Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Category handler/data' not found.

Trang Mô đun:Infobox/styles.css không có nội dung.

Nghệ sĩ nhân dân
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “If empty”.<div class = "honorific-suffix" style = "font-size: small; font-weight: normal; font-family: serif, Times New Roman, Times;" lang = ""; title="Tên Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “lang”.">
Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:InfoboxImage/data' not found.
Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:InfoboxImage/data' not found.
Bản mẫu:Thông tin viên chức/chức vụ
Bản mẫu:Thông tin viên chức/chức vụ
Bản mẫu:Thông tin viên chức/chức vụ
Bản mẫu:Thông tin viên chức/chức vụ
Bản mẫu:Thông tin viên chức/chức vụ
Thông tin cá nhân
Sinh
Tên khai sinh
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “If empty”.
Ngày sinh
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “If empty”.
Nơi sinh
Đan Phượng, Hà Nội
Quê quán
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “If empty”.
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “If empty”.
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “If empty”.
Ngày Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “If empty”.
Bản mẫu:WDDF
Mất tích
Nơi mất tích
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Separated entries”.
Mất
Thụy hiệu
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “If empty”.
Ngày mất
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “If empty”.
Nơi mất
Hà Nội
Nguyên nhân
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
An nghỉ
Miếu hiệu
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “If empty”.
Ngày an táng
Bản mẫu:WDDF
Nơi an táng
Bản mẫu:Br list
Nơi cư trúBản mẫu:Wdurfl
Giới tínhLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Quốc tịch Việt Nam
Đảng chính trịLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Dân tộcLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Tôn giáoLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Nghề nghiệpCa sĩ
Gia tộcLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Gia đình
Cha
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Mẹ
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Người đỡ đầu
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Anh chị em
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Hôn nhân
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Người tình
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Con cái
Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Bảo trợLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Học vịLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Thầy giáoLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Học sinhLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Wd”.
Lĩnh vựcLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “list”.
Danh hiệuNghệ sĩ nhân dân (1988)
Bản mẫu:Thông tin nghệ sĩ/nguồn
Giải thưởng
Bản mẫu:Br list
Bản mẫu:Br list
Bản mẫu:Br list
Bản mẫu:Br list
Bản mẫu:Br list
Bản mẫu:Collapsible list
Chữ ký
Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:InfoboxImage/data' not found.

Thương Huyền (26 tháng 10 năm 1923 - 18 tháng 7 năm 1989) là một trong những ca sĩ tên tuổi nhất tại miền Bắc Việt Nam vào thập niên 1940 – 1960. Bà là ca sĩ tiên phong của nhiều thể loại như nhạc tiền chiến (trước năm 1945), nhạc cách mạng (sau năm 1945) và đặc biệt là dân ca. Thương Huyền đã được trao tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân vào năm 1988.

Tiểu sử và sự nghiệp

Trước 1945

Bà tên thật là Nguyễn Thị Thường (bà lấy nghệ danh là Thương Huyền). Bà sinh ngày 26 tháng 10 năm 1925) tại xã Thượng Mỗ, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.

Thương Huyền bắt đầu đi hát và nổi danh từ trước Cách mạng tháng Tám. Bà cùng với nghệ sĩ Mai Khanh hát những bài hát tiền chiến của Văn Cao, Phạm Duy... tại quán Tân Nghệ sĩ, Thiên Thai và gây được nhiều tiếng vang. Cùng với Kim Tiêu, Thái Thanh, bà là một trong những nghệ sĩ đầu tiên hát nhạc của Văn Cao với những ca khúc như Suối mơ, Thiên thai, Đàn chim Việt,...

Sau Cách mạng tháng Tám, Thương Huyền trở thành một trong những ca sĩ đầu tiên đi theo cách mạng. Tại sân khấu Nhà hát Lớn Hà Nội, bà đã hát 2 ca khúc Suối mơThiên thai trong buổi khai mạc chương trình Tuần lễ Vàng và Hũ gạo cứu đói do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động.

Thương Huyền đã trở thành nữ danh ca ở Hà Nội tại thời điểm này. Bà hát nhiều thể loại, từ những ca khúc trữ tình, tiền chiến như những ca khúc của Văn Cao, Trào lòng (Nguyễn Văn Khánh), Chinh phụ hoài khúc (Lê Xuân Ái), Hòn vọng phu 1 (Lê Thương), Nhắn người chiến sĩ (Doãn Mẫn)... cho tới những sáng tác cách mạng mới như Nhớ chiến khu, Côn Đảo, Sơn La (Đỗ Nhuận), Tiếng gọi sinh viên, Lên đàng (Lưu Hữu Phước),...

