ngày 18 tháng 4 năm 1953, được trang bị động cơ của Isayev sử dụng RG-1 và axit nitric. Vào ngày 13 tháng 12 năm 1953, một đơn hàng sản xuất đã được chuyển cho SKB-385 ở Zlatoust, một nhà máy chuyên sản xuất tên lửa tầm xa. Vào tháng 6 năm 1955, Makeev được bổ nhiệm làm nhà thiết kế chính của SKB-385 để giám sát chương trình và vào tháng 7, R-11 chính thức được chấp nhận vào biên chế quân đội.[2] Phiên bản hoàn thiện R-11M, được thiết kế để mang đầu đạn hạt nhân, chính thức được đưa vào phục vụ vào ngày 1 tháng 4 năm 1958. Hệ thống phóng nhận mã GRAU là 9K51, bản thân tên lửa là 8K11 và xe phóng là 8U218.[3]
Thông số hệ thống
Giống như V-2, R-11 dựa trên hệ thống dẫn đường quán tính, và chuyến bay của nó được điều khiển bởi bốn vây lái bằng graphite trong luồng khí thải động cơ, chúng chỉ hoạt động khi động cơ đang cháy. R-11M có tầm bắn tối đa 270 km (170 mi), nhưng khi mang đầu đạn hạt nhân, tầm bắn này giảm xuống còn 170 km (110 mi), do đó nó có tên gọi thay thế là R-170.[3] Ở tầm bắn tối đa, sai số tầm trung bình là 1,19 km (0,74 mi) và sai số phương vị là 660 m (0,41 mi).[4] Nó được sử dụng như một phương tiện tấn công hạt nhân cơ động, giúp Quân đội Liên Xô có khả năng tấn công các mục tiêu ở châu Âu từ các khu vực tiền phương. Để hệ thống có đủ tính cơ động trên chiến trường, R-11 được đặt trên khung gầm của xe tăng IS-2, trở thành xe mang phóng di động 8U218 đầu tiên. Tải trọng chính là một đầu đạn hạt nhân với sức công phá ước tính khoảng 10, 20 hoặc 40 kiloton.[3] Ngoài ra còn có đầu đạn nổ phá mảnh 9N33 với 535 kg (1.179 lb) thuốc nổ.[3]
Biến thể hải quân
Một biến thể hải quân mang tên R-11FM đã được thử nghiệm lần đầu tại Kapustin Yar vào tháng 2 năm 1955, và được phóng lần đầu từ một tàu ngầm Project 611 (lớp Zulu) đã hoán cải vào tháng 9 cùng năm.[5] Trong khi thiết kế ban đầu do OKB-1 của Korolev thực hiện, chương trình đã được chuyển giao cho SKB-385 của Makeyev vào tháng 8 năm 1955.[2] Nó bắt đầu hoạt động vào năm 1959 với tên gọi hệ thống phóng D-1, đây là loại tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm (SLBM) đầu tiên trên thế giới,[6] và được triển khai trên các tàu ngầm Project 611 và Project 629 (Lớp Golf), cho đến khi được thay thế bởi R-13 (SS-N-4) vào năm 1961 và R-21 (SS-N-5) vào năm 1963.[7] Trong suốt quá trình phục vụ, 77 lần phóng đã được thực hiện, trong đó 59 lần thành công.[8] Thành công của R-11FM đã xác lập Makeev trở thành nhà thiết kế chính các loại vũ khí phóng từ tàu ngầm cho Lực lượng Vũ trang Liên Xô, và R-11FM đã phục vụ trong các đơn vị tàu ngầm SLBM thế hệ đầu tiên của Hải quân Liên Xô.
Các quốc gia sử dụng
Tham khảo
- ^ Johnston, Robert. "Soviet/Russian Missile Designations". Johnston's Archive. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2026.
- ^ a b c Wade, Mark. "R-11". Encyclopedia Astronautica. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 3 năm 2002. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2008.
- ^ a b c d Rochowicz, Robert (2018). "Rakiety operacyjne i taktyczne w Siłach Zbrojnych PRL". Poligon (bằng tiếng Ba Lan) (1/2018(62)): 56–63. ISSN 1895-3344.
- ^ Zaloga, p. 4
- ^ "Rocket R-11". RSC "Energia". Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2021.
- ^ Zaloga, p. 8
- ^ "SS-1 'Scud' (R-11/8K11, R-11FM (SS-N-1B) and R-17/8K14)". Jane's Information Group. ngày 26 tháng 4 năm 2001. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2008.
- ^ "R-11FM / SS-1b Scud". Liên đoàn các nhà khoa học Hoa Kỳ. ngày 13 tháng 7 năm 2000. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2008.
- ^ "WYRZUTNIA RAKIET OPERACYJNO-TAKTYCZNYCH R 170". muzeumkolobrzeg.pl. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2025.
- ^ Stroea, Adrian; Băjenaru, Gheorghe (2010). Artileria Română în date și imagini (PDF) (bằng tiếng Romania). Bucharest: Editura Centrului Tehnic-Editorial al Armatei. tr. 139–140. ISBN 9786065240803. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2023.
Liên kết ngoài
- Ballistic Missile Reference Lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2019 tại Wayback Machine from the Federation of American Scientists
- Missile Threat: A Project of the George C. Marshall Institute
- R-11 / SS-1B SCUD-A