Trần Thanh Đạt
Trần Thanh Đạt (04 tháng 02 năm 1891 – 29 tháng 09 năm 1968),[1] trước tên Trần Công Toại, tự Lương Khanh, hiệu Nhược Thuỷ là một vị quan dưới thời nhà Nguyễn.
Trần Thanh Đạt | |
|---|---|
| Tập tin:Trần Thanh Đạt (1947).jpg Trần Thanh Đạt khi tham dự Hội nghị Hương Cảng năm 1947 | |
| Thông tin cá nhân | |
| Sinh | Trần Công Toại 4 tháng 2 năm 1891 Thừa Thiên, Đại Nam |
| Mất | 29 tháng 9, 1968 (77 tuổi) Huế, Việt Nam Cộng hòa |
| Phối ngẫu | Đặng Thị Huề (cưới 1907) |
| Con cái | 11 |
| Mẹ | Hoàng Thị Điểu |
| Cha | Trần Nhã |
| Nghề nghiệp | Quan chức |
Tiểu sử
Trần Thanh Đạt người phủ Thừa Thiên, cha là Quang lộc tự khanh Trần Nhã và mẹ là bà Hoàng Thị Điểu. Ông sinh ngày 4 tháng 2 năm 1891, là con thứ 7 trong gia đình.[2]
Năm 1903, ông vào học trường Quốc học Huế. Ông học 4 năm qua 6 lớp. Ngày 27 tháng 7 năm 1907 (ngày 18 tháng 6 năm Đinh Mùi), ông kết hôn với bà Đặng Thị Huề là con gái thứ tư của Thượng thư bộ Lễ Đặng Văn Liên. Hai người có 11 con (gồm 4 trai và 7 gái). Tháng 6 năm 1907, ông thi đỗ Cao Đẳng Cụ Thể văn bằng.
Tháng 8 năm 1907, ông được sơ bổ làm thư ký tạm ngạch tại Tòa Khâm Sứ ở Huế. Thăng thực thụ thư ký tháng 1 năm 1908. Năm 1918, thăng Nhất Hạng Thư ký. Tháng 9 năm 1919, có mở trường Cao-Đẳng Pháp-Chánh, ông thi đậu vào học năm thứ nhất. Tháng 10 năm 1922, ông tốt nghiệp. Tại Huế có mở trường đại học tên là Uyên-Bác Đại-học, ông cũng thi đổ. Năm 1924, ông tốt nghiệp đệ nhất danh.[2] Năm 1925, lấy hàm Thị-Giảng Học-Sĩ, cải bổ về Nam triều tạm phái Bộ Lại. Tháng 9 năm 1925 lãnh Tri phủ Quảng Ninh, Quảng Bình. Năm 1928, về Quảng Nam làm Tri phủ Thăng Bình.
Sau 6 tháng, ông phụng chỉ về kinh sung Cơ Mật Viên-Ngoại (tháng 7 năm 1928). Tháng 2 năm 1929, thăng Thị Độc Học Sĩ. Tháng 6 năm 1931, thăng Quang lộc tự khanh, cải bổ Quản đạo Đà Lạt. Năm 1932, cải bổ Án sát Quảng Nam. Tháng 2 năm 1933 lãnh Thương tá Cơ Mật. Tháng 5 cùng năm, thăng Thị lang Bộ Quốc Gia Giáo-Dục. Tháng 4 năm 1935, thăng Tham tri Bộ Quốc Gia Giáo Dục.[2] Tháng 2 năm 1940, cải bổ Tuần vũ Bình Thuận.[3] Tháng 5 năm 1942 thăng Thượng thư Bộ Quốc Gia Giáo Dục.
Tháng 4 năm 1944, ông được thăng Hiệp Tá Đại-Học-Sĩ, Cơ Mật Viện Đại Thần, Thượng thư Bộ Giáo Dục, sung Quốc Sử Quán Tổng Tài, kiêm Quản Văn Thơ-Viện.[2] Tháng 2 năm 1945, ông đi Khâm sai ra Nghệ An, Hà Tĩnh. Năm 1945, người Nhật tiến hành đảo chính Pháp vào ngày 9 tháng 3 trên toàn Đông Dương, và theo yêu cầu từ phía Nhật, Hoàng đế Bảo Đại tuyên bố "độc lập" cho nước Việt Nam và thành lập Đế quốc Việt Nam. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Trần Thanh Đạt đệ đơn từ chức khỏi nội các và đến Đà Lạt. Sau khi nhà Nguyễn sụp đổ, Hoàng đế Bảo Đại lưu vong ra nước ngoài, Trần Thanh Đạt đã nỗ lực khôi phục lại chế độ quân chủ và đưa Bảo Đại lên ngôi vua lần nữa. Năm 1949, Hoàng đế Bảo Đại thành lập Quốc gia Việt Nam rồi giữ chức Quốc trưởng, Trần Thanh Đạt cũng tham gia chính phủ này. Năm 1951, ông giữ chức vụ Chủ tịch Giám-Sát-Viện, rồi Chủ tịch Hội-Đồng Quốc-Gia Liên-Hiệp. Năm 1955, chế độ quân chủ bị bãi bỏ hoàn toàn, và Hoàng đế Bảo Đại lại lưu vong ra nước ngoài lần nữa. Trần Thanh Đạt khi này về hưu, rồi trở về quê nhà Huế sống những năm tháng cuối đời.[2]
Ông mất ngày 29 tháng 9 năm 1968 tại nhà riêng ở Huế.[2]
Khen thưởng
- Đại Nam Long tinh hạng Quan Chỉ huy[4]
Tham khảo
- ^ "越南右翼代表在港舉行會議" [Đại biểu cánh hữu Việt Nam cử hành hội nghị tại Hương Cảng]. Nam Dương thương báo (bằng tiếng Trung). ngày 18 tháng 3 năm 1948. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2022.
- ^ a b c d e f "Tộc sử họ Trần Công và việc di cấu Từ Đường từ Tiên-Nộn lên Dương-Xuân" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2016.
- ^ "Di cấu từ đường của Cụ TRẦN THANH ĐẠT". Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2016.
- ^ Gouvernement général de l'Indochine (1943). Souverains et notabilités d'Indochine (bằng tiếng Pháp). Hà Nội: I.D.E.O. tr. 16–17. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2022.