Bren

Đây là phiên bản hiện hành của trang này do imported>AnsterBot sửa đổi vào lúc 15:55, ngày 2 tháng 8 năm 2026 ((Bot) AlphamaEditor, Executed time: 00:00:08.2694549, replaced: {{cite book → {{Chú thích sách (34), {{cite web → {{Chú thích web (32), {{cite news → {{Chú thích báo (2), {{cite journal → {{Chú thích tập san học thuật, … → ..., {{cite magazine → {{Chú thích tạp chí (2)). Địa chỉ URL hiện tại là một liên kết vĩnh viễn đến phiên bản này của trang.

(khác) ← Phiên bản cũ | Phiên bản mới nhất (khác) | Phiên bản mới → (khác)

Súng máy Bren (Brno-Enfield) là một dòng súng máy hạng nhẹ được Vương quốc Anh chế tạo vào những năm 1930 và được sử dụng trong nhiều vai trò khác nhau cho đến năm 1992. Mặc dù nổi tiếng nhất với vai trò là súng máy hạng nhẹ bộ binh chính của quân đội Anh và các lực lượng Đế quốc Anh trong Thế chiến II, nó cũng được sử dụng trong Chiến tranh Triều Tiên và phục vụ trong suốt nửa sau thế kỷ 20, bao gồm cả Chiến tranh Falkland năm 1982.[3] Tuy được trang bị giá hai chân, súng cũng có thể được gắn trên giá ba chân hoặc lắp trên xe quân sự.

Bren
Tập tin:Bren wog.jpg
Một khẩu súng máy Bren Mk.1
LoạiSúng máy hạng nhẹ
Nơi chế tạo
Lược sử hoạt động
Phục vụ1938–2012
Sử dụng bởiXem mục § Các quốc gia sử dụng
TrậnXem mục § Lịch sử phục vụ
Lược sử chế tạo
Người thiết kếVáclav Holek
Năm thiết kế1935
Nhà sản xuất
  • Nhà máy Vũ khí Bộ binh Hoàng gia
  • Công ty John Inglis
  • Nhà máy Vũ khí Bộ binh Lithgow
  • Nhà máy Súng trường Ishapore
Giá thành£40[1]
Giai đoạn sản xuất1935–1971
Số lượng chế tạo500.000[2]
Các biến thểXem thêm tại § Biến thể
Thông số
Khối lượng
  • Mk1 & Mk2:
    22,8 lb (10,3 kg), 25 lb (11,3 kg) (khi nạp đạn)
  • Mk3 & Mk4:
    19,15 lb (8,7 kg), 21,6 lb (9,8 kg) (khi nạp đạn)
Chiều dài
  • Mk1 & Mk2: 45,5 in (1.160 mm)
  • Mk3 & Mk4: 42,9 in (1.090 mm)[2]
Độ dài nòng25 in (635 mm) (chiều dài nòng)
Kíp chiến đấu2 (xạ thủ và trợ lý)

Đạn
Cơ cấu lên đạnTrích khí, khóa nòng nghiêng
Tốc độ bắn
  • 500–520 phát/phút (lý thuyết)
  • 120 phát/phút (thực tế bắn liên tục)
Sơ tốc đầu nòng2,440 ft/s (0,7 m/s) (sơ tốc đầu nòng)
Tầm bắn hiệu quả600 yd (550 m) (tầm bắn hiệu quả)
Tầm bắn xa nhất1.850 yd (1.690 m) (tầm bắn tối đa)
Chế độ nạp
  • Hộp tiếp đạn rời 30 viên
  • Hộp tiếp đạn hình đĩa rời 100 viên (chỉ dành cho biến thể .303)
  • Hộp tiếp đạn L1A1 SLR 20 viên (chỉ dành cho biến thể 7.62 mm)
Ngắm bắnThước ngắm thép

Súng máy Bren là phiên bản sản xuất theo giấy phép của khẩu súng máy hạng nhẹ ZGB 33 của Tiệp Khắc, vốn là một phiên bản cải tiến của khẩu ZB vz. 26 mà các quan chức Quân đội Anh đã thử nghiệm trong một cuộc thi tuyển chọn vũ khí vào những năm 1930. Nhà thiết kế của súng là Václav Holek, một nhà phát minh súng và kỹ sư thiết kế. Các phiên bản súng máy Bren về sau có đặc điểm nhận dạng là hộp tiếp đạn cong gắn phía trên, loa che lửa hình nón và hệ thống nòng thay nhanh.

Vào những năm 1950, nhiều khẩu Bren đã được thay nòng để sử dụng cỡ đạn 7,62×51mm NATO và được sửa đổi để sử dụng chung hộp tiếp đạn với súng trường L1 (phiên bản khối Thịnh vượng chung của khẩu FN FAL), được định danh là súng máy hạng nhẹ L4. Nó bị thay thế trong quân đội Anh ở vai trò súng máy cấp tiểu đội bởi khẩu L7 - một loại súng máy đa chức năng nạp đạn bằng dây băng. Đến những năm 1980, súng máy Bren được bổ sung thêm khẩu L86 sử dụng cỡ đạn 5,56×45mm NATO, khiến Bren chỉ còn được sử dụng trên giá súng xoay của một số loại xe. Súng máy Bren từng được sản xuất bởi Tổ chức các Nhà máy Vũ khí Ấn Độ với tên gọi "Gun Machine 7.62mm 1B"[4] trước khi bị ngừng sản xuất vào năm 2012.[5]

