Bước tới nội dung

IS-2

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
IS-2
Tập tin:Меморіальний комплекс «Сапун-гора»2.JPG
IS-2 Model 1943, tại Sevastopol
LoạiXe tăng hạng nặng
Nơi chế tạoLiên Xô
Lược sử hoạt động
Phục vụ1944–1970s
Sử dụng bởiXem Các nước sử dụng
TrậnThế chiến II, Chiến tranh Triều Tiên
Lược sử chế tạo
Người thiết kếZhozef Kotin
Nikolay Dukhov
Năm thiết kế
  • 1943
Nhà sản xuấtNhà máy Kirov, UZTM
Giá thànhIS-2 Model 1944: 300.000 rubles[1]
Giai đoạn sản xuất
  • 1943–1945
Số lượng chế tạo
  • 3,854 (tất cả các mẫu)
Thông số (IS-2 Model 1944[3])
Khối lượng46 tấn (51 tấn Mỹ; 45 tấn Anh)
Chiều dài9,90 m (32 ft 6 in)
Chiều rộng3,09 m (10 ft 2 in)
Chiều cao2,73 m (8 ft 11 in)
Kíp chiến đấu4 (Chỉ huy/Sĩ quan điện đài, Pháo thủ, Nạp đạn, Lái xe

Phương tiện bọc thépIS-2 Mẫu 1944:
Mặt trước thân xe: 100 mm ở góc 60°
Giáp trước dưới: 100 mm ở góc 30°
Mặt trước tháp pháo: 100 mm (bo tròn)
Mặt nạ pháo: 120 mm (bo tròn)
Sườn thân xe: 90–130 mm ở góc 9–25°
Sườn tháp pháo: 90 mm ở góc 20°.
Vũ khí
chính
Pháo D-25T 122 mm (28 viên)
Vũ khí
phụ
DShK, 3×DT (2,079 viên)
Động cơĐộng cơ diesel V-2-10 (V-2IS) (cấu hình V-12) dựa trên mẫu Kharkiv model V-2
520 mã lực mét (382 kW)
Công suất/trọng lượng11.3 PS/tonne
Hệ thống treoThanh xoắn
Sức chứa nhiên liệu820 L (180 gal Anh; 220 gal Mỹ)
Tầm hoạt độngĐường nhựa:
240 km (150 mi)
Đường đất:
180 km (110 mi) [2]
Tốc độ37 km/h (23 mph)

IS-2 (tiếng Nga: ИС-2, đôi khi được latin hóa là JS-2[note 1]) là một xe tăng hạng nặng của Liên Xô, chiếc thứ hai trong dòng xe tăng IS được đặt theo tên lãnh tụ Liên Xô Joseph Stalin. Nó được phát triển và tham chiến trong Chiến tranh thế giới thứ hai, đồng thời tiếp tục phục vụ tại một số quốc gia đồng minh của Liên Xô sau chiến tranh.

Thiết kế và sản xuất

Object 237 KV-85 và IS-85/IS-1

Tập tin:KV-85 right side view.JPG
KV-85 là một giải pháp “chữa cháy” (tạm thời) cho đến khi dòng IS được đưa vào trang bị. Hãy chú ý khung gầm KV đã được sửa đổi: loại bỏ vị trí xạ thủ súng máy thân xe/điện đài viên, thay bằng một khẩu do lái xe điều khiển; vị trí lái được đặt hơi lệch vào trung tâm ở phía trước, một đặc điểm thiết kế chủ đạo của toàn bộ xe tăng dòng IS.
Nguyên mẫu IS-85 (IS-1) được trang bị pháo D-5T. Các mẫu IS-2 chuyển đổi sau này được thay bằng pháo 122mm D-25T trong khi vẫn giữ nguyên thân xe.

KV-1 bị kíp lái chê nhiều vì khả năng cơ động kém và không có pháo cỡ lớn hơn so với xe tăng hạng trung T-34. Nó đắt hơn nhiều so với T-34 nhưng lại không có hiệu quả chiến đấu vượt trội. Moscow ra lệnh chuyển một số dây chuyền lắp ráp KV-1 sang sản xuất T-34, dẫn đến lo ngại rằng sản xuất KV-1 sẽ bị dừng lại, và cục thiết kế SKB-2 do Kotin lãnh đạo sẽ bị đóng cửa.[4] Năm 1942, vấn đề này phần nào được giải quyết bằng xe tăng KV-1S, loại có giáp mỏng hơn bản gốc nên nhẹ và nhanh hơn. Nó cạnh tranh được với T-34 nhưng cái giá phải trả là không còn lớp giáp dày hơn. Việc sản xuất KV-1S dần được thay thế bằng SU-152[5] và kết thúc vào tháng 4 năm 1943.[6]

