Thịt chiên xù (tiếng Anh: breaded cutlet hay braised cutlet) là tên gọi về những món ăn được chế biến từ nguyên liệu thịt (thường là thịt thăn hoặc cốt-lết) được phủ một lớp bột mì hoặc bột chiên, vụn bánh mì sau đó chiên ngập dầu hoặc nướng.

Món thịt chiên xù kiểu Ý (Cotoletta alla milanese)

Thịt chiên xù được gọi là schnitzel ở cộng đồng các nước nói tiếng Đức, hay còn gọi là cotolettaÝ, escalopePháp, filete empanado hoặc cachopoTây Ban Nha, filete empanizadoCuba, milanesaMỹ Latinh, tonkatsuNhật Bản, kotlet schabowyBa Lan, řízekCộng hòa Séc, rezeňSlovakiakotletacác nước hậu Xô Viết.

Milanesa

Nam Mỹ

ArgentinaUruguay, thì món milanesa, một món ăn tương tự như schnitzel, là một món ăn điển hình.[1] Tên của nó có nghĩa là "từ Milan". Milanesa được làm từ thịt bò hoặc thịt bê, nhúng vào trứng và sau đó là vụn bánh mì, và chiên, trong khi một milanesa napolitana được phủ lên trên cùng với giăm bông, phô mai mozzarella tan chảy và lát cà chua hoặc sốt cà chua.

Colombia, món ăn được gọi là milanesa hoặc chuleta valluna, và được làm bằng một lát thịt lợn mỏng, tẩm bột và chiên.

Chile, cốt lết tẩm bột được gọi là Climbopa, và nó thường được làm từ thịt bò, thịt lợn hoặc thịt gà. Món ăn này còn được gọi là milanesas, và nó được chế biến bằng cách nướng và chiên những miếng thịt mỏng.

Do ảnh hưởng của văn hóa Ý ở Brazil, thịt chiên xù được gọi là filé à milanesa (bít tết Milan) hoặc bife à milanesa. Nó được tìm thấy dễ dàng trong các nhà hàng đường phố và thường được nấu ở nhà. Khẩu phần thường bao gồm gạo trắng, đậu nâu hoặc muối đen, khoai tây nghiền hoặc khoai tây chiên, rau diếp và salad cà chua. Bánh mì kẹp milanesa có phần ít phổ biến hơn, và cũng có phiên bản parmigiana - filé à milanesa với sốt cà chua, giăm bông và phô mai mozzarella tan chảy.

Cotoletta

Cotoletta có nguồn gốc từ Ý với tên gọi "cotoletta alla milanese" và rất giống với Wiener schnitzel. Tuy nhiên, nó là một cốt lết chứ không phải dascalope, và theo truyền thống được chế biến cùng với xương sườn. Có nguồn gốc từ Milan, giờ đây nó có thể được tìm thấy khắp cả nước.

Ở Tây Ban Nha, cốt lết tẩm bột chiên thường được gọi là "escalope milanesa" trong các nhà hàng khi được phục vụ kèm khoai tây chiên và một lát chanh. Khi ăn kèm với bánh mì sandwich, nó được gọi đơn giản là "filete empanado". Nó thường được làm từ thịt bê hoặc thịt bò. Thịt gà được gọi là "pollo empanado", và thịt lợn thì không phổ biến.

Cotoletta được ghi nhận lần đầu tiên vào năm 1148 (kho lưu trữ Saint Ambrose, Milan) bằng tiếng Latin, với tên gọi "Lumbolos cum panicio".

Otbivnaya

Một phiên bản khác của món cốt lết kiểu Nga, được gọi là "otbivnaya kotleta" (отбивная котлета), nghĩa là "cốt lết đập dẹt", là một lát thịt chiên, thường là thịt lợn hoặc thịt bò, được đập dẹt bằng búa hoặc cán dao và phủ lên trên bằng trứng đánh tan, bột hoặc vụn bánh mì. Công thức chế biến tương tự như món escalopes, schnitzel, cốt lết kiểu Ba Lan hoặc Mỹ. Ngày nay, món ăn này chỉ đơn giản được gọi là "otbivnaya", còn từ "kotleta" được dành riêng cho các loại chả thịt băm.