Tên gọi

Tên gọi Bren được ghép từ cụm chữ cái đầu của Brno – thành phố thuộc Tiệp Khắc, nơi mẫu súng Zb vz. 26 được thiết kế (tại Nhà máy Zbrojovka Brno) – và Enfield, nơi đặt Nhà máy Vũ khí Lục quân Hoàng gia của Anh.[6]

Phát triển

Tập tin:Australian assault on pillbox, January 1943, Papua, Giropa Point.jpg
Các binh sĩ Úc đang tấn công một lô cốt vào tháng 1 năm 1943 tại Mũi Giropa, Papua New Guinea; cả hai binh sĩ ở tiền cảnh đều mang súng máy Bren.
Tập tin:A member of No. 9 Commando at Anzio, equipped for a patrol with his Bren gun, 5 March 1944. NA12469.jpg
Một thành viên của Lực lượng Đặc nhiệm số 9 tại Anzio, được trang bị súng máy Bren để chuẩn bị đi tuần tra, ngày 5 tháng 3 năm 1944
Tập tin:Allied Forces in the United Kingdom 1939-45 H11120.jpg
Một xạ thủ súng máy Bren thuộc Lữ đoàn Na Uy đang ngắm bắn trong một buổi huấn luyện tại Dumfries, Scotland, ngày 27 tháng 6 năm 1941.

Khi Chiến tranh Thế giới thứ nhất kết thúc vào năm 1918, Quân đội Anh được trang bị hai loại vũ khí tự động chính: súng máy hạng trung Vickers (MMG) và súng máy nhẹ Lewis. Súng Vickers rất nặng và cần nguồn cấp nước liên tục để vận hành, khiến nó thường bị đóng khung trong vai trò phòng thủ cố định và yểm trợ hỏa lực gián tiếp. Súng Lewis dù nhẹ hơn nhưng vẫn cồng kềnh và hay gặp sự cố kẹt đạn; nòng súng của nó không thể thay thế trực tiếp ngoài mặt trận, đồng nghĩa với việc bắn liên tục sẽ dẫn đến hiện tượng quá nhiệt cho đến khi súng ngừng hoạt động hoàn toàn.

Vào năm 1922, nhằm tìm kiếm một loại vũ khí thay thế cho súng Lewis, Ủy ban Vũ khí Bộ binh của Quân đội Anh đã tổ chức các cuộc thử nghiệm cạnh tranh giữa súng máy Madsen, Súng trường tự động Browning (BAR) M1918, súng máy Hotchkiss M1909, súng trường Beardmore–Farquhar và chính bản thân súng Lewis. Mặc dù BAR được đề xuất tiếp nhận, nhưng số lượng súng Lewis sẵn có quá lớn cùng với tình hình tài chính khó khăn thời bấy giờ đã khiến kế hoạch này bị gác lại. Nhiều mẫu súng máy nhẹ mới khác nhau tiếp tục được thử nghiệm ngay khi chúng vừa ra mắt, và vào năm 1930, một loạt các cuộc thử nghiệm chuyên sâu trên diện rộng đã được bắt đầu, dưới sự giám sát của Frederick Hubert Vinden.[7] Lần này, các loại vũ khí được đưa vào thử nghiệm bao gồm SIG Neuhausen KE7, Vickers–Berthier và mẫu ZB vz. 27 của Tiệp Khắc. Mẫu súng cuối cùng đã không đáp ứng được các yêu cầu cao về độ bền và độ tin cậy, chủ yếu là do cặn thuốc súng từ loại thuốc súng Cordite của Anh gây tắc nghẽn ống trích khí (mẫu ZB vz. 27 cũng được gửi đến dưới cấu hình đạn 7.92 Mauser thay vì .303 British, nhưng hãng ZB trước đó đã nắm giữ một bằng sáng chế[8] về hộp tiếp đạn xếp so le dành cho đạn có gờ).[9] Mẫu Vickers–Berthier sau đó đã được Quân đội Ấn Độ thuộc Anh tiếp nhận vì nó có thể được đưa vào sản xuất ngay lập tức thay vì phải chờ đợi dây chuyền sản xuất súng Lewis của Anh hoàn thành; loại súng này cũng được sử dụng rộng rãi trong Thế chiến II.[10]

Một biến thể sửa đổi với ống trích khí được rút ngắn đã được thử nghiệm lại vào tháng 6 năm 1932, và sau đó mẫu ZB-30 mới phát triển sử dụng đạn .303 lại tiếp tục được thử nghiệm vào tháng 11.[9] Sau khi tiếp thu thêm các ý kiến phản hồi và tích hợp chúng vào bản thiết kế trước tháng 1 năm 1933, hai sửa đổi khác đã được các đại diện của Anh thử nghiệm tại Brno vào tháng 7.[9] Một trong các biến thể đó đã được lựa chọn, mang định danh ZGB 33 (viết tắt của Zbrojovka, Great Britain, 1933), và 10 khẩu mẫu thử đã được gửi sang Anh vào mùa thu năm 1933.[9] Sau các cuộc thử nghiệm bổ sung vào đầu năm 1934, nhiều mẫu thử hơn đã được đặt hàng trong mùa hè năm 1934, và vào ngày 24 tháng 5 năm 1935, bản quyền sản xuất tại Anh cuối cùng đã được thông qua, dòng súng này chính thức được tiếp nhận dưới tên gọi Bren.[9]

Những thay đổi lớn nằm ở hộp tiếp đạn, nòng súng và cụm tay cầm súng ngắn phía dưới; bộ phận này đã chuyển từ dạng khung tay cầm xoay có chốt đặt ở phía trước vòng cò sang dạng khung tay cầm trượt, tích hợp luôn giá gắn chân đế ba chân phía trước và nắp che cửa hắt vỏ đạn dạng trượt. Hộp tiếp đạn được thiết kế cong nhằm phù hợp cho việc nạp loại đạn có gờ .303 inch SAA ("Đạn vũ khí bộ binh"), một sự thay đổi so với các loại đạn không gờ kiểu Mauser như đạn 7,92×57mm Mauser vốn được sử dụng trên các thiết kế trước đó của Séc. Các sửa đổi này được phân loại theo nhiều định danh mang số hiệu khác nhau, bao gồm ZB vz. 27, ZB vz. 30, ZB vz. 32, và cuối cùng là ZGB 33 – mẫu súng được cấp phép sản xuất dưới tên gọi Bren.