Việc thu giữ được một xe tăng Tiger của Đức vào tháng 1 năm 1943 dẫn đến quyết định phát triển một xe tăng hạng nặng mới, được đặt mật danh là Object 237.[7] Trước khi Object 237 kịp “chín muồi”, những trận đánh xe tăng dữ dội vào mùa hè năm 1943 đòi hỏi phải có sự thay thế. Nhóm của Dukhov được chỉ thị tạo ra một mẫu KV tạm thời là KV-85, được trang bị khẩu pháo 85 mm D-5T (biến thể phát triển từ pháo 52-K của SU-85), vốn đã chứng tỏ có khả năng xuyên giáp Tiger I từ cự ly 1.000 m (1.100 yd). KV-85 được tạo ra bằng cách lắp tháp pháo của Object 237 lên thân xe KV-1S. Để phù hợp với tháp pháo Object 237, thân KV-1S được sửa đổi: tăng đường kính vòng tháp pháo bằng các phần “đắp” ở hai bên thân. Điện đài viên được thay bằng giá đạn cho loại đạn 85 mm lớn hơn. Súng máy thân xe sau đó được chuyển sang phía đối diện với lái xe và cố định tại chỗ để lái xe vận hành. Từ tháng 9 đến tháng 10 năm 1943, tổng cộng 130 chiếc KV-85 được sản xuất, trước khi dây chuyền bắt đầu chuyển đổi. Giống KV-1S, KV-85 phục vụ với số lượng ngày càng giảm và nhanh chóng bị dòng IS vượt trội che lấp.[8]

Nguyên mẫu Object 237, một phiên bản của dự án KV-13 đã bị hủy, được chấp nhận sản xuất dưới tên xe tăng hạng nặng IS-85.[9] Những chiếc đầu tiên được bàn giao vào tháng 10 năm 1943 và lập tức được đưa vào sử dụng. Sản xuất kết thúc vào tháng 1 năm 1944. Sau khi IS-122 được giới thiệu, ký hiệu của IS-85 được đơn giản hóa thành IS-1; về sau IS-122 được đổi tên thành IS-2 vì lý do an ninh.

Object 240 IS-2

Pháo

Đến năm 1943, các kỹ sư đã thành công trong việc lắp pháo 85 mm lên xe tăng hạng trung T-34, khiến nó có hỏa lực tương đương xe tăng hạng nặng KV-85. Nỗ lực "nâng cấp hỏa lực" cho IS-85 bắt đầu vào cuối năm 1943. Hai loại vũ khí ứng viên là pháo xe tăng 122 mm D-25, có đặc tính đạn đạo giống hệt pháo 122 mm A-19,[10] và pháo 100 mm D-10, phát triển từ một loại pháo hải quân lưỡng dụng. D-10 được thiết kế cho nhiệm vụ chống tăng và có khả năng xuyên giáp tốt hơn A-19, nhưng cỡ nòng nhỏ hơn khiến đạn nổ mạnh (HE) kém hữu dụng hơn. Ngoài ra, D-10 là vũ khí tương đối mới và đang thiếu nguồn cung, trong khi A-19 và đạn dược của nó có dư công suất sản xuất. So với pháo xe tăng F-34 cỡ 76,2 mm đời cũ, D-25 tạo ra động năng đầu nòng lớn hơn 5,37 lần.

Sau khi thử nghiệm cả D-25 và D-10 trên IS-122, D-25 được chọn làm vũ khí chính của xe tăng mới. D-25 dùng cơ chế nạp rời (đạn và liều phóng tách riêng), dẫn đến tốc độ bắn thấp hơn so với loại đạn liền khối (một mảnh) được dùng trong đa số xe tăng, một bất lợi nghiêm trọng trong các trận đấu tăng. Các thử nghiệm tại bãi thử của Liên Xô cho thấy D-25 có thể xuyên giáp trước của xe tăng Panther của Đức tại cự ly 2.500 m (2.700 yd) trong khi D-10 chỉ làm được điều đó ở cự ly tối đa 1.500 m (1.600 yd).[11][10] Vì vậy, D-25 được coi là một pháo chống tăng đủ tốt. Những đợt bàn giao đầu tiên của IS-122 lắp khẩu pháo này đã được bàn giao vào tháng 12 năm 1943.[12]

Tập tin:D25T shells.svg
Đạn và liều phóng của loại đạn nạp rời dùng cho pháo 122mm A-19/D-25T. Từ trái sang phải: vỏ liều phóng, đạn nổ mạnh/đạn mảnh OF-471, đạn xuyên giáp nổ mạnh BR-471, đạn xuyên giáp có chụp đạn đạo BR-471B. Tất cả các loại đạn đều được minh họa ở hai mặt.

