Bước tới nội dung

Nghệ An

19°10′35″B 104°58′38″Đ / 19,176301°B 104,977112°Đ / 19.176301; 104.977112
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Trang Bản mẫu:Nhiều vấn đề/styles.css không có nội dung.

Nghệ An
Tỉnh
Tập tin:Logo tỉnh Nghệ An.svg
Biểu trưng

Tên khácXứ Nghệ (cùng với Hà Tĩnh)
Biệt danhQuê hương Bác Hồ
Đất học miền Trung
Hành chính
Quốc gia Việt Nam
VùngBắc Trung Bộ
Trung tâm hành chínhPhường Trường Vinh
Phân chia hành chính11 phường, 119 xã
Lịch sử hình thành
Thành lập1831
Tổ chức lãnh đạo
Bí thư Tỉnh ủyNguyễn Khắc Thận
Chủ tịch UBNDVõ Trọng Hải
Hội đồng nhân dân83 đại biểu
Chủ tịch HĐNDHoàng Nghĩa Hiếu
Chủ tịch UBMTTQVõ Thị Minh Sinh
Chánh án TANDTrần Ngọc Sơn
Viện trưởng VKSNDBùi Việt Cường
Địa lý
Tọa độ: 19°10′35″B 104°58′38″Đ / 19,176301°B 104,977112°Đ / 19.176301; 104.977112
Bản mẫu:MaplinkBản đồ tỉnh Nghệ An
Vị trí tỉnh Nghệ An trên bản đồ Việt Nam
Vị trí tỉnh Nghệ An trên bản đồ Việt Nam
Vị trí tỉnh Nghệ An trên bản đồ Việt Nam
Diện tích16.486,50 km²[1]
Dân số (31/12/2024)
Tổng cộng3.831.694 người[1]
Mật độ232 người/km²[1]
Dân tộcKinh, Khơ Mú, Thái, Thổ, H'Mông...
Kinh tế (2025 [2])
GRDP236.500 tỉ đồng (9,4 tỉ USD) [2]
GRDP đầu người61,72 triệu đồng (2.455 USD) [2]
Khác
Mã địa lýVN-22
Mã hành chính40[3]
Mã bưu chính46xxxx-47xxxx
Mã điện thoại238
Biển số xe37
Websitenghean.gov.vn

Bản mẫu:Thông tin đơn vị hành chính Việt Nam/cat

Nghệ An (hay Xứ Nghệ) là một tỉnh ven biển gần cực bắc thuộc vùng Bắc Trung Bộ, miền Trung Việt Nam.

Theo dữ liệu sau đợt Sáp nhập tỉnh, thành Việt Nam 2025, Nghệ An có diện tích: 16.487 km², xếp thứ 4; dân số: 3.831.694 người, xếp thứ 13; GRDP 2024: 216.943.727 triệu VNĐ, xếp thứ 20; thu ngân sách 2024: 25.443.225 triệu VNĐ, xếp thứ 17; thu nhập bình quân: 55,40 triệu VNĐ/năm, xếp thứ 19 cả nước.[4][5]

Trước đây, Nghệ An cùng với Hà Tĩnh có cùng một tên chung là Hoan Châu (trước đời Nhà Lý), Nghệ An châu (đời Nhà Lý, Trần), xứ Nghệ (năm 1490, đời vua Lê Thánh Tông), rồi trấn Nghệ An. Năm 1831, vua Minh Mạng chia trấn Nghệ An thành 2 tỉnh: Nghệ An (bắc sông Lam) và Hà Tĩnh (nam sông Lam). Từ 1976 đến 1991, Nghệ An và Hà Tĩnh sáp nhập thành tỉnh Nghệ Tĩnh. Từ năm 1991, Nghệ Tĩnh lại tách ra thành 2 tỉnh là Nghệ An và Hà Tĩnh như hiện nay.

Nguồn gốc tên gọi

Tên gọi "Nghệ An" (chữ Hán: 乂安) bắt đầu xuất hiện từ năm Thiên Thành thứ 2 (1030) thời nhà Lý. Trong đó chữ 乂 (Nghệ) nghĩa là cai trị, 安 (An) nghĩa là yên ổn. Như vậy, có thể hiểu vua nhà Lý đặt tên gọi Nghệ An với hàm ý "cai trị cho yên ổn", vì vùng đất Nghệ An (bao gồm cả tỉnh Hà Tĩnh ngày nay) chính là vùng biên cương phía Nam của nước Đại Việt khi đó.

Lịch sử

Theo lịch sử, Nghệ An từng là thủ đô của 2 triều đại trong lịch sử Việt Nam: triều đình Mai Thúc Loannhà Tây Sơn.

Nghệ An là một vùng đất có lịch sử định cư lâu đời. Các di chỉ thuộc Văn hóa Quỳnh Văn thuộc thời kỳ đồ đá mới được phát hiện tại Quỳnh Lưu vào những năm 1930 cho thấy khu vực này đã được định cư bởi nhóm cư dân ven biển biết làm đồ gốm, thuần dưỡng gia súc cách đây khoảng 6000 năm. Giai đoạn hậu đồ đá mới có các di chỉ như Hang Thẩm Hoi, hang Đồng Trương... Nghệ An cũng là địa bàn sinh sống của cư dân Đông Sơn với di chỉ Làng Vạc. Tại đây vào năm 1991, phát hiện được tổng cộng 347 ngôi mộ cổ. Làng Vạc là khu mộ táng lớn nhất, có mật độ cao nhất trong văn hóa Đông Sơn.

Theo truyền thuyết, thời Hùng Vương đây là vùng sinh sống của bộ lạc Việt Thường với trung tâm là vùng chân núi Hồng Lĩnh, thì vùng Nghệ An và Hà Tĩnh vốn thuộc nước Việt Thường thủ đôkinh Đô Ngàn Hống chân núi Hồng Lĩnh. Đến thời Hùng Vương, bộ Việt Thường là một trong 15 bộ lạc của nước Văn Lang cổ, sau này trở thành bộ Hoài Hoan và bộ Cửu Đức trong 15 bộ của nước Văn Lang.

Thời An Dương Vương (khoảng thế kỷ 3 trước Công nguyên), Nghệ An là vùng đất phên dậu phòng thủ nằm ở phía nam của nước Âu Lạc. Khi quân Triệu Đà tấn công, không giữ được thành Cổ Loa, An Dương Vương đã cùng con gái Mỵ Châu cưỡi ngựa chạy về phía chân Núi Mộ Dạ. Tương truyền, bãi biển xã An Châu và dãy núi Mộ Dạ Nghệ An chính là nơi cha con vua An Dương Vương dừng bước, vua đã gọi thần Kim Quy rồi đã rút gươm chém Mỵ Châu rồi đi xuống biển tự vẫn. Đền Cuông ở Núi Mộ Dạ là nơi thờ tự An Dương Vương nằm trên núi Mộ Dạ (xã An Châu, tỉnh Nghệ An) theo lịch sử Việt Nam.