Bren là một loại vũ khí vận hành bằng khí nén sử dụng cùng loại đạn .303 với mẫu súng trường tiêu chuẩn của Anh là Lee–Enfield, đạt tốc độ bắn trong khoảng từ 480 đến 540 viên mỗi phút (rpm) tùy thuộc vào từng kiểu đời súng. Khí thuốc đẩy đạn được trích ra từ một lỗ gần đầu nòng súng, chạy qua một bộ điều chỉnh áp lực khí (có thể nhìn thấy ngay phía trước chân tỳ) với bốn lỗ hiệu chỉnh nhanh có kích thước khác nhau. Bộ phận này được thiết kế để điều tiết lượng khí trích phù hợp với các mức nhiệt độ môi trường khác nhau (lưu lượng nhỏ nhất ở nhiệt độ cao, như mùa hè ở hoang mạc; lưu lượng lớn nhất ở nhiệt độ thấp, như mùa đông ở Bắc Cực). Luồng khí trích ra sẽ đẩy piston, từ đó vận hành bệ khóa nòng. Mỗi khẩu súng đều đi kèm với một nòng súng dự phòng có thể thay thế nhanh chóng khi nòng chính bị quá nhiệt trong quá trình bắn kéo dài, mặc dù các dòng súng đời sau đã được trang bị nòng mạ crôm giúp giảm thiểu nhu cầu cần nòng dự phòng. Để thay nòng, xạ thủ chỉ cần xoay lẫy khóa ở phía trước hộp tiếp đạn để mở khóa nòng súng. Phần tay xách phía trên nòng được dùng để cầm và tháo nòng súng đang nóng ra mà không làm bỏng tay xạ thủ.

Súng máy Bren nạp đạn bằng hộp tiếp đạn, điều này làm chậm tốc độ bắn thực tế và đòi hỏi phải thay đạn thường xuyên hơn so với các loại súng máy nạp bằng dây băng của Anh như súng máy .303 Vickers lớn hơn. Tốc độ bắn chậm hơn giúp ngăn chặn tình trạng quá nhiệt quá nhanh của nòng súng làm mát bằng không khí của Bren, và súng Bren nhẹ hơn nhiều so với súng máy nạp bằng dây băng vốn thường có vỏ bọc làm mát (thường chứa chất lỏng). Hộp tiếp đạn cũng giúp đạn không bị bám bẩn, vốn là một vấn đề nhức nhối đối với súng Vickers sử dụng băng đạn bằng vải 250 viên. Hệ thống thước ngắm cơ khí được đặt lệch sang bên trái để tránh bị hộp tiếp đạn gắn trên đỉnh súng che khuất tầm nhìn. Vị trí đặt thước ngắm này đồng nghĩa với việc súng Bren chỉ có thể bắn từ vai phải.[11]

Lịch sử phục vụ

Chiến tranh Thế giới thứ hai

Tổ chức và cấp phát

Trong quân đội Anh và các nước thuộc khối Thịnh vượng chung, súng máy Bren thường được cấp phát theo tỷ lệ một khẩu cho mỗi tiểu đội bộ binh.[12] Một tiểu đoàn bộ binh cũng có một đại đội "xe cơ giới" được trang bị các xe thiết giáp Universal Carrier, mỗi chiếc xe này đều mang theo một khẩu súng máy Bren.[13] Từ năm 1944, các tiểu đoàn dù được bổ sung thêm một khẩu Bren trong trung đội chống tăng.[14] Một "Đại đội Đột kích" gồm 66 người của Đặc nhiệm Anh có biên chế danh nghĩa là bốn khẩu súng máy Bren. Nhận thức được nhu cầu gia tăng hỏa lực ở cấp tiểu đội, Quân đội Anh đã nỗ lực cấp phát súng máy Bren với số lượng lớn, hướng tới mục tiêu đề ra là cứ bốn binh nhì thì có một khẩu Bren.

Súng máy Bren được vận hành bởi một tổ hai người, đôi khi do một Hạ sĩ chỉ huy đóng vai trò là "tổ súng máy" của tiểu đội bộ binh, phần còn lại của tiểu đội tạo thành "tổ súng trường". Xạ thủ chính hay "Số 1" chịu trách nhiệm mang vác và nổ súng máy Bren, còn pháo thủ tiếp đạn hay "Số 2" mang theo các hộp tiếp đạn bổ sung, một nòng súng dự phòng và một bộ dụng cụ sửa chữa.[15] Xạ thủ Số 2 hỗ trợ nạp đạn cho súng, thay nòng khi bị quá nhiệt và hỗ trợ phát hiện các mục tiêu cho Số 1.