Schnitzel

 
Wiener schnitzel

Schnitzel (phát âm tiếng Đức: [ˈʃnɪtsl̩] <phonos file="de-Schnitzel.ogg"></phonos>) là món thịt cốt lết tẩm bột chiên xù, được làm từ thịt không xương, thái mỏng bằng búa (như cách chuẩn bị món escalope), phủ vụn bánh mì và chiên giòn. Ở Áo, món ăn gọi là "Wiener Schnitzel" (Viennese schnitzel) được làm từ thịt bê và theo truyền thống được trang trí với một lát chanh và salad khoai tây hoặc khoai tây với mùi tây.

Ở Áo và Đức, thuật ngữ "Wiener Schnitzel" được bảo hộ bởi luật pháp và món schnitzel phải được làm từ thịt bê.[2] Ngoài ra còn có các phiên bản schnitzel theo vùng miền, chẳng hạn như schnitzel Salzburger, được nhồi với nấm ăn được, thịt xông khói, hành tây và nhiều loại thảo mộc khác.

Tonkatsu

 
Các món cốt lết tẩm bột chiên rất phổ biến trên toàn thế giới. Katsu là tên tiếng Nhật của món cốt lết tẩm bột chiên, còn tonkatsu là tên gọi của món cốt lết thịt lợn.

Ở Nhật Bản, "tonkatsu" là món cốt lết lợn chiên giòn được tẩm vụn bánh mì panko.[3] Katsu Các loại thịt khác được chế biến theo cách tương tự bao gồm gà "katsu",[4] gyū katsu[5] hoặc bifukatsu (bò) và menchi-katsu (thịt băm).[6] Katsukarē là món cà ri Nhật Bản có phần đi kèm là tonkatsu.[6]

Hawaii, gà rán "katsu" là một phần của ẩm thực địa phương.

Hàn Quốc, cốt lết heo được gọi là donkasu, có nguồn gốc từ món "tonkatsu" của Nhật Bản. Các loại "donkasu" phổ biến nhất là "kyeongyangsik" (kiểu phương Tây) và "ilbonsik" (kiểu Nhật).

Trung QuốcĐài Loan, cốt lết heo được gọi là "zhu-pai", và là một món ăn phổ biến trong các nhà hàng có nguồn gốc từ ảnh hưởng của Nhật Bản. "Zhu-pai" thường được ăn kèm với cơm và rau như bông cải xanh hoặc ớt chuông. Một loại cốt lết khác ở Đài Loan, "ji-pai", được làm từ thịt gà và thường được tìm thấy ở các chợ đêm.

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ "La verdad de la milanesa - 15.01.1999 - lanacion.com". Lanacion.com.ar. ngày 15 tháng 1 năm 1999. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2012.
  2. ^ "Wiener Schnitzel". Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2012.
  3. ^ Oda, Makiko (ngày 5 tháng 8 năm 2019). "Real Tonkatsu (Deep-fried Pork) Recipe (とんかつ)". NHK World-Japan. NHK. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2021.
  4. ^ "Bento expo – bento recipes & topics Season 6". NHK World-Japan (bằng tiếng Anh). NHK. 2021. Episode 1 Season 6 Chicken katsudon bento. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2021.
  5. ^ "Pleased to Meat You: Beef in Japan". NHK World-Japan. NHK. ngày 27 tháng 6 năm 2016. Page 3: New beef boom. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2021.
  6. ^ a b Eisenhauer, Matt (ngày 14 tháng 2 năm 2019). "Dipped, Breaded, and Fried – Tonkatsu". NHK World-Japan. NHK. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2021.