Một báo cáo của Wa Pruef 1 vào ngày 5 tháng 10 năm 1944 1944 cung cấp dữ liệu về cự ly xuyên giáp của pháo 122 mm A-19 khi bắn vào xe tăng Panther đặt nghiêng 30 độ; theo ước tính, pháo A-19 không thể xuyên tấm giáp trước trên của Panther ở bất kỳ cự ly nào, có thể xuyên tấm giáp trước dưới ở cự li 100 m (110 yd), có thể xuyên mặt nạ pháo từ 500 m (550 yd) và có thể xuyên mặt trước tháp pháo từ 1.500 m (1.600 yd).[13] Giáp sườn của Panther tương đối yếu hơn và theo cùng báo cáo, có thể bị xuyên ở cự li 3.500 m (3.800 yd).[13] Thử nghiệm với các xe tăng Tiger I thu được tại Kubinka cho thấy pháo 122 mm D-25T có thể xuyên tháp pháo của Tiger từ 1.000–1.500 m (1.100–1.600 yd) và có thể xuyên mối hàn hoặc các mép của những tấm giáp trước thân xe ở cự ly 500–600 m (550–660 yd).[14] Năm 1944, BR-471 là loại đạn xuyên giáp duy nhất sẵn có. Một phiên bản cải tiến, BR-471B (tiếng Nga: БР-471Б) được phát triển vào mùa xuân năm 1945 nhưng chỉ có với số lượng lớn sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc.[15]

Theo cùng báo cáo Wa Pruef 1, người ta ước tính rằng ở góc chéo 30 độ, giáp thân của IS-2 mẫu 1943 của Liên Xô sẽ bị Tiger I xuyên thủng ở cự ly 100 và 300 m (0,062 và 0,186 mi) tại tấm giáp trước vị trí lái xe và phần mũi,[16] trong khi pháo 122 mm của IS-2 sẽ xuyên giáp trước của Tiger từ khoảng 500 và 1.500 m (0,31 và 0,93 mi).[16] Một xe tăng Panther phải áp sát tới 600 m (660 yd) để bảo đảm xuyên được giáp trước của IS-2 (pháo 75 mm của Panther có thể xuyên mặt nạ pháo của IS-2 mẫu 1943 từ 400 m (440 yd), mặt trước tháp pháo từ 800 m (870 yd), và tấm giáp trước vị trí lái xe từ 600 m (660 yd)[13]), trong khi IS-2 có thể xuyên Panther ở cự ly 1.000 m (1.100 yd).[17] Tuy nhiên, vào mùa hè năm 1944, người Đức gặp tình trạng thiếu mangan và phải chuyển sang dùng thép hàm lượng carbon cao pha niken, khiến giáp rất giòn, đặc biệt là tại các đường hàn mối nối. Hiệu quả của các viên đạn xuyên giáp 122 mm của IS-2 khi bắn vào Panther vì thế đã được cải thiện đáng kể. Các báo cáo từ mặt trận mô tả những trường hợp mà viên đạn BR-471 APHE cỡ 122 mm bắn từ 2.500 m (2.700 yd) đã nảy khỏi giáp trước của một chiếc Panther, để lại những vết thủng rất lớn trên đó.[12] Theo Steven Zaloga, IS-2[17] và Tiger I có thể hạ nhau trong các cự ly chiến đấu thông thường dưới 1.000 m (1.100 yd). Ở bất kỳ cự ly nào, hiệu quả của mỗi xe tăng khi đối đầu với nhau còn phụ thuộc vào kíp lái và tình huống chiến đấu.[18]

Tập tin:IS-2 scheme.jpg
Bản vẽ nét của IS-2

Viên đạn nổ mạnh (HE) 122 mm cỡ lớn là vũ khí chính của nó, tỏ ra cực kỳ hữu ích và có sức tàn phá lớn khi diệt bộ binh. Trong tình huống khẩn cấp, IS-2 cũng dùng đạn nổ mạnh OF-471 (tiếng Nga: ОФ-471) để đối đầu với giáp hạng nặng của đối phương. Những quả đạn này nặng 25 kg (55 lb), có sơ tốc 800 m/s (2.600 ft/s), và chứa 3,8 kg (8,4 lb) TNT. Sức nổ có thể thổi bay tháp pháo xe tăng đối phương, đánh bật bánh dẫn động và làm văng xích khỏi cả những xe tăng Đức hạng nặng nhất, ngay cả khi nó không xuyên được lớp giáp.[19][20] Chấn động cơ học và vụ nổ thường cũng đủ để loại khỏi vòng chiến các xe tăng hạng nặng của đối phương.[19]