Tư thế bắn và sử dụng trong đột kích

Súng máy Bren thường được bắn từ tư thế nằm sấp bằng cách sử dụng chân tỳ bipod gắn kèm vững chãi.[16] Đôi khi, xạ thủ súng máy Bren sẽ sử dụng vũ khí này ngay khi đang di chuyển với sự hỗ trợ của dây đeo súng, tương tự như cách dùng súng trường tự động, hoặc bắn từ các tư thế đứng hay quỳ. Bằng cách sử dụng dây đeo, các binh sĩ Úc thường xuyên bắn súng máy Bren từ vị trí kẹp hông, chẳng hạn như trong chiến thuật vừa đi vừa bắn-một hình thức hỏa lực áp chế khi đang tiến quân trong các đợt tấn công đột kích. Một Huân chương Chữ thập Victoria đã được trao cho Binh nhì Bruce Kingsbury vì hành động dũng cảm khi sử dụng súng theo cách này tại Trận Isurava ở New Guinea vào năm 1942, trong cuộc rút lui chiến đấu gian khổ của quân Úc khỏi Kokoda.[17]

Trang bị của mỗi binh sĩ Anh thông thường bao gồm hai hộp tiếp đạn dành cho khẩu súng máy Bren của tiểu đội mình. Các túi đựng đạn cỡ lớn trên Hệ thống trang bị dây đai M1937 (1937 pattern web equipment) được thiết kế dựa trên kích thước của hộp tiếp đạn Bren. Súng máy Bren được coi là vũ khí chủ lực của một tiểu đội bộ binh, cung cấp phần lớn sức mạnh hỏa lực cho toàn đội. Do đó, binh sĩ thuộc tất cả các cấp bậc đều được yêu cầu phải trở thành "những chuyên gia trong việc sử dụng loại súng này".[18]

Tầm bắn, tốc độ bắn và kỷ luật hỏa lực

Súng máy Bren có tầm bắn hiệu quả khoảng 600 thước Anh (550 m) khi bắn ở tư thế nằm sấp bằng chân tỳ bipod.[19][e] Khi sử dụng chân tỳ, súng có thể tạo ra một vùng hỏa lực bao phủ kích thước 115 yd (105 m) x 12 m (39 ft) ở khoảng cách 1.000 yd (910 m). Tốc độ bắn "nhanh" 120 viên/phút (bốn hộp tiếp đạn một phút) có thể được duy trì liên tục nếu tiến hành thay nòng sau mỗi mười hộp tiếp đạn (hoặc giảm tốc độ bắn) để hạn chế độ mòn cơ học; tuy nhiên, học thuyết quân sự quy định xạ thủ chỉ nên bắn các loạt ngắn từ 4-5 viên.[20] Binh sĩ cũng được hướng dẫn bắn từng viên một giả lập hỏa lực súng trường để che giấu sự hiện diện của một vũ khí tự động trong đội hình.[21]

Trọng lượng, mang vác và độ bộc lộ trên chiến trường

Đối với một khẩu súng máy hạng nhẹ trong giai đoạn giữa hai cuộc thế chiến và đầu Thế chiến II, súng máy Bren có trọng lượng ở mức trung bình. Trong các chuyến hành quân dài ngày tại khu vực không có giao tranh, súng thường được tháo rời một phần và chia cho hai binh sĩ cùng mang vác. Hộp tiếp đạn gắn trên đỉnh súng bị rung lắc và chuyển động trong khi bắn làm cho vũ khí này dễ bị lộ hơn trong chiến đấu; nhiều xạ thủ súng máy Bren đã sử dụng sơn hoặc vải bạt tự chế để ngụy trang cho phần hộp tiếp đạn nhô cao lộ liễu này.[22]

Nạp đạn và hất vỏ đạn

Hộp tiếp đạn 30 viên trên thực tế thường chỉ được nạp 27 hoặc 28 viên để ngăn ngừa tình trạng nghẹn đạn, và đối với những hộp tiếp đạn phải tích trữ đầy trong thời gian dài, con số này chỉ là 20 viên để tránh làm mỏi lò xo đẩy đạn.[23] Quá trình nạp đạn vào hộp tiếp đạn đòi hỏi sự cẩn thận để đảm bảo viên đạn sau luôn nằm phía trước viên đạn trước, tránh cho phần gờ của đạn .303 British chồng lên nhau sai quy cách dẫn đến kẹt đạn. Các vỏ đạn sau khi bắn được hất xuống phía dưới, đây là một cải tiến lớn so với súng máy Lewis (vốn hất vỏ đạn sang bên mạn), vì ánh chớp phản chiếu của vỏ đạn bay trong không trung có thể làm lộ vị trí ẩn nấp của khẩu đội.[24]

Độ tin cậy và danh tiếng trên chiến trường

Nhìn chung, Bren được đánh giá là một khẩu súng máy nhẹ rất tin cậy và hiệu quả, mặc dù tại Mặt trận Bắc Phi, các báo cáo cho thấy súng thường xuyên bị kẹt trừ khi được giữ thật sạch, không để cát hay bụi bẩn lọt vào bên trong cơ cấu bệ khóa nòng.[19] Súng rất được binh sĩ Anh ưa chuộng nhờ độ tin cậy và hiệu năng chiến đấu cao. Chất lượng vật liệu chế tạo xuất sắc giúp hạn chế tối đa việc kẹt đạn. Khi súng bị nghẹn do cặn bẩn bám lại sau khi bắn loạt dài, xạ thủ có thể điều chỉnh bộ điều tiết ga bốn vị trí để tăng lượng khí trích đẩy vào piston, giúp tăng lực vận hành cho toàn bộ cơ cấu truyền động.