Thời kỳ Bắc thuộc, vùng Nghệ An nhiều lần được thay đổi hành chính. Thời nhà Hán, thuộc huyện Hàm Hoan thuộc quận Cửu Chân. Đời nhà Tấn là quận Cửu Đức. Đời nhà Tùy là Hoan Châu (năm 598); là quận Nhật Nam (605-618). Năm 628 đổi là Đức Châu, rồi lại đổi thành Châu Hoan, lại Châu Diễn. Đời nhà Đường là quận Nam Đức. Thời nhà Ngô, tách ra khỏi quận Cửu Chân đặt làm quận Cửu Đức.

Năm 723, Mai Thúc Loan là vị vua lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống nhà Đường (Trung Quốc), đóng kinh đô ở Hoan Châu, Nghệ An làm kinh đô để kháng chiến.

Thời kỳ độc lập, thời nhà Đinh, nhà Tiền Lê gọi là Hoan Châu. Năm 1030 (năm Thiên Thành thứ 3 đời Lý Thái Tông), bắt đầu gọi là châu Nghệ An.[6] Năm Long Khánh 3 (1375) đời Trần Duệ Tông đổi Diễn Châu làm lộ Diễn Châu, đổi Hoan Châu làm các lộ Nhật Nam. Năm 1397, Trần Thuận Tông đổi trấn Nghệ An làm trấn Lâm An và đổi trấn Diễn Châu làm trấn Vọng Giang. Đời Hồ Hán Thương, năm Khai Đại 1 (1403) đổi trấn Diễn Châu làm phủ Linh Nguyên. Từ năm 1490 gọi là xứ Nghệ An. Thời Tây Sơn, gọi là Nghĩa An trấn. Năm đầu niên hiệu Gia Long lại đặt làm Nghệ An trấn.

Năm 1406, Hoàng Đế Chu Đệ nhà Minh cho quân xâm lược Đại Ngu, nước Việt bị sát nhập vào Đại Minh (Trung Quốc). Sau đó các tướng Nghệ An tôn Trùng Quang Đế lên ngôi vua, tái lập nhà Trần (sử gọi là nhà Hậu Trần) để đánh đuổi quân Minh. Nghệ An là nơi đóng quân và chiêu mộ binh sĩ rất quan trọng của nhà Hậu Trần. Sau đó cuộc kháng chiến của nhà Hậu Trần thất bại, rồi Lê Lợi phát động khởi nghĩa Lam Sơn. Cuộc khởi nghĩa ban đầu gặp nhiều thất bại, trước tình thế hiểm nghèo Lê Lợi cùng các tướng Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Nguyễn Chích đã bàn mưu chiếm tỉnh Nghệ An để đặt Đại bản doanh tại Thành Nghệ An để chiêu mộ binh sĩ. Sau này, quân Lam Sơn tấn công ra bắc giành thắng lợi, nhà Hậu Lê thành lập. Thời Hậu Lê, tỉnh này thuộc Nghệ An thừa tuyên.

Cương thổ Nghệ An Đại Việt thời Lê Thánh Tông (1460-1497), bao gồm xứ Bồn Man và lãnh thổ mới chiếm được từ Chiêm Thành. Màu đỏ nhạt là lãnh thổ chiếm được trong thời gian ngắn trong cuộc chiến tranh Đại Việt-Lan Xang. Màu xanh nhạt là ba vương quốc của người Chăm.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm 1460, Nguyễn Xí làm binh biến đưa Lê Tư Thành lên làm hoàng đế, tức Lê Thánh Tông. Ông cử quân chinh phạt các nước láng giềng và thắng lợi, Đại Việt trở thành cường quốc. Xứ Bồn Man trước thế kỷ 15 là vương quốc cổ tiếp giáp Nghệ An, vua Bồn ManCầm Công bị đánh bại và phải thần phục Đại Việt, vua Lê Thánh Tông liền lập phủ Trấn Ninh và sáp nhập vào Nghệ An, chia đất ấy thành 7 huyện. Sau Chiến tranh Đại Việt – Lan Xang (1479–1480), các sự kiện ở Bồn Man không được lịch sử Đại Việt ghi chép cụ thể, nhưng sử Việt ghi nhận vùng này tiếp tục triều cống vàng bạc và nhiều thứ khác đúng quy định triều đình trong hơn 300 năm, đất rộng dân đông đứng đầu trong các Man (vùng đông người dân tộc thiểu số)[7] Năm Hồng Đức thứ 21, nhà Hậu Lê đổi thừa tuyên Nghệ An thành xứ Nghệ.

Trong thời kỳ TrịnhNguyễn phân tranh (1627–1672), vùng Nghệ An đóng vai trò là tiền tuyến chiến lược. Nơi đây là chiến trường đẫm máu với 7 lần giao tranh ác liệt, quân Trịnh thường tấn công vượt sông Lam, trong khi quân Nguyễn lấy đây làm bàn đạp tiến ra bắc, tuyến đầu ranh giới chính thức giữa Đàng TrongĐàng Ngoài là sông Gianh (Quảng Bình), tuy nhiên, do địa thế trọng yếu, quân Nguyễn thường tiến quân vượt sông Gianh và đánh chiếm các vùng đất thuộc Nghệ An.

Năm 1778, Tây Sơn tam kiệt nổi dậy, đánh bại cả 2 thế lực Trịnh - Nguyễn, thống nhất nước Đại Việt. Nguyễn Nhạc là vị hoàng đế sáng lập ra Nhà Tây Sơn và ở ngôi hoàng đế. Từ năm 1788, Nguyễn Nhạc nhường ngôi hoàng đế và giao lại lãnh thổ cho em trai là Nguyễn Huệ. Anh em nhà Tây Sơn có quê gốc ở Hưng Nguyên, Nghệ An.

Năm 1788, Quang Trung truyền chiếu chỉ cho La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp xây dựng Thủ đô của nhà Tây Sơn đặt tại Nghệ An.