Nhược điểm dễ nhận thấy nhất của pháo D-25T là tốc độ bắn chậm do kích thước và trọng lượng lớn của đạn; ban đầu chỉ có thể bắn được khoảng một đến một rưỡi viên mỗi phút.[21] Sau một số cải tiến thiết kế, bao gồm cơ cấu khóa nòng bán tự động kiểu thả thay cho khóa nòng vặn ren thao tác thủ công trước đó, tốc độ bắn tăng lên 2–3 viên mỗi phút.[21] Theo các nguồn khác, mức tăng có thể đạt 3–4 viên mỗi phút.[22] Một hạn chế khác do cỡ đạn lớn trong một phương tiện tương đối nhỏ là khả năng mang đạn: xe tăng chỉ chở được 28 viên, với cơ cấu thường thấy là 20 viên HE và 8 viên AP.[23][24]

Khả năng bảo vệ

Tập tin:IS-2 scheme of armour.jpg
Sơ đồ bố trí giáp của IS-2, mẫu 1943 (trên) và 1944 (dưới).

Giáp của IS-2 chủ yếu được tạo bằng phương pháp đúc, tức là rót kim loại nóng chảy vào khuôn rồi để nguội. Cách làm này nhằm giảm chi phí sản xuất và nhờ đó tăng số lượng xe có thể chế tạo (trái ngược với mẫu cùng thời là Tiger II, vốn cần gia công cơ khí đáng kể trong quá trình chế tạo). Đúc cũng giúp dễ thay đổi hình dáng và độ dày của giáp, đồng thời làm giảm diện tích bề mặt bên ngoài so với thể tích của xe tăng. Tuy nhiên, khi đúc phải tính đến việc kim loại co lại khi nguội (trở nên đặc hơn), và do hạn chế của công nghệ đúc Liên Xô, độ dày giáp IS-2 có thể thay đổi ngay cả khi được sản xuất từ cùng một khuôn. Đôi khi còn phải dùng hợp kim chất lượng thấp hơn, thay niken bằng mangan, khiến cho dù lớp giáp có độ cứng cao và chống xuyên tốt hơn thép, nó cũng khá giòn và vì vậy có nguy cơ bị nứt vỡ.[25]

Sản xuất

Nguyên mẫu IS-122 thay thế IS-85 và bắt đầu được sản xuất hàng loạt với tên gọi IS-2. Các pháo 85 mm có thể được giữ lại để trang bị cho xe tăng hạng trung T-34-85 mới, và một số chiếc IS-1 đã chế tạo được tái vũ trang trước khi rời nhà máy rồi bàn giao dưới dạng IS-2. IS-2 nhẹ và nhanh hơn đôi chút so với mẫu KV nặng nhất năm 1942, có giáp trước dày hơn và thiết kế tháp pháo được cải tiến đáng kể. Xe tăng có thể mang giáp dày hơn dòng KV mà vẫn nhẹ hơn, nhờ bố trí "vỏ giáp" hợp lý hơn. Giáp của KV có hình dáng kém tối ưu và đặt giáp dày cả ở phía sau, trong khi dòng IS tập trung giáp ở phía trước. IS-2 nặng hơn Panther một chút, nhẹ hơn nhiều so với Tiger ITiger II, và có dáng thấp hơn cả hai. Các quan sát viên phương Tây thường chỉ trích xe tăng Liên Xô vì độ hoàn thiện kém và chế tạo thô. Phía Liên Xô cho rằng điều đó là hợp lý, xét đến yêu cầu phải nhanh chóng trong thời chiến và "tuổi thọ" chiến trường vốn thường ngắn của xe tăng họ.[26]

Các xe IS-2 đời sớm có thể được nhận ra nhờ phần đúc thân trước kiểu 'bậc' với khe quan sát lái xe nhỏ có thể mở. Các xe đời đầu thiếu khóa cố định nòng khi hành quân hoặc súng máy phòng không, và có mặt nạ pháo hẹp.

Cuối năm 1944, phần thân trước kiểu "bậc" được thay bằng một khối đúc liền cải tiến dày 120 mm, đặt nghiêng 60 độ. Phần "mũi" mới này không còn khe quan sát lái xe có thể mở. Đôi khi người ta gọi nhầm nó là IS-2M, nhưng ký hiệu đó thực ra dùng cho một chương trình hiện đại hóa muộn hơn nhiều vào thập niên 1950. Một số nâng cấp nhỏ khác gồm: bổ sung khóa cố định nòng ở phía sau thân xe, mặt nạ pháo rộng hơn và, ở những xe sản xuất rất muộn, có thêm súng máy phòng không. Tuy vậy, mẫu 1944 không hoàn toàn thay thế mẫu 1943.

So với Tiger I, IS-2 có lợi thế về giáp, dù nhẹ hơn 10 tấn.[27] Năm 1944, IS-2 là xe tăng Đồng minh duy nhất được sản xuất quy mô lớn mà giáp của nó có thể cung cấp một mức độ bảo vệ trước các khẩu pháo nổi tiếng của Đức như pháo 88mm nòng dài trên Tiger và pháo 75mm L/70 trên Panther.