1945-1954

Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Thương Huyền tham gia Đoàn Kịch Giải phóng (có Song Kim, Lưu Bách Thụ, Phạm Văn Đôn, Hoàng Oanh, Phạm Duy, Phạm Đình Viêm (Hoài Trung sau này), Văn Cao, Mai Khanh) theo đoàn đi biểu diễn ở nhiều nơi trên các chiến trường, các khu sơ tán. Năm 1947, bà được mời về công tác tại Đài tiếng nói Việt Namchiến khu Việt Bắc. Tại đây bà đã được thu âm và phát sóng nhiều bài hát như Người Hà Nội (Nguyễn Đình Thi), Cảm tử quân (Hoàng Quý), Mơ đời chiến sĩ (Lương Ngọc Trác), Đoàn Vệ quốc quân (Phan Huỳnh Điểu), Sông Lô, Làng tôi, Ca ngợi Hồ Chủ tịch (Văn Cao), Du kích sông Thao (Đỗ Nhuận)...

Trong thời gian này, bà đã đi học hỏi những làn điệu dân ca, hát chèo của các nghệ sĩ lão thành như Năm Ngũ, Dịu Hương... Bà đóng thành công vai Tấm trong vở chèo Tấm Điền cải biên từ vở Tấm Cám của Thế LữLưu Quang Thuận. Thương Huyền là giọng hát dân ca Bắc Bộ số một trong thập niên 1950 - 1960. Với giọng hát mượt mà, trong sáng tự nhiên và kĩ thuật rung hột (một kĩ thuật điển hình của quan họ) ấn tượng, bà đã thể hiện nhiều ca khúc dân ca Bắc Bộ, đặc biệt là dân ca quan họ Bắc Ninh như "Trống cơm, Hoa thơm bướm lượn, Trèo lên trái núi thiên thai, Lý cây đa...

Sau 1954

Sau khi kháng chiến kết thúc, năm 1954 bà trở về Hà Nội công tác. Bà cùng đội hợp xướng Hòa Bình sang Trung Quốc thu những đĩa hát đầu tiên của Việt Nam. Năm 1957 trong Đại hội Liên hoan Thanh niên và sinh viên lần thứ VI tổ chức tại Moskva, bà đã giành Huy chương Bạc ở cuộc thi hát dân ca quốc tế (đây cũng là lần đầu tiên một ca sĩ Việt Nam giành một giải thưởng quốc tế).Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Category handler/data' not found.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Category handler/data' not found.[<span title="Tuyên bố này cần tham khảo đến các nguồn đáng tin cậy. (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Ngày chuẩn”.)">cần dẫn nguồn]

Thương Huyền là một trong những ca sĩ tên tuổi nhất ở miền Bắc trong thập niên 1950 – 1960. Bà là người thể hiện thành công nhiều ca khúc như: Câu hò bên bến Hiền Lương (Nguyễn Tài Tuệ), Hà Nội - Huế - Sài Gòn (Hoàng Vân), Tình trong lá thiếp (Phan Huỳnh Điểu, hát cùng em ruột Văn Hanh), Đảng là người mẹ hiền (Đỗ Minh), Trăng sáng đôi miền (An Chung), Ánh đèn sáng trên cầu Việt Trì (Hoàng Hà), Đóng nhanh lúa tốt (Lê Lôi), Ru con (dân ca Nam Bộ), Hòa bình tươi vui,...

Với 40 năm ca hát, Thương Huyền là một trong những ca sĩ tiêu biểu của tân nhạc Việt Nam. Bà còn là thầy của nhiều người, trong đó có những nghệ sĩ nổi tiếng như Nghệ sĩ Nhân dân Lê Dung, giảng viên Hồ Mộ La... Bà đã được trao tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú (1984) và Nghệ sĩ nhân dân (1988).

Thương Huyền mất năm 1989 tại Hà Nội.

Thông tin thêm

Trong hồi ký của Phạm Duy, ông đã nhiều lần nhắc đến Thương Huyền. Ví dụ như ở chương 6, chương 7 tập 2. Phạm Duy miêu tả Thương Huyền như một người đàn bà tài năng như đa tình, phóng túng, có tính cách bạt mạng, bất cần đời. Phạm Duy kể lại rằng Thương Huyền là "người tình chớp nhoáng" của ông và hai người đã từng có thời điểm "yêu nhau thắm thiết".

Tham khảo

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.