Bị Gia Long cắt một phần cho Lào

Năm 1802, Nguyễn Ánh cầu viện vua Xiêm La (nay là Thái Lan) để có thêm lực lượng đánh nhà Tây Sơn. Vua Xiêm cử 5.000 quân, phối hợp cùng quân Vạn Tượng (nay là Lào) sang xâm lược, đánh vào vùng Nghệ An. Sử nhà Nguyễn (Đại Nam thực lục) chép ngắn gọn sự kiện Xiêm La và Vạn Tượng xâm chiếm Bắc Trung Bộ năm 1802 như sau[8]:

Lần cầu viện Xiêm La - Vạn Tượng này của Nguyễn Ánh đã để lại hậu quả lâu dài về lãnh thổ cho Việt Nam, Nguyễn Ánh xưng hoàng đế thành lập nước Việt Nam sử sách chép Nước Việt Nam có tên từ đây chỉ ít lâu sau, Nguyễn Ánh đã đồng ý cắt Trấn Ninh, Trấn Biên, Trấn Định, Trấn Tĩnh (rộng khoảng 50.000 km2) cho nước Vạn Tượng để đền đáp việc nước này giúp đánh nhà Tây Sơn, khiến lãnh thổ miền Bắc Trung Bộ Việt Nam bị thu hẹp lại một nửa.

Bản đồ vùng Trấn Ninh, Trấn Biên, Trấn ĐịnhTrấn Tĩnh khi còn thuộc về Đại Việt

Thời nhà Hậu Lênhà Tây Sơn, các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh có diện tích lớn gấp đôi hiện nay. Nhưng năm 1802, ngay sau khi lên ngôi, vua Gia Long (Nguyễn Ánh) đã đem đất Trấn Ninh, Trấn Biên, Trấn ĐịnhTrấn Tĩnh cắt cho nước Vạn Tượng (nay là Lào) để đền đáp việc nước này giúp Gia Long đánh nhà Tây Sơn. Sự việc này được chép ngắn gọn trong Đại Nam nhất thống chí:[9]

Khâm định Việt sử Thông giám cương mục viết:[10]

Như vậy sau hơn 300 năm được Đại Việt tuyên bố chủ quyền dưới thời nhà Hậu Lênhà Tây Sơn, các vùng Trấn Biên, Trấn Ninh, Trấn Định, Trấn Tĩnh (rộng khoảng 50.000 km2) đã bị cắt cho Vạn Tượng. Tính đến nay thì đây là vùng lãnh thổ lớn nhất mà Việt Nam bị mất, và đặc biệt hơn nữa là vùng này bị mất không phải do bị xâm chiếm mà là do vua Việt Nam tự ý cắt cho nước ngoài.

Thời nhà Nguyễn và Pháp thuộc

Tập tin:Flag of Nguyen dynasty's administrative unit - Nghe An.png
Cờ tỉnh Nghệ An thời nhà Nguyễn
  • Hoàng đế Minh Mạng tái sát nhập lãnh thổ vào Đại Nam

Đến năm 1828, Vạn Tượng bị Xiêm La đánh phá, các vùng lãnh thổ Trấn Biên, Trấn Ninh, Trấn Định, Trấn Tĩnh được Minh Mạng tái sáp nhập vào Nghệ An, Thanh Hóa.

Địa giới tỉnh Nghệ An dưới thời vua Minh Mạng (năm 1838).

Năm 1831, vua Minh Mệnh chia trấn Nghệ An thành 2 tỉnh: Nghệ An (phía Bắc sông Lam); Hà Tĩnh (phía nam sông Lam). Sau đó hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh sáp nhập lại, lấy tên là tỉnh An Tĩnh.

  • Người Pháp cắt một số các phủ huyện thuộc tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh thuộc xứ trung kỳ Việt Nam cho Lào

Đến thời Pháp thuộc thì một số vùng ở đây lại bị Pháp cắt sang cho nước Lào. Những vụ cắt đất này đã khiến cho vùng Bắc Trung Bộ nước Việt Nam bị co lại rất hẹp, gây khó khăn cho quốc phòng, cũng như mất quyền kiểm soát một lưu vực lớn của sông Mê Kông chảy qua cao nguyên Lào, khiến cho Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay gặp nhiều bất lợi.

Trong thời kỳ thuộc địa, người Pháp đã cắt một số các phủ huyện thuộc tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh thuộc xứ Trung Kỳ cho Lào thuộc khối liên bang đông dương pháp vào các năm 1895 và 1903, bao gồm các vùng: phủ Trấn Biên (khoảng phía Đông Nam tỉnh Hủa Phăn), phủ Trấn Ninh (Xiêng Khoảng), (phủ Trấn Định (Borikhamxay, Khăm Muộn)...

Thời hiện đại

Tập tin:Province de Nghe-An (1909).jpg
Bản đồ tỉnh Nghệ An năm 1909

Sau năm 1954, tỉnh Nghệ An có tỉnh lị là thị xã Vinh và 12 huyện: Anh Sơn, Con Cuông, Diễn Châu, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Nghi Lộc, Nghĩa Đàn, Quỳ Châu, Quỳnh Lưu, Thanh Chương, Tương Dương, Yên Thành.

Ngày 17 tháng 5 năm 1961, chia huyện Tương Dương thành 2 huyện: Tương DươngKỳ Sơn.

Ngày 19 tháng 4 năm 1963, chia huyện Anh Sơn thành 2 huyện: Anh Sơn và Đô Lương; chia huyện Quỳ Châu (cũ) thành 3 huyện: Quỳ Châu, Quỳ HợpQuế Phong; thành lập huyện Tân Kỳ từ một phần 2 huyện Nghĩa ĐànAnh Sơn; chuyển thị xã Vinh thành thành phố Vinh.

Năm 1991, tỉnh Nghệ Tĩnh tách ra thành Nghệ An và Hà Tĩnh. Khi tách ra, tỉnh Nghệ An có 18 đơn vị hành chính gồm thành phố Vinh (tỉnh lỵ) và 17 huyện: Anh Sơn, Con Cuông, Diễn Châu, Đô Lương, Hưng Nguyên, Kỳ Sơn, Nam Đàn, Nghi Lộc, Nghĩa Đàn, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Quỳnh Lưu, Tân Kỳ, Thanh Chương, Tương Dương, Yên Thành.[11]

Ngày 13 tháng 8 năm 1993, thành phố Vinh được công nhận là đô thị loại II.[12]

Ngày 29 tháng 8 năm 1994, thành lập thị xã Cửa Lò trên cơ sở tách 1 phần diện tích và dân số của huyện Nghi Lộc.[13]

Ngày 15 tháng 11 năm 2007, thành lập thị xã Thái Hòa trên cơ sở tách 1 phần diện tích và dân số của huyện Nghĩa Đàn.[14]

Ngày 5 tháng 9 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1210/QĐ-TTg công nhận thành phố Vinh là đô thị loại I.[15]

Ngày 12 tháng 3 năm 2009, Bộ Xây dựng ban hành Quyết định số 234/QĐ-BXD về việc công nhận thị xã Cửa Lò là đô thị loại III.