IS-2 được kế nhiệm bởi IS-3, mẫu được phát triển vào cuối năm 1944 và rời xưởng vào tháng 5 năm 1945.

Vào giữa thập niên 1950, những xe tăng IS-2 còn lại (chủ yếu là biến thể mẫu 1944, dù cũng có một số biến thể mẫu 1943) được nâng cấp theo tiêu chuẩn IS-2M, bổ sung các trang bị như thùng nhiên liệu ngoài ở phía sau thân xe (IS-2 nguyên bản chỉ có loại này ở hai bên thân), các thùng chứa đồ ở cả hai bên thân và tấm che bảo vệ chạy dọc theo mép trên của xích.

Lịch sử chiến đấu của IS-2

Xe tăng IS-2 lần đầu tham chiến mùa xuân năm 1944. Những chiếc IS-2 được biên chế vào các trung đoàn tăng hạng nặng riêng biệt, thông thường có 21 xe mỗi trung đoàn.[28] Các trung đoàn này được dùng để tăng cường cho những khu vực tấn công quan trọng nhất trong những chiến dịch lớn. Về chiến thuật, chúng được dùng như những xe tăng đột phá. Vai trò của chúng là hỗ trợ bộ binh trong cuộc tấn công, sử dụng khẩu pháo cực mạnh để tiêu diệt các lô cốt, các toà nhà, các ụ súng, và các mục tiêu phòng thủ kiên cố khác. Chúng cũng có khả năng đương đầu với bất kỳ loại xe tăng nào của Đức nếu cần. Một khi nhiệm vụ đột phá đã hoàn thành, những chiếc T-34 nhẹ hơn và có độ cơ động cao hơn sẽ tiếp tục nhiệm vụ

Về chiến thuật, IS-2 thường được triển khai trong các Tiểu đoàn xe tăng tinh nhuệ, các đơn vị này được cử đến bất cứ nơi nào mà Hồng quân gặp phải kháng cự mạnh từ đối phương. Với hỏa lực mạnh mẽ đủ sức tiêu diệt xe tăng PantherTiger I từ xa, cũng như khả năng diệt công sự với đạn nổ hạng nặng, làm cho IS-2 có một vai trò không thể thay thế. Một lữ đoàn xe tăng hạng nặng điển hình có 3 trung đoàn, gồm tổng cộng 65 chiếc IS-2.

Chiến thuật thường được sử dụng là những chiếc IS-2 sẽ đi hàng 2 trong đội hình đột phá, phía trước khoảng 300 - 500 mét là một hàng T-34, và phía sau IS-2 là một loạt những chiếc T-34 khác. Khi đối phương khai hỏa và để lộ vị trí, IS-2 sẽ dùng sức mạnh hỏa lực và khả năng chống chịu tốt để thanh toán những mục tiêu kiên cố và "khó nhằn" như xe tăng hạng nặng, pháo tự hành, các lô cốt pháo chống tăng của Đức... Sau khi các mục tiêu này bị hạ, phòng tuyến đối phương sẽ yếu đi nhiều, lúc đó đội hình xe tăng hạng trung T-34 sẽ tràn tới sau, dùng số lượng đông đảo và tốc độ nhanh để càn quét, tiêu diệt những mục tiêu dễ dàng hơn như bộ binh, ụ súng máy... của Đức, trong khi những chiếc IS-2 sẽ tiếp tục tiến tới phòng tuyến kế tiếp. Chu trình này cứ tiếp tục lặp lại, tạo thành mũi đột phá xe tăng đâm sâu hàng chục km vào phòng tuyến đối phương. Cách phối hợp này đảm bảo tốc độ của mũi đột phá, trong khi lại giảm thiểu được đáng kể thiệt hại cho đội hình xe tăng đột phá bởi vũ khí chống tăng Đức.

IS-2 trong chiến dịch Budapest năm 1945

Khi IS-2 đi vào tham chiến thì quân Đức đã phải lui vào thế phòng thủ, do đó IS-2 chủ yếu đóng vai trò xe tăng đột phá phòng tuyến địch, dùng hỏa lực mạnh để diệt công sự địch và tiêu diệt xe tăng hạng nặng Đức như Panther, Tiger. Đã có một số trận đánh xảy ra giữa IS-2 với xe tăng hạng nặng Đức, thực tiễn chiến đấu cho thấy IS-2 thể hiện ưu thế vượt trội hơn xe tăng Đức.