Để xoay được bộ điều tiết này, nòng súng cần phải được mở khóa và đẩy nhẹ về phía trước. Binh lính thời đó thậm chí còn truyền tai nhau rằng mọi sự cố với súng máy Bren đều có thể được giải quyết đơn giản bằng cách đập mạnh vào súng, xoay bộ điều tiết ga hoặc thực hiện cả hai công đoạn trên. Loại súng này "được số đông công nhận là khẩu súng máy nhẹ xuất sắc nhất thế giới trong thời kỳ của nó, và là vũ khí hữu dụng nhất được viện trợ cho lực lượng kháng chiến 'Maquis' (Pháp) ... súng bắn chính xác lên đến 1.000 mét, có khả năng chịu đựng va đập khắc nghiệt tốt ngay cả khi rơi vào tay những người sử dụng thiếu kỹ năng. Các chiến sĩ kháng chiến liên tục gửi yêu cầu được thả dù tiếp tế súng máy Bren ở mức tối đa".[25]

Chi phí, tổn thất và nỗ lực đơn giản hóa thời chiến

Tập tin:Tysklandsbrigaden, øvelse Skandia III - Fo30141603020010.jpg
Súng máy Bren trang bị hộp tiếp đạn dạng đĩa tròn 100 viên tháo rời. Khi lắp loại hộp tiếp đạn này, hệ thống thước ngắm nguyên bản của súng không thể sử dụng được.[26]

Mặc dù rất được lòng binh sĩ, mức giá thành đắt đỏ lên tới 40 bảng Anh cho mỗi khẩu súng là một vấn đề đau đầu đối với giới lãnh đạo Quân đội Anh. Mối lo ngại này càng lớn hơn khi người ta phát hiện ra rằng trong số 30.000 khẩu súng máy Bren được cấp phát cho Lực lượng Viễn chinh Anh (BEF), chỉ có vỏn vẹn 2.300 khẩu được mang trở lại Vương quốc Anh sau thảm bại tại Pháp.

Hệ quả là việc tiết kiệm chi phí và tăng tốc độ sản xuất trở thành hai mục tiêu cốt lõi cho các thiết kế biến thể sau này. Phiên bản Bren Mk II đã đơn giản hóa quy trình chế tạo bằng cách thay thế thước ngắm lật dạng núm xoay bằng thước ngắm dạng thang lật, cố định chiều dài chân tỳ bipod, tối giản báng súng bằng gỗ, giảm tỷ lệ sử dụng thép không gỉ cùng nhiều bước lược bỏ khác giúp giảm từ 20% đến 25% chi phí; mẫu Mk II được phê duyệt vào tháng 9 năm 1940 và đi vào sản xuất từ năm 1941.

Trong khi thiết kế Bren Mk III cũng hướng tới cắt giảm chi phí, nó đồng thời mang mục tiêu song song là giảm trọng lượng để phù hợp với môi trường chiến tranh rừng rậm; sản phẩm hoàn thiện cuối cùng có trọng lượng đạt 19 lb 5 oz (8,8 kg), nhẹ hơn 3 pound so với thiết kế Bren Mk I nguyên bản; mẫu này được chuẩn hóa vào tháng 7 năm 1944 với tổng sản lượng đạt 57.600 khẩu.

Cũng được chuẩn hóa vào tháng 7 năm 1944 là phiên bản Bren Mk IV với trọng lượng được cắt giảm sâu hơn nữa xuống còn 19 lb 2 oz (8,7 kg); tuy nhiên, mẫu súng này mãi đến tháng 7 năm 1945 mới được đưa vào dây chuyền sản xuất và chỉ có 250 khẩu được chế tạo trước khi chiến tranh kết thúc. Nếu như ban đầu nhà máy Enfield chỉ có thể xuất xưởng vỏn vẹn 400 khẩu Bren Mk I mỗi tháng, thì nhờ các nỗ lực đơn giản hóa thiết kế đa dạng, sản lượng đã tăng vọt lên tới 1.000 khẩu súng mỗi tuần vào năm 1943. Các dòng súng sản xuất giai đoạn sau này cũng sở hữu nòng mạ crôm giúp giảm lực ma sát, ngăn ngừa hiện tượng quá nhiệt và giảm tần suất phải thay nòng nhanh ngoài mặt trận.[27]

Sản xuất tại các nước thuộc khối Thịnh vượng chung

Súng máy Bren cũng được sản xuất ở cả bên ngoài lãnh thổ Vương quốc Anh.

Tại Canada, nhà máy John Inglis ở Toronto bắt đầu trang bị dây chuyền cơ sở vật chất để sản xuất súng từ năm 1938; khẩu súng đầu tiên trong tổng số 186.000 khẩu đã hoàn thành vào tháng 3 năm 1940.

Một số khẩu súng Bren do hãng Inglis chế tạo sử dụng buồng đạn dành cho cỡ đạn 7.92mm Mauser; số vũ khí này được thiết kế để xuất khẩu cho lực lượng Quốc dân Đảng Trung Quốc thay vì cấp phát cho quân đội Anh và khối Thịnh vượng chung.

Tại Úc, Nhà máy Vũ khí Nhỏ Lithgow ở bang New South Wales bắt đầu chế tạo súng máy Bren từ năm 1940; tổng cộng có 17.249 khẩu đã xuất xưởng.

Tại Ấn Độ, Nhà máy Súng trường Ishapore bắt đầu chế tạo súng máy Bren từ năm 1942 (trước thời điểm này nhà máy chuyên sản xuất súng máy Vickers-Berthier), và tiếp tục duy trì dây chuyền sản xuất chúng trong nhiều thập kỷ sau khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc.