Ngày 3 tháng 4 năm 2013, thành lập thị xã Hoàng Mai trên cơ sở tách 1 phần diện tích và dân số của huyện Quỳnh Lưu. Từ đó, tỉnh Nghệ An có 1 thành phố, 3 thị xã và 17 huyện.[16]

Ngày 24 tháng 10 năm 2024, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1243/NQ-UBTVQH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã của tỉnh Nghệ An giai đoạn 2023 - 2025. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 12 năm 2024:[17]

  • Điều chỉnh một phần diện tích và dân số của thành phố Vinh và huyện Nghi Lộc
  • Sáp nhập thị xã Cửa Lò vào thành phố Vinh.

Từ đó, tỉnh Nghệ An có 1 thành phố Vinh (tỉnh lị); 2 thị xã: Hoàng Mai, Thái Hòa và 17 huyện: Anh Sơn, Con Cuông, Diễn Châu, Đô Lương, Diễn Châu, Đô Lương, Hưng Nguyên, Kỳ Sơn, Nam Đàn, Nghi Lộc, Nghi Lộc, Nghĩa Đàn, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Quỳnh Lưu, Tân Kỳ, Thanh Chương, Tương Dương, Yên Thành.

Ngày 1 tháng 7 năm 2025, giải thể toàn bộ các đơn vị hành chính cấp huyện/thị xã của tỉnh Nghệ An theo Nghị quyết số 203/NQ-UBTVQH15 và sắp xếp lại để có 130 đơn vị hành chính cấp (11 phường và 119 xã) theo Nghị quyết số 1678/NQ-UBTVQH15.[18]

Địa lý

Địa giới tỉnh Nghệ An dưới thời vua Minh Mạng (năm 1838).

Hành chính Nghệ An Việt Nam thời Minh Mạng năm 1838 biên giới Nghệ An Giáp Thái Lan , phía Đông giáp biển đôngĐảo Hải Nam Trung Quốc, phía bắc giáp Thanh Hóa phía nam giáp Hà Tĩnh.

Trung tâm hành chính của tỉnh là phường Trường Vinh (trước đó gọi là Thành phố Vinh), nằm cách thủ đô Hà Nội 291 km về phía nam.[19]

Diện tích của tỉnh khoảng 16.486,49 km².[20]

Các điểm cực của tỉnh Nghệ An:

Tỉnh có địa hình đa dạng: đồi núi, trung du, đồng bằng và ven biển. Phía Tây là dãy núi Bắc Trường Sơn. Tỉnh có 10 huyện miền núi, trong số đó 5 huyện là miền núi "cao".[21]

Tập tin:Sông Giăng - KDL Sinh thái Pha Lài.jpg
Sông Giăng trong KDL sinh thái Pha Lài, nằm trong vườn quốc gia Pù Mát

Điều kiện tự nhiên

Tập tin:Sông Giăng - KDL Sinh thái Pha Lài.jpg
Sông Giăng trong KDL sinh thái Pha Lài, nằm trong vườn quốc gia Pù Mát

Nghệ An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt là hè và đông. Từ tháng 4 đến tháng 8 dương lịch hàng năm, tỉnh chịu ảnh hưởng của gió phơn tây nam khô và nóng. Vào mùa đông, chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc lạnh và ẩm ướt. Nghệ An có đường biên giới với Lào dài 419 km, là tỉnh có đường biên giới dài trên bộ dài nhất Việt Nam.

Bản mẫu:Weather box

Hành chính

Tập tin:Nghệ An 1.jpg
Đầu đường Trần Phú, thành phố Vinh

Tỉnh Nghệ An có 130 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 11 phường và 119 xã.

Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Nghệ An[22]
Tên Diện tích

(km²)

Dân số

(người)

Phường (11)
Cửa Lò 29,09 64.760
Hoàng Mai 79,67 44.474
Quỳnh Mai 40,50 57.988
Tân Mai 51,61 33.894
Tây Hiếu 43,96 24.698
Thái Hòa 27,09 26.916
Thành Vinh 15,54 123.507
Trường Vinh 34,22 141.477
Vinh Hưng 25,47 60.159
Vinh Lộc 38,86 68.086
Vinh Phú 23,04 74.473
Xã (119)
An Châu 34,87 43.437
Anh Sơn 196,65 29.539
Anh Sơn Đông 65,85 16.214
Bạch Hà 79,28 39.332
Bạch Ngọc 72,20 29.021
Bắc Lý 109,17 5.552
Bích Hào 147,06 33.960
Bình Chuẩn 182,19 4.638
Bình Minh 91,08 37.031
Cam Phục 162,43 7.412
Cát Ngạn 59,28 22.995
Châu Bình 130,91 11.038
Châu Hồng 134,05 11.809
Châu Khê 544,31 12.210
Châu Lộc 85,69 7.234
Châu Tiến 247,16 18.060
Chiêu Lưu 196,93 9.797
Con Cuông 155,45 26.043
Diễn Châu 22,21 63.294
Đại Đồng 77,87 63.131
Tên Diện tích

(km²)

Dân số

(người)

Đại Huệ 36,11 24.441
Đô Lương 50,06 61.960
Đông Hiếu 63,87 28.634
Đông Lộc 29,32 31.219
Đông Thành 30,20 46.116
Đức Châu 20,97 40.899
Giai Lạc 88,58 35.783
Giai Xuân 121,55 14.160
Hải Châu 29,13 43.155
Hải Lộc 41,25 21.940
Hạnh Lâm 274,57 13.699
Hoa Quân 107,67 32.149
Hợp Minh 54,75 46.942
Hùng Chân 351,87 12.664
Hùng Châu 69,11 55.583
Huồi Tụ 109,03 5.177
Hưng Nguyên 46,14 53.144
Hưng Nguyên Nam 35,77 36.632
Hữu Khuông 263,79 2.939
Hữu Kiệm 188,97 12.609
Keng Đu 98,24 5.098
Kim Bảng 183,26 27.936
Kim Liên 61,08 55.471
Lam Thành 39,67 31.247
Lượng Minh 227,97 5.322
Lương Sơn 47,39 26.494
Mậu Thạch 164,26 13.200
Minh Châu 39,68 44.358
Minh Hợp 159,97 21.276
Môn Sơn 529,42 18.836
Mường Chọng 173,65 11.291
Mường Ham 160,35 14.257
Mường Lống 148,31 5.649
Tên Diện tích

(km²)

Dân số

(người)