Trận đánh đầu tiên của IS-2 là vào tháng 2 năm 1944 ở chiến dịch Korsun-Shevchenko, Ukraine. Tại đây, một đơn vị duy nhất gồm 10 chiếc IS-2 của Trung đoàn 72 đã phá hủy không ít hơn 41 xe tăng và pháo tự hành Đức (bao gồm nhiều chiếc Tiger I và pháo tự hành hạng nặng), 3 xe thiết giáp và 10 pháo chống tăng trong một số trận đánh giữa tháng 4 tới đầu tháng 5 năm 1944, trong khi chỉ có 8 chiếc IS-2 bị mất. Lớp giáp phía trước của IS-2 đã được chứng minh là không thể bị bắn thủng bởi pháo 88 mm L/56 của xe tăng Tiger I ở khoảng cách 500 mét hoặc thậm chí gần hơn.

IS-2 đã chạm trán xe tăng hạng nặng kiểu mới Tiger II (Vua Cọp) của Đức vào trung tuần tháng 8/1944, trong chiến dịch chiếm bàn đạp vượt sông Vistula ở Ogledow, Ba Lan. Thời điểm đó, Tiểu đoàn xe tăng hạng nặng 501 của Đức với 20 chiếc Tiger II (Vua Cọp) đã tham gia đánh chặn đội hình vượt sông của Hồng quân. Đây là lần đầu tiên Tiger II tham chiến, với giáp dày và hỏa lực mạnh, Tiger II có được sự kỳ vọng lớn của quân Đức. Song trong trận đánh này, các Tiger II lại bị lực lượng xe tăng IS-2 Liên Xô áp đảo.[29]

Cụ thể, ngày 13 tháng 8, trung đoàn xe tăng hạng nặng độc lập số 71 gồm 11 xe tăng IS-2, phải chống đỡ một cuộc tấn công của 14 xe tăng Tiger II (King Tiger - Vua Cọp) và một số xe Panzer IV thuộc tiểu đoàn tăng Panzer hạng nặng 501. Với pháo lớn hơn hẳn và giáp trước dày, trong trận đấu tăng, các xe IS-2 đã đối đầu trực diện với xe tăng địch và dùng pháo 122mm bắn đạn nổ mạnh (HE) công phá giáp trước của các xe tăng Vua Cọp ở cự ly 1.000 mét. Sau khi trúng đạn nổ HE của IS-2, chấn động rất mạnh khiến giáp trước của Tiger II bị nứt vỡ, các linh kiện trong xe cũng bị hỏng nặng, và đã có 6 chiếc Tiger II bị phá hủy theo cách này. Trong khi đó, pháo 88mm L/71 của xe tăng Vua Cọp lại không thể xuyên được giáp trước của IS-2 từ cự ly này. Các xe Tiger II còn lại buộc phải bỏ vị trí và tháo lui, tạo điều kiện để Hồng quân chiếm bàn đạp, lập đầu cầu vượt sông. Trong số các tổ lái IS-2, thượng úy cận vệ Udalov đã được trao tặng Anh hùng Liên Xô vì thành tích dùng chiếc IS-2 chặn đứng cuộc tấn công của 7 chiếc Tiger II và phá hủy 3 chiếc trong số đó từ cự ly trên 800 mét bằng đạn HE. Ngoài ra còn có IS-2 của thượng úy Klimenkov đã phá hủy 2 chiếc Tiger II, chiếc IS-2 của Trung úy Belyakov phá hủy được 1 chiếc Tiger II sau 3 phát đạn HE từ cự ly 1.000 mét.

Tính cả những trận đánh khác, 14 chiếc Tiger II của Tiểu đoàn 501 đã bị phá hủy chỉ trong 2 ngày 12-13/8/1944 (6 chiếc Tiger II trong số đó là do IS-2 phá hủy), trong khi Liên Xô không bị thiệt hại nào. Theo Dennis Showalter thì pháo 122mm của IS-2 đã hạ những chiếc Tiger II giống như "dùi cui đập vỡ vỏ dừa"[30]

Các trận đấu tăng tiếp tục diễn ra suốt tháng 8 năm 1944 trên đầu cầu Sandomierz. Trong các trận đánh của trung đoàn xe tăng hạng nặng số 71, họ đã phá hủy 17 xe tăng Đức (bao gồm 6 chiếc Tiger II kể trên), 2 pháo tự hành và 3 xe thiết giáp. Thiệt hại của trung đoàn theo nguồn của Nga là 3 xe tăng IS-2 bị phá hủy và 7 chiếc bị hư hại.[31]

Vào tháng 10 năm 1944, trung đoàn xe tăng hạng nặng số 79 đã tổ chức một cuộc đột kích trên sông Narew phía bắc của thành phố Serock. Quân Đức với tổng số hơn 200 xe tăng, cố gắng tấn công loại bỏ các đầu cầu. Ngày 4 Tháng 10/1944, xe tăng hai bên đối đầu nhau. Quân Đức bị mất 5 chiếc PantherTiger I, trong khi Liên Xô mất 1 chiếc IS-2 và một chiếc khác bị hư hại. Ngày 06 tháng 10, thêm 4 xe tăng Liên Xô bị mất, Đức mất 3 xe tăng và 2 xe thiết giáp. Từ ngày 06 đến ngày 09 tháng 10, trung đoàn 79 khéo léo tạo ra một phòng tuyến, họ đã bắn cháy 11 xe tăng đối phương mà chỉ mất duy nhất 1 chiếc IS-2.