Nhiều khẩu súng Bren sản xuất tại Ishapore đã được chuyển giao cho các binh sĩ Ấn Độ, những người đã mất một số lượng lớn vũ khí tự động trong các chiến dịch thảm bại chống lại quân Nhật tại Malaya và Miến Điện; ví dụ như Sư đoàn 17 Bộ binh Ấn Độ chỉ còn lại vỏn vẹn 56 khẩu súng Bren sau khi tháo chạy khỏi Miến Điện vào năm 1942.[27]

Giá ba chân, xe cơ giới và hỏa lực cố định

Tập tin:1944 Bren light machine gun.jpg
Một khẩu súng máy Bren được lắp trên giá ba chân, năm 2010

Một bệ gắn giá ba chân với góc quét ngang 42 độ đã được trang bị nhằm cho phép súng Bren có thể sử dụng trên các "tuyến hỏa lực cố định" phục vụ nhiệm vụ bắn phòng thủ tại các khu vực được xác định trước trong đêm tối hoặc khi tầm nhìn bị che khuất bởi sương mù và khói.

Súng Bren cũng được sử dụng trên nhiều loại xe cơ giới, bao gồm xe thiết giáp xích Universal Carrier – vốn còn được biết đến rộng rãi với tên gọi "Xe chở súng Bren" (Bren Gun Carrier) – cũng như trên các loại xe tăng và xe bọc thép. Chiếc xe Carrier được thiết kế nhằm tận dụng "lớp giáp, tốc độ và khả năng cơ động việt dã" để đưa tổ súng máy vào vị trí chiến đấu, nơi họ sẽ xuống xe và nổ súng; việc bắn ngay từ trên xe chỉ được thực hiện trong các tình huống khẩn cấp.

Súng Bren không thể sử dụng làm vũ khí đồng trục trên các xe tăng, vì phần hộp tiếp đạn nhô cao làm hạn chế góc hạ nòng của súng và rất vướng víu khi xoay xở trong không gian chật hẹp của tháp pháo, do đó nó chỉ được dùng trên các giá quay bệ súng ngoài trời (pintle mount). (Thay vào đó, các loại súng máy nạp bằng dây băng như súng máy nhẹ Vickers hoặc Besa – một thiết kế súng máy khác của Tiệp Khắc được người Anh tiếp nhận – mới được cấu hình làm vũ khí đồng trục).

Một vấn đề khá hy hữu đã xảy ra khi súng Bren được bắn từ trên Xe bọc thép trinh sát Dingo; các vỏ đạn nóng có xu hướng bị hất thẳng xuống cổ của tài xế, do vị trí ngồi của tài xế nằm ngay cạnh giá súng pintle. Một chiếc túi vải bạt sau đó đã được thiết kế để hứng vỏ đạn nhằm khắc phục vấn đề này, nhưng có vẻ nó rất hiếm khi được cấp phát ngoài mặt trận.[24]

Vai trò phòng không

Tập tin:Anti-aircraft BrenGun.jpg
Binh sĩ Quân đội Ấn Độ thuộc Anh vận hành súng máy Bren trên giá ba chân phòng không tại Mặt trận Bắc Phi, tháng 4 năm 1941

Súng Bren cũng được triển khai cho vai trò phòng không bằng cách tái cấu hình giá ba chân sang trạng thái bắn góc cao. Ngoài ra còn có một số thiết kế giá đỡ ít tính cơ động hơn, bao gồm giá đỡ kiểu Gallows (giá treo) và Mottley. Một loại hộp tiếp đạn dạng đĩa 100 viên cũng có sẵn để trang bị cho súng Bren khi thực hiện nhiệm vụ phòng không.[28]

Các vũ khí liên quan và phục vụ quốc tế

Tổ tiên trực tiếp của súng Bren là mẫu ZB vz. 26 của Tiệp Khắc cũng được sử dụng trong Thế chiến II bởi các lực lượng Đức và Romania, bao gồm cả các đơn vị thuộc lực lượng Waffen-SS. Nhiều khẩu súng máy nhẹ ZB cỡ đạn 7.92 mm đã được vận chuyển đến Trung Quốc, nơi chúng được sử dụng đầu tiên để chống lại quân Nhật trong Thế chiến II, và sau đó chống lại lực lượng Liên Hợp Quốc tại Triều Tiên, bao gồm cả các đơn vị của Anh và khối Thịnh vượng chung.

Một số vũ khí ZB của Séc tịch thu từ Trung Quốc cũng được sử dụng trong giai đoạn đầu của cuộc Chiến tranh Việt Nam. Việc sản xuất một mẫu súng sử dụng cỡ đạn 7.92mm dành cho thị trường Viễn Đông đã được thực hiện bởi hãng Inglis của Canada.[29] Súng Bren cũng được bàn giao cho Liên Xô như một phần của chương trình Lend-Lease.[30]

Hậu chiến

Quân đội Anh và quân đội của nhiều quốc gia thuộc khối Thịnh vượng chung đã sử dụng súng Bren trong Chiến tranh Triều Tiên, Tình trạng khẩn cấp Malaya, Cuộc nổi dậy Mau MauXung đột Indonesia–Malaysia, nơi nó rất được ưa chuộng hơn cả loại súng thay thế nạp bằng dây băng là L7 GPMG nhờ vào trọng lượng nhẹ hơn. Trong cuộc xung đột tại Bắc Ireland (1969–1998), một tiểu đội Quân đội Anh thường mang theo phiên bản L4A4 của súng Bren làm vũ khí tự động cấp tiểu đội vào thập niên 1970.[31] Trong suốt cuộc Chiến tranh Falklands năm 1982, Lực lượng Đặc nhiệm số 40 Hải quân Hoàng gia mang theo một khẩu L4A4 cho mỗi tiểu đội bên cạnh súng L7 GPMG.[32] Lần triển khai tác chiến cuối cùng của súng Bren trong Quân đội Anh với số lượng hạn chế là tại cuộc Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất vào năm 1991.[33]