Mường Quàng 342,15 17.917
Mường Típ 217,66 6.412
Mường Xén 182,49 10.396
Mỹ Lý 211,03 5.861
Na Loi 141,86 4.321
Na Ngoi 341,25 9.536
Nam Đàn 67,60 24.489
Nậm Cắn 147,70 8.694
Nga My 302,52 8.467
Nghi Lộc 33,31 46.022
Nghĩa Đàn 47,32 19.670
Nghĩa Đồng 72,43 20.195
Nghĩa Hành 112,00 22.312
Nghĩa Hưng 68,65 25.459
Nghĩa Khánh 77,72 25.653
Nghĩa Lâm 121,75 23.753
Nghĩa Lộc 62,93 25.007
Nghĩa Mai 146,99 17.844
Nghĩa Thọ 92,19 21.391
Nhân Hòa 86,88 22.626
Nhôn Mai 310,26 7.060
Phúc Lộc 70,50 28.236
Quan Thành 37,71 29.973
Quảng Châu 26,40 37.434
Quang Đồng 75,61 22.364
Quế Phong 276,57 22.834
Quỳ Châu 327,53 23.094
Quỳ Hợp 90,07 36.929
Quỳnh Anh 39,80 60.329
Quỳnh Lưu 40,55 73.584
Quỳnh Phú 33,48 72.062
Quỳnh Sơn 61,21 36.834
Quỳnh Tam 103,40 35.568
Tên Diện tích

(km²)

Dân số

(người)

Quỳnh Thắng 107,99 15.313
Quỳnh Văn 53,35 42.927
Sơn Lâm 162,94 12.331
Tam Đồng 53,38 26.382
Tam Hợp 135,97 42.628
Tam Quang 507,95 13.013
Tam Thái 356,01 7.730
Tân An 90,41 22.775
Tân Châu 64,60 33.073
Tân Kỳ 116,50 32.974
Tân Phú 93,32 28.878
Thần Lĩnh 44,69 21.718
Thành Bình Thọ 88,18 12.021
Thiên Nhẫn 70,81 40.885
Thông Thụ 706,75 8.481
Thuần Trung 49,26 40.317
Tiên Đồng 119,62 19.663
Tiền Phong 319,02 14.494
Tri Lễ 243,95 14.432
Trung Lộc 31,35 31.182
Tương Dương 330,95 18.479
Vạn An 56,37 44.830
Văn Hiến 55,53 39.144
Văn Kiều 63,46 28.341
Vân Du 84,30 25.868
Vân Tụ 48,73 43.922
Vĩnh Tường 76,44 24.810
Xuân Lâm 60,88 40.624
Yên Hòa 211,01 8.418
Yên Na 297,32 9.530
Yên Thành 38,13 47.780
Yên Trung 37,74 26.239
Yên Xuân 90,41 27.707

Dân cư

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Historical populations”.

Dân số Nghệ An (theo điều tra dân số năm 2019) có 3.327.791 người. Trên toàn tỉnh Nghệ An có nhiều dân tộc cùng sinh sống như người Thái, người Mường bên cạnh dân tộc chính là người Kinh. Cùng thời điểm này, Nghệ An có 37 dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống.

Qua kết quả sơ bộ Tổng điều tra, tại thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2019, tỉnh Nghệ An có 848.977 hộ với 3.327.791 người và là tỉnh có dân số đông thứ 4 cả nước. Như vậy, sau 10 năm từ 2009 đến 2019, dân số tỉnh Nghệ An đã tăng 415.750 người (dân số năm 2009 là 2.912.041 người), tỷ lệ tăng dân số bình quân năm giai đoạn 2009-2019 là 1,33%.

Dân cư ở Nghệ An phân bố không đồng đều, tại khu vực các huyện đồng bằng Diễn Châu, Nghi Lộc, Đô Lương, Quỳnh Lưu, Yên Thành, Nam Đàn, Hưng Nguyên, thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò, Hoàng Mai có mật độ cao, hơn 500 người/km². Đối với các huyện Nghĩa Đàn, Thanh Chương, Quỳ Hợp, Anh Sơn, Tân Kỳ thì mật độ dân số trung bình khá đông, khoảng 130-250 người/km², nhưng ở những huyện này mật độ cao chỉ tập trung ở các khu vực thung lũng, các nơi ở sâu trong núi thì rất thưa thớt. Các huyện phía Tây có mật độ trên dưới 50 người/km² như: Quỳ Châu, Con Cuông, Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong đều có mật độ dân số rất thấp, nguyên nhân là do địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt, giao thông khó khăn. Trong số các huyện đồng bằng ven biển thì huyện Diễn Châu là đông dân nhất, Thanh Chương là huyện miền núi có dân số lớn nhất, là huyện miền núi duy nhất ở Việt Nam có dân số vượt ngưỡng hơn 250.000 người. Tỷ lệ đô thị hóa tính đến năm 2021 đạt 33%.

Theo Niên giám thống kê năm 2020, dân số tỉnh Nghệ An đến năm 2020 là 3.365.198 người, chủ yếu sinh sống ở khu vực nông thôn (với 84,5%). Mật độ dân số 204 người/km².

Dân số vùng dân tộc thiểu số và miền núi sinh sống ở tỉnh Nghệ An trên 1,2 triệu người (chiếm 36% dân số toàn tỉnh). Đồng bào dân tộc thiểu số là 491.267 người, chiếm 14,76% dân số toàn tỉnh và chiếm 40,93% dân số trên địa bàn miền núi.

Nghệ An hiện có 47 dân tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao là: Thái (338.559 người), Thổ (71.420 người), Khơ Mú (43.139 người), Mông (33.957 người).

Theo Niên giám thống kê năm 2023, dân số trung bình của tỉnh Nghệ An năm 2022 là 3.419.989 người. Mật độ dân số 207 người/km². Trong đó, dân số thành thị là 530.452 người, chiếm 15,51%; dân số nông thôn là 2.889.537 người, chiếm 84,49%; dân số nam là 1.711.827 người, chiếm 50,05%; dân số nữ là 1.708.162 người, chiếm 49,95%. Trong tỉnh hiện có trên 500.000 đồng bào các dân tộc thiểu số (gồm các dân tộc Thái, Thổ, Khơ Mú, H’Mông, Ơ Đu... cùng sinh sống).

Năm 2022, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của tỉnh Nghệ An là 1.623,1 nghìn người; trong đó lao động nam là 867,7 nghìn người, chiếm 53,46%; lao động nữ là 755,4 nghìn người, chiếm 46,54%; lực lượng lao động ở khu vực thành thị là 252,3 nghìn người, chiếm 15,55%; lực lượng lao động ở nông thôn là 1.370,8 nghìn người, chiếm 84,45%.