Tập tin:ИС - panoramio.jpg
IS-2 trong bảo tàng, phía sau là xe tăng KV-2KV-1

Trung đoàn xe tăng hạng nặng số 78 trong chiến dịch DebrecenHungary, từ ngày 06 đến ngày 31 tháng 10/1944 đã phá hủy 46 xe tăng Đức (trong đó có 6 xe Tiger I, 30 xe Panther, 10 xe Panzer IV), 25 pháo tự hành, 109 pháo, 38 xe bọc thép, 60 ổ súng máy, 2 kho đạn dược và 12 máy bay đậu trên sân bay. Trung đoàn chỉ bị tổn thất 2 chiếc IS-2 do súng chống tăng vác vai Panzerfaust, 16 xe IS-2 khác bị hư hại ở các mức độ khác nhau. Nổi bật nhất là trận đánh trong 2 ngày 16 - 17/10/1944 ở gần thành phố Canar, theo tuyên bố của Nga thì Trung đoàn xe tăng 78 đã phá hủy 12 chiếc xe tăng Panther mà chỉ bị mất 1 chiếc IS-2 bị phá hủy và 2 chiếc khác bị hỏng.[32]


Trong trận đánh vào ngày 15/1/1945, chiếc IS-2 của Trung úy cận vệ Ivan Ivanovich Khitshenko (Иван Иванович Хиценко) thuộc lữ đoàn xe tăng hạng nặng số 30 đã một mình chống lại 10 chiếc xe tăng Tiger của Đức. Chiếc IS-2 đã liên tục bắn hạ 5 xe tăng Tiger của Đức trước khi nó bị trúng đạn và bốc cháy, Khitshenko hy sinh và được truy tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô, Huân chương Lenin vì lòng quả cảm trong chiến đấu.[33]

Trong chiến dịch Vistula-Oder, từ ngày 14 đến ngày 31 tháng 1 năm 1945, Trung đoàn xe tăng hạng nặng số 80 đã phá hủy 19 xe tăng và pháo tự hành của Đức, 41 khẩu pháo, 15 ổ súng máy, 10 súng cối và 12 lô cốt. Trong số 23 chiếc xe tăng IS-2 của trung đoàn tham gia chiến đấu, không có chiếc nào bị phá hủy.

Trong các cuộc chiến đấu vào tháng 3 năm 1945 ở Ba Lan, một trưởng xe xuất sắc của IS-2 là Mikhail Alekseevich Fedotov, chiếc xe tăng IS-2 của ông đã phá hủy 6 xe tăng và pháo tự hành Đức (bao gồm ít nhất 3 chiếc hạng nặng), 11 khẩu pháo, 2 khẩu đội súng cối, 3 xe bọc thép và một số xe cơ giới khác, hạ hơn 100 lính Đức.[34]

Trong chiến dịch Berlin, IS-2 đã thể hiện tốt khả năng yểm trợ bộ binh trong tác chiến đô thị, nó có thể phá hủy mọi tòa nhà, công sự phòng ngự dựa vào đạn HE mạnh mẽ cỡ 122mm. Các trung đoàn IS-2 được chia thành các đơn vị nhỏ gồm 5 chiếc IS-2, mỗi đơn vị tham gia hỗ trợ một đại đội bộ binh tấn công vào phòng tuyến của Đức. Chiến dịch này kéo dài cho đến ngày 2 tháng 5 năm 1945, toàn bộ 800.000 quân Đức bị tiêu diệt hoặc bị bắt làm tù binh, với tổn thất là khoảng 67 chiếc IS-2 bị phá hủy trong chiến đấu, chủ yếu là bởi súng chống tăng bộ binh Panzerfaust.[35]

Để mô tả nỗi ám ảnh khi phải đối mặt với IS-2, lính Đức đặt cho IS-2 một biệt danh là "Dooms", nghĩa là quỷ dữ.