Tập tin:Armamento - Museo de Armas de la Nación 09.JPG
Một khẩu súng máy Bren được trưng bày tại bảo tàng của Argentina

Khi Quân đội Anh chuyển sang áp dụng tiêu chuẩn cỡ đạn 7,62×51mm NATO, súng Bren đã được thiết kế lại sang cỡ nòng 7.62mm, lắp bệ khóa nòng, nòng súng và hộp tiếp đạn mới. Nó được định danh lại là "Súng máy hạng nhẹ L4" với nhiều phiên bản phụ cấu hình khác nhau và tiếp tục phục vụ trong Quân đội Anh cho đến tận thập niên 1990. Một bộ phận loa che lửa có rãnh dọc tương tự như trên súng trường L1 và súng máy đa chức năng L7 đương thời đã được lắp đặt để thay thế cho bộ loa che lửa hình nón cũ. Sự chuyển đổi từ đạn có gờ sang đạn không gờ cùng hộp tiếp đạn gần như thẳng đứng đã cải thiện đáng kể độ tin cậy khi nạp đạn, đồng thời cho phép súng sử dụng chung hộp tiếp đạn 20 viên của súng trường tự động L1A1 SLR. Các xạ thủ súng Bren sử dụng mẫu L4A1 thông thường sẽ được cấp phát loại hộp tiếp đạn 30 viên từ khẩu L2A1.

Việc hoàn tất quá trình chuyển dịch hoàn toàn sang tiêu chuẩn cỡ đạn 5,56×45mm NATO đã dẫn đến việc Quân đội Anh đưa súng Bren/L4 ra khỏi danh mục vũ khí phê duyệt và sau đó chính thức rút nó khỏi biên chế phục vụ.

Phiên bản Bren Mark III vẫn tiếp tục được sử dụng với số lượng hạn chế trong lực lượng Dự bị Lục quân thuộc Lực lượng Phòng vệ Ireland cho đến tận năm 2006, khi nó bị thay thế bởi súng 7.62 mm GPMG. Súng Bren rất được lòng các binh sĩ trực tiếp khai hỏa (thường được gọi là các Brenner) vì tính mỏng nhẹ, độ bền cao và nổi tiếng về độ chính xác. Lần sử dụng đáng chú ý nhất của súng Bren bởi các lực lượng Ireland là trong Khủng hoảng Congo vào thập niên 1960, thời điểm súng Bren đóng vai trò vũ khí tự động cấp tiểu đội tiêu chuẩn của quân đội chính quy.

Các khẩu súng Bren cũng nằm trong biên chế của Lực lượng An ninh Rhodesia trong cuộc Chiến tranh du kích Rhodesia, bao gồm một số lượng đáng kể súng được hoán đổi sang cỡ đạn 7.62mm tương tự như các mẫu của Quân đội Anh.[34] Các khẩu súng Bren của Rhodesia tiếp tục xuất hiện thường xuyên trong các trận chiến cho đến thập niên 1970, khi chúng phần lớn bị thay thế bởi khẩu FN MAG.[35] Một vài khẩu đã bị tịch thu và cấp phát lại bởi Quân đội Cách mạng Nhân dân Zimbabwe (ZIPRA).[36] Một số khẩu vẫn còn phục vụ trong lực lượng dự bị của Cảnh sát Nam Phi thuộc Anh vào năm 1980, và được chuyển giao cho Cảnh sát Cộng hòa Zimbabwe sau khi quốc gia này giành được độc lập được quốc tế công nhận.[37] Các cảnh sát viên Zimbabwe tiếp tục triển khai súng máy Bren trong các chiến dịch chống lại những lực lượng bất đồng chính kiến ZIPRA suốt những năm đầu thập niên 1980.[37]

Lực lượng Phòng vệ Nam Phi cũng đã triển khai súng máy Bren trong cuộc Chiến tranh giành độc lập Namibia song song với mẫu FN MAG hiện đại hơn cho đến tận năm 1978..[38]

Các biến thể

Mark 1

Được đưa vào sử dụng từ tháng 9 năm 1937; đây là mẫu ZGB 33 nguyên bản do Tiệp Khắc thiết kế. Chiều dài tổng thể 45,5 inch (1,16 m), chiều dài nòng súng 25 inch (0,64 m). Trọng lượng 22 lb 2 oz (10,0 kg).