Tính đến năm 2024, tỉnh Nghệ An có diện tích tự nhiên 16.486,50 km²,[23] dân số trung bình là 3.472.290 người,[23] trong đó dân số nam ước tính đạt khoảng 1.740.470 người chiếm (50,1%),[23] dân số nữ ước tính đạt khoảng 1.731.820 người chiếm (49,9%),[23] dân số thành thị ước tính đạt khoảng 546.000 người chiếm (15,7%),[23] dân số nông thôn ước tính đạt khoảng 2.926.290 người chiếm (84,3%),[23] với mật độ dân số là 210 người/km².[23]

Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2024, tỉnh Nghệ An có diện tích tự nhiên là 16.486,50 km²,[1] quy mô dân số là 3.831.694 người,[1] trong đó dân số thành thị ước tính đạt khoảng 720.432 người chiếm (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Percentage”.),[1] dân số nông thôn ước tính đạt khoảng 3.111.262 người chiếm (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Percentage”.),[1] mật độ dân số là 232 người/km².[1]

Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, toàn tỉnh có 11 tôn giáo khác nhau đạt 287.232 người, nhiều nhất là Công giáo có 287.064 người, tiếp theo là Phật giáo có 1.079 người. Còn lại các tôn giáo khác như đạo Tin Lành có 58 người, Hồi giáo có 12 người, Minh Lý đạo có 5 người, Phật giáo Hòa Hảo, đạo Cao Đài, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam mỗi tôn giáo có 3 người, Minh Sư đạo, Baha'i giáo mỗi tôn giáo có 2 người và 1 người theo Tứ Ân Hiếu Nghĩa.[24][25]

Giao thông

Vị trí này tạo cho Nghệ An có vai trò quan trọng trong mối giao lưu kinh tế - xã hội Bắc - Nam, xây dựng và phát triển kinh tế biển, kinh tế đối ngoại và mở rộng hợp tác quốc tế. Nghệ An nằm trên các tuyến đường quốc lộ Bắc - Nam (tuyến quốc lộ 1A dài 91 km đi qua thị xã Hoàng Mai, các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, Hưng Nguyên và thành phố Vinh; đường Hồ Chí Minh chạy song song với Quốc lộ 1 dài 132 km đi qua các huyện Quỳnh Lưu, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Anh Sơn, Thanh Chương và thị xã Thái Hòa; quốc lộ 15 ở phía tây dài 149 km chạy xuyên suốt tỉnh). Tỉnh có tuyến đường sắt Bắc Nam dài 94 km chạy qua.

Tập tin:Bến xe Vinh.jpeg
Bến xe Vinh

Quốc lộ 1, quốc lộ 46, quốc lộ 46B, quốc lộ 7, quốc lộ 15, quốc lộ 48A, quốc lộ 48C, đường Hồ Chí Minh, đường cao tốc Nghi Sơn – Diễn Châu, đường cao tốc Diễn Châu – Bãi Vọt, đường sắt Bắc - Nam đi qua.

Tập tin:Ga Vinh.jpeg
Ga Vinh

Kinh tế – xã hội

Năm 2019, GRDP toàn tỉnh tăng trưởng 9,03% so với năm 2018, GRDP thực tế đạt 88.258 tỉ đồng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng. Thu ngân sách ước đạt 15.500 tỷ đồng, đạt 114,8% dự toán và tăng 10,2% so với thực hiện năm 2018. Chi ngân sách năm 2019 ước đạt 24.945,44 tỷ đồng, đạt 102,5% dự toán.

Công nghiệp

Hiện nay ngành công nghiệp của Nghệ An tập trung phát triển ở 3 khu vực là Vinh - Cửa Lò gắn với Khu kinh tế Đông Nam, Khu vực Hoàng Mai và khu vực Phủ Quỳ. Phấn đấu phát triển nhiều ngành công nghiệp có thế mạnh như các ngành chế biến thực phẩm - đồ uống, chế biến thủy hải sản, dệt may, vật liệu xây dựng, cơ khí, sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ, chế tác đá mỹ nghệ, đá trang trí, sản xuất bao bì, nhựa, giấy... Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2014, tỉnh Nghệ An xếp ở vị trí thứ 28/63 tỉnh thành.[26] Tăng trưởng GDP năm 2014 đạt gần 8%.

Thu nhập bình quân đầu người 2019 đạt khoảng 1.685 USD/người, tương đương khoảng 38,5 triệu đồng/người. Tuy nhiên, khoảng cách thu nhập không đồng đều, thành phố Vinh là trên 3.600 USD/người, các huyện Diễn Châu, Nghi Lộc, Quỳnh Lưu,... có mức dao động khoảng từ 1.800 - 2.500 USD/người, nhưng các huyện miền núi phía Tây lại rất thấp, có huyện dưới 1.000 USD/người.

Tập tin:Khu Công nghiệp Nam Cấm, Nghi Lộc, Nghệ An.jpeg
Khu Công nghiệp Nam Cấm (2016), huyện Nghi Lộc.

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Nghệ An các khu công nghiệp sau:

  • Khu kinh tế Đông Nam
  • Khu công nghiệp đô thị Việt Nam Singapore VSIP Nghệ An 1, 2
  • Khu công nghiệp Bắc Vinh
  • Khu công nghiệp Nam Cấm
  • Khu công nghiệp Nghi Phú
  • Khu công nghiệp Hưng Đông
  • Khu công nghiệp Cửa Lò
  • Khu công nghiệp Hoàng Mai 1, 2
  • Khu công nghiệp Đông Hồi
  • Khu công nghiệp Phủ Quỳ
  • Khu công nghiệp Tân Thắng
  • khu công nghiệp Diễn Hồng - Diễn Châu
  • Khu công nghiệp Hưng Lộc
  • Khu công nghiệp WHA Nghệ An
  • Khu công nghiệp Thọ Lộc - Diễn Châu

Du lịch

Tập tin:Sun rise at CuaLo.jpg
Bình minh trên bãi biển Cửa Lò

bãi tắm Cửa Lò là khu nghỉ mát; Khu du lịch biển diễn Thành, huyện Diễn Châu - một bãi biển hoang sơ và lãng mạn; khu di tích Hồ Chí Minh, khu di tích đền Cuông. Năm 2008, Khu du lịch Bãi Lữ được đưa vào khai thác.