Vị tướng xe tăng Heinz Guderian của Đức đã từng kiểm tra một chiếc IS-2 hư hại bị quân Đức bắt được. Sau khi kiểm tra vỏ giáp và hỏa lực của IS-2, Guderian kết luận rằng "xe tăng Stalin" có sức mạnh như tên gọi của nó (Stalin trong tiếng Nga nghĩa là "Người đàn ông thép"). Ông viết: "Đừng tham gia vào một trận đánh với xe tăng Stalin nếu không có ưu thế áp đảo về số lượng. Tôi tin rằng để hạ mỗi chiếc IS, chúng ta phải huy động toàn bộ một trung đội Tiger (gồm 3-5 chiếc). Bất kỳ một nỗ lực nào nhằm đem Tiger đánh một-chọi-một với IS chỉ có thể dẫn đến sự mất mát một cỗ máy chiến tranh quý giá của Đức". Ngay sau đó, các quy tắc chiến thuật mới đã được đưa ra cho lính tăng Đức: tránh đối đầu trực diện với IS-2 mà phải tìm cách phục kích và khai hỏa bất ngờ, khi bắn phải luôn tìm cách nhắm vào sườn và hông của IS-2 (nơi có vỏ giáp mỏng hơn), và chỉ nên bắn ở cự ly gần.

Chú thích

  1. ^ Tên của dòng xe là viết tắt từ tên Joseph Stalin (tiếng Nga: Иосиф Сталин); IS-2 là cách chuyển tự trực tiếp từ chữ viết tắt tiếng Nga, còn JS-2 là viết tắt theo dạng tiếng Anh hoặc tiếng Đức của tên Stalin.

Tham khảo

  1. ^ "Себестоимость некоторых типов советских танков по годам". tank.uw.ru. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2019.
  2. ^ Soviet Tanks and Combat Vehicles of World War Two (Steven J. Zaloga, James Grandsen) page 176.
  3. ^ Zaloga & Grandsen 1984, tr. 176.
  4. ^ Zaloga 1994, tr. 4.
  5. ^ Zaloga 1996, tr. 44.
  6. ^ Zaloga 1996, tr. 42.
  7. ^ Zaloga 1994, tr. 5.
  8. ^ Zaloga 1996, tr. 45.
  9. ^ Zaloga 1994, tr. 6.
  10. ^ a ă Tolochkov; Volosatov (ngày 12 tháng 9 năm 1944). "Report on the results of testing of the 100 mm and the 122 mm tank guns at the Kubinka proving grounds". The Russian Battlefield. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2014.
  11. ^ Zaloga & Grandsen 1984, tr. 172.
  12. ^ a ă Potapov, Valery (ngày 20 tháng 9 năm 2005). "IS-1 and IS-2 Heavy tanks". The Russian Battlefield (bằng tiếng Nga). Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2017.
  13. ^ a ă â Jentz 1995, tr. 128.
  14. ^ "Was the Tiger really King?". The Russian Battlefield. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2014.
  15. ^ Higgins 2011, tr. 29.
  16. ^ a ă Jentz & Doyle 1993, tr. 19–20.
  17. ^ a ă Zaloga 1994, tr. 12.
  18. ^ Zaloga 1994, tr. 13.
  19. ^ a ă Merriam, Ray (2016). Soviet Heavy Tanks. World War 2 In Review Special. Merriam Press. tr. 5. ISBN 978-1-57638-581-4. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2019.
  20. ^ Bishop, C. (2002). The Encyclopedia of Weapons of World War II. MetroBooks. tr. 4 1. ISBN 9781586637620. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2019.
  21. ^ a ă "D-25 Tank gun". The Russian Battlfield. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2014.
  22. ^ Zaloga 1994, tr. 41.
  23. ^ Zaloga & Grandsen 1984, tr. 175.
  24. ^ Higgins 2011, tr. 74.
  25. ^ Higgins, David R. (2011). King Tiger vs IS-2: Operation Solstice 1945. Bloomsbury Publishing. tr. 28.
  26. ^ Perrett 1987, tr. 20.
  27. ^ Zaloga 1994, tr. 25.
  28. ^ Zaloga 1994, p.16.
  29. ^ "Bronetehnika.narod.ru: IS-2 (page 4)". bronetehnika.narod.ru (bằng tiếng Nga).
  30. ^ Showalter, Dennis (2009), Hitler's Panzers: The Lightning Attacks that Revolutionized Warfare, Penguin, tr. 315, ISBN 978-0425236895
  31. ^ "Bronetehnika.narod.ru: IS-2 (page 5)". bronetehnika.narod.ru (bằng tiếng Nga).
  32. ^ "Bronetehnika.narod.ru: IS-2 (page 6)". bronetehnika.narod.ru (bằng tiếng Nga).
  33. ^ "Khitsenko Ivan Ivanovich". Герои страны (bằng tiếng Nga). WarHeroes.ru.
  34. ^ "Федотов Михаил Алексеевич". Герои страны (bằng tiếng Nga). WarHeroes.ru.
  35. ^ "IS-2 Heavy Tank". Tanks Encyclopedia.

Nguồn