Nghệ An có nhiều lễ hội cổ truyền diễn ra trên sông nước như lễ hội Cầu Ngư, Rước hến, Đua thuyền... Lễ hội làm sống lại những kỳ tích lịch sử được nâng lên thành huyền thoại, giàu chất sử thi, đậm đà tính nhân văn như lễ hội đền Cuông, lễ hội Đền Thái Sư Cương Quốc Công Nguyễn Xí, lễ hội đền thờ Hồ Hưng Dật gọi tắt Lễ hội đền Vua Hồ, Lễ hội Cầu Ngư Diễn Châu , Lễ hội Phượng Hoàng Trung Đô vinh đền Thờ vua Nguyễn Huệ, lễ hội đền Khai Long, lễ hội làng Vạn Lộc, lễ hội làng Sen, lễ hội đền Quả Sơn, Lễ hội đền cờn, Lễ hội đền Hoàng Mười. Miền núi có các lễ hội như Hang Bua, lễ hội Xàng Khan, lễ Mừng nhà mới, lễ Uống rượu cần. Lễ hội Đền Tiên Đô (Tiên Đô Miếu) ở Đặng Sơn vào lễ khai hạ mồng 7 tháng giêng và Lễ kỵ nhật 16/6 của 3 thần bản cảnh- Thành Hoàng nơi thờ Phó Quốc vương Mạc Đăng Lượng thượng thượng thượng đẳng thần, Binh nhung Đại tướng Hoàng Trần Ích thượng đẳng thần, Hoàng Bá Kỳ Đoan túc tôn thần.

Nghệ An còn lưu giữ được nhiều di tích văn hoá lịch sử, nhiều danh lam thắng cảnh, lễ hội văn hoá truyền thống - đó là những yếu tố thuận lợi giúp cho du lịch Nghệ An phát triển.

Về du lịch biển, Nghệ An có 82 km bờ biển với nhiều bãi tắm đẹp hấp dẫn khách du lịch quốc tế như bãi biển Cửa Lò, Cửa Hội; Nghi Thiết, Bãi Lữ (Nghi Lộc), Quỳnh Bảng, Quỳnh Nghĩa (Quỳnh Lưu), Quỳnh Phương (Hoàng Mai), Diễn Thành (Diễn Châu). Đồng thời Nghệ An rất có lợi thế phát triển du lịch văn hóa. Hiện nay Nghệ An có trên 1 ngàn di tích lịch sử văn hóa, trong đó có gần 200 di tích lịch sử văn hoá được xếp hạng, đặc biệt là Khu di tích Kim Liên, quê hương của chủ tịch Hồ Chí Minh, hàng năm đón xấp xỉ 2 triệu lượt nhân dân và du khách đến tham quan nghiên cứu.

Khu di tích lịch sử Kim Liên, cách phường Trường Vinh 12 km về phía Tây Nam, là khu di tích tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại xã Kim Liên. Nơi đây gắn với thời niên thiếu của Hồ Chí Minh và còn lưu giữ những kỷ niệm thuở nhỏ của cậu bé Nguyễn Sinh Cung, những dấu tích và những kỷ vật của gia đình.

Làng Sen, quê nội của Hồ Chí Minh, tên chữ là Kim Liên (bông sen vàng). Làng có nhiều hồ thả sen suốt hai bên đường làng. Ngôi nhà của Hồ Chí Minh sống thuở nhỏ dựng bằng tre và gỗ, 5 gian, lợp tranh. Trong nhà có những đồ dùng giống như các gia đình nông dân: phản gỗ, chõng tre, cái võng gai, bàn thờ... Nhà được dựng năm 1901 do công sức và tiền của dân làng góp lại làm tặng ông Nguyễn Sinh Sắc, cha của Hồ Chí Minh khi ông Sắc đỗ Phó Bảng đem lại vinh dự cho cả làng.

Cách làng Sen 2 km là làng Chùa (tên chữ là Hoàng Trù) - quê ngoại của Hồ Chí Minh - và cũng là nơi ông cất tiếng khóc chào đời, được mẹ nuôi dạy những năm ấu thơ.

Khu du lịch thành phố Vinh nằm ở vị trí giao thông thuận tiện, có quốc lộ 1a và tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy qua, có sân bay Vinh nằm cách trung tâm thành phố không xa. Thành phố Vinh còn là đầu mối giao thông quan trọng giữa miền Bắc và miền Nam. Khách đi du lịch theo tuyến Quốc lộ 1 ngày càng tăng, lượng du khách đến với Nghệ An theo đó cũng tăng.

Thành phố Vinh (nay là phường Trường Vinh) từ lâu đã hấp dẫn du khách bởi một quần thể khu du lịch với những nét đặc trưng tiêu biểu của một đô thị xứ Nghệ. Đến với Vinh, du khách có thể tham gia vào nhiều loại hình du lịch như: du lịch nghiên cứu, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng.

Cách phường Trường Vinh 120 km về phía Tây Nam, Vườn Quốc gia Pù Mát thuộc huyện Con Cuông, nằm trên sườn Đông của dải Trường Sơn, dọc theo biên giới Việt Lào. Nơi đây có một số loài động vật, thực vật quý hiếm cần phải được bảo tồn nghiêm ngặt như: sao la, thỏ vằn, niệc cổ hung và một số loài thực vật như pơ mu, sa mu, sao hải nam... Nơi đây đã được UNESCO đưa vào danh sách các khu dự trữ sinh quyển thế giới với tên gọi Khu dự trữ sinh quyển miền tây Nghệ An. Đến Diễn châu, du khách rẽ về phía tây theo đường 7 về Đặng Sơn thăm Di tích lịch sử quốc gia Nhà thờ họ Hoàng Trần do gia đình cụ Hoàng Quýnh - Nguyễn thị Đào xây dựng lại năm 1884 - gắn với cơ sở hoạt động thời kỳ 1930-1945 hoặc ra thăm Bãi Dâu Ba Ra.

Hiện nay, nhiều tổ chức bảo vệ môi trường thế giới cũng như trong nước, đang có các dự án để bảo tồn và phát triển vườn quốc gia Pù Mát, khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống tạo thành khu du lịch sinh thái hấp dẫn.

Khu du lịch Cửa Lò là điểm du lịch biển hấp dẫn với bãi cát trắng mịn chạy dài gần 10 km, thông ra Hòn Ngư, Hòn Mắt, Đảo Lan Châu e ấp ven bờ như một nét chấm phá của bức tranh thủy mạc. Tất cả đã tạo ra cho Cửa Lò có một sức hấp dẫn mạnh mẽ với du khách thập phương.

Khu du lịch Bãi biển Diễn Thành nằm tránh phường Trường Vinh khoảng 40 km. Đây là bãi biển nổi tiếng tại Diễn Châu (Nghệ An) với bãi cát trắng, sóng biển dịu êm, mang vẻ đẹp hoang sơ và vô cùng thơ mộng. Bên cạnh đó, hải sản tại đây cũng vô cùng tươi ngon và giá thành khá rẻ, thu hút hàng nghìn lượt du khách đến vui chơi tắm biển giải trí.

Mường Lống, nơi được mệnh danh là Sa Pa của xứ Nghệ hay Đà Lạt của xứ Nghệ là điểm dừng chân yêu thích của các phượt thủ. Tại đây, du khách không những được hòa mình vào khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp, giữa biển mây bồng bềnh, chiêm ngưỡng những ngọn núi cao nhất thế giới mà còn có cơ hội tìm hiểu những nét đẹp văn hóa của người dân bản địa.

Nghệ An còn là nơi có nhiều món ăn ngon, đặc sản nổi tiếng: cháo lươn Vinh, cơm lam, nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn, cam xã Đoài... là những sản phẩm du lịch có sức cuốn hút khách du lịch quốc tế và trong nước.

Xã hội

Ngày 27/11, trong kỳ họp lần thứ 9 Ủy ban Liên Chính phủ Công ước UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể diễn ra tại Pháp, Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc đã chính thức công nhận dân ca ví, dặm Nghệ Tĩnh của Việt Nam là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Thành phố kết nghĩa

Nghệ An có nhiều thành phố kết nghĩa trên khắp thế giới, nhiều thành phố trong số này là thủ đô của các quốc gia tương ứng:[27][28]

Tham khảo

  1. ^ a ă â b c d đ e Thành Chung (ngày 13 tháng 5 năm 2025). "Chi tiết dự kiến quy mô dân số, diện tích, kinh tế của 34 tỉnh, thành sau sáp nhập". Tuổi Trẻ Online. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2025.
  2. ^ a ă â "Thông cáo báo chí Tình hình kinh tế xã hội Nghệ An 2025". Giống nông nghiệp Nghệ An. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2026. {{Chú thích web}}: Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  3. ^ "Quyết định số 19/2025/QĐ-TTg về việc ban hành Bảng danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam" (PDF). Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. ngày 30 tháng 6 năm 2025. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2025.
  4. ^ ONLINE, TUOI TRE (ngày 12 tháng 6 năm 2025). "Chi tiết diện tích, dân số, quy mô kinh tế của 34 tỉnh, thành mới". TUOI TRE ONLINE. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2025.
  5. ^ "Danh sách dự kiến tên gọi của 34 tỉnh, thành phố và trung tâm chính trị - hành chính". vtv.vn. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2025.
  6. ^ Nghệ An có nghĩa là thái bình vô sự
  7. ^ Đại Nam thực lục, phần cương thổ về Trấn Ninh: “Tính ra trong vòng hơn 300 năm Trấn Ninh vẫn theo chức cống, đất rộng dân đông, đứng đầu các Man, Trình Quang là đô ấp
  8. ^ Đại Nam thực lục, tập 1, đệ Nhất kỷ, trang 440
  9. ^ Đại Nam nhất thống chí. NXB Thuận Hóa 2006. Trang 159
  10. ^ Khâm định Việt sử Thông giám cương mục. Chính biên, quyển XXIII
  11. ^ Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Quốc hội ban hànhLỗi Lua: Lỗi nội bộ: Bộ phân tích đã thoát với trạng thái 1.
  12. ^ Lỗi Lua: Lỗi nội bộ: Bộ phân tích đã thoát với trạng thái 1.
  13. ^ Lỗi Lua: Lỗi nội bộ: Bộ phân tích đã thoát với trạng thái 1.
  14. ^ Lỗi Lua: Lỗi nội bộ: Bộ phân tích đã thoát với trạng thái 1.
  15. ^ Lỗi Lua: Lỗi nội bộ: Bộ phân tích đã thoát với trạng thái 1.
  16. ^ Lỗi Lua: Lỗi nội bộ: Bộ phân tích đã thoát với trạng thái 1.
  17. ^ Lỗi Lua: Lỗi nội bộ: Bộ phân tích đã thoát với trạng thái 1.
  18. ^ Lỗi Lua: Lỗi nội bộ: Bộ phân tích đã thoát với trạng thái 1.
  19. ^ Lỗi Lua: Lỗi nội bộ: Bộ phân tích đã thoát với trạng thái 1.
  20. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên area_2020
  21. ^ Lỗi Lua: Lỗi nội bộ: Bộ phân tích đã thoát với trạng thái 1.
  22. ^ Căn cứ theo Đề án số 343/ĐA-CP của Chính phủ ngày 09 tháng 5 năm 2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Nghệ An năm 2025
  23. ^ a ă â b c d đ Diện tích, dân số và mật độ dân số phân theo địa phương, Trang Thông tin điện tử Cục Thống kê - Bộ Tài chính
  24. ^ Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, Tổng cục Thống kê Việt Nam.
  25. ^ Lỗi Lua: Lỗi nội bộ: Bộ phân tích đã thoát với trạng thái 1.
  26. ^ Lỗi Lua: Lỗi nội bộ: Bộ phân tích đã thoát với trạng thái 1.
  27. ^ Lỗi Lua: Lỗi nội bộ: Bộ phân tích đã thoát với trạng thái 1.
  28. ^ Paris and Rome are "partner cities" due to an exclusive agreement between those two cities. Lỗi Lua: Lỗi nội bộ: Bộ phân tích đã thoát với trạng thái 1.
  29. ^ Lỗi Lua: Lỗi nội bộ: Bộ phân tích đã thoát với trạng thái 1.
  30. ^ Lỗi Lua: Lỗi nội bộ: Bộ phân tích đã thoát với trạng thái 1.
  31. ^ Lỗi Lua: Lỗi nội bộ: Bộ phân tích đã thoát với trạng thái 1.Lỗi Lua: Lỗi nội bộ: Bộ phân tích đã thoát với trạng thái 1.
  32. ^ internacionais/ingles/descentralized cooperation/sister cities/0001 Prefeitura.Sp – Descentralized CooperationLỗi Lua: Lỗi nội bộ: Bộ phân tích đã thoát với trạng thái 1.
  33. ^ Lỗi Lua: Lỗi nội bộ: Bộ phân tích đã thoát với trạng thái 1.
  34. ^ Lỗi Lua: Lỗi nội bộ: Bộ phân tích đã thoát với trạng thái 1.
  35. ^ Lỗi Lua: Lỗi nội bộ: Bộ phân tích đã thoát với trạng thái 1.
  36. ^ Lỗi Lua: Lỗi nội bộ: Bộ phân tích đã thoát với trạng thái 1.

Liên kết ngoài

Lỗi Lua: Lỗi nội bộ: Bộ phân tích đã thoát với trạng thái 1.

Lỗi Lua: Lỗi nội bộ: Bộ phân tích đã thoát với trạng thái 1.