Đặc điểm:

  • Thước ngắm lỗ ngắm dạng núm xoay tròn
  • Dây đeo báng súng để quàng qua vai khi bắn
  • Tay nắm phụ phía sau dưới báng súng
  • Chân tỳ bipod có thể kéo dài thu ngắn (thụt thò)
  • Tay kéo bệ khóa nòng có thể gập gọn

Một khẩu Bren Mk 1 cỡ đạn .303 do nhà máy Enfield chế tạo đã được chuyển đổi sang sử dụng cỡ đạn 7,92×57mm Mauser vào năm 1938, do thời điểm đó xuất hiện đề xuất về khả năng Quân đội Anh muốn chuyển dịch sang sử dụng loại đạn không gờ cho các dòng súng máy.[i]

Mark 2

Được đưa vào sử dụng từ năm 1941. Đây là một phiên bản đơn giản hóa của mẫu Mk 1 nhằm phù hợp hơn cho việc tăng tốc sản xuất thời chiến, bằng cách lược bỏ các đặc điểm thiết kế nguyên bản nhưng về sau qua thực tế chiến đấu chứng minh là không cần thiết.[ii] Phiên bản này được sản xuất bởi hãng Inglis của Canada và Tập đoàn Monotype thông qua một mạng lưới các nhà máy vệ tinh chuyên chế tạo linh kiện rời. Biến thể này đôi khi còn được gọi là mẫu súng của "thợ gara" (Garage hands). Chiều dài tổng thể 45,5 inch (1,16 m), chiều dài nòng súng 25 inch (0,64 m). Trọng lượng 23 lb 3 oz (10,5 kg).

Đặc điểm:

  • Thước ngắm dạng thang lật
  • Lược bỏ dây đeo báng súng
  • Lược bỏ tay nắm phụ dưới báng súng
  • Chân tỳ bipod cố định chiều cao (không thụt thò)
  • Tay kéo bệ khóa nòng cố định (không gập)

Mẫu Bren Mk 2 đã được đơn giản hóa rất nhiều ở phần thân súng; mặc dù bộ phận này vẫn được phay cắt ra từ một khối thép đặc, nhưng nó đòi hỏi ít công đoạn phay hơn đáng kể so với mẫu Mk 1, giúp súng có một diện mạo thanh thoát và gọn gàng hơn. Thiết kế của chân tỳ bipod cũng được tối giản và không còn các nấc kéo dài chân. Hầu hết chân tỳ của mẫu Mk 2 có hình dáng tương tự như một khung chữ A đơn giản và có độ bền bỉ cao trước các va đập ngoài mặt trận ("soldier proof"). Phiên bản Mk 2 này cũng sở hữu tốc độ bắn lý thuyết cao hơn một chút so với mẫu Mk 1.

Các bộ phận bằng gỗ trên mẫu Mk 2 được tối giản hóa bằng cách bớt đi các đường nét chạm trổ cầu kỳ hay tạo dáng công thái học, giúp đẩy nhanh tiến độ trong quy trình sản xuất. Phần nòng súng cũng được đơn giản hóa nhờ bộ phận loa che lửa có thể tháo rời dạng thẳng (không giật cấp) và trong một số trường hợp, phần đầu nòng súng được xử lý nhám mờ thay vì đánh bóng loáng. Tấm đế báng súng có giảm chấn lò xo của mẫu Mk 1 được loại bỏ và thay thế bằng một tấm đế bằng kim loại dập đơn giản.

Phiên bản Bren Mk 2 do hãng Inglis sản xuất sử dụng buồng đạn .30-06 Springfield (7,62 mm) và được biết đến với tên gọi M41, cũng đã được sản xuất tại Đài Loan sau khi Nội chiến Trung Quốc kết thúc.[39]

Mark 3

Một phiên bản súng máy Bren có nòng ngắn hơn và trọng lượng nhẹ hơn do nhà máy Enfield chế tạo từ năm 1944, nhằm phục vụ cho cuộc chiến tại mặt trận Viễn Đông và cấp phát cho các Lực lượng Lính dù. Mẫu súng này tương tự như phiên bản Mk 2 nhưng được mang trở lại các đặc điểm mỏng nhẹ của dòng Mk 1 đời đầu, với đặc điểm nhận dạng chính là phần nòng ngắn hơn đáng kể và có một vùng khía rãnh răng cưa đặt ở ngay phía trước đai ốc hãm nòng. Chiều dài tổng thể 42,9 in (1,09 m), chiều dài nòng súng 22,25 in (0,565 m). Trọng lượng 19 lb 5 oz (8,8 kg).

Mark 4

Cấu hình kỹ thuật tương tự như mẫu Mk 3, nhưng đây là phiên bản hoán đổi cải tiến trực tiếp từ các khẩu Mk 2 sẵn có. Chiều dài tổng thể 42,9 in (1,09 m), chiều dài nòng súng 22,25 in (0,565 m). Trọng lượng 19 lb 2 oz (8,7 kg).

Biến thể Bren cỡ đạn .280

Được thiết kế nhằm đồng bộ sử dụng chung với dòng Súng trường EM-2, một số lượng súng máy Bren (chủ yếu là các khẩu Mk 2 do hãng Inglis sản xuất được lắp cụm khóa nòng của đạn 7.92mm Mauser) đã được hoán đổi cải tiến để bắn loại đạn .280 British. Chúng có thể sử dụng hộp tiếp đạn 20 viên từ súng trường EM-2 hoặc một loại hộp tiếp đạn 30 viên thiết kế mới. Cả dự án hoán đổi này lẫn khẩu súng trường EM-2 đi kèm sau đó đều bị đổ bể, do áp lực chuẩn hóa vũ khí trong khối NATO từ phía Mỹ hướng tới dòng đạn có kích thước lớn hơn là 7,62×51mm NATO.[40]

L4

Tập tin:Machine Gun (8037159644).jpg
Một khẩu Bren L4A1 gắn trên giá bệ pintle với bộ phận loa che lửa và hộp tiếp đạn đặc trưng.
Tập tin:Operation URGENT FURY DN-SN-84-11981.jpg
Các khẩu súng máy Bren thuộc dòng L4 bị tịch thu từ quân đội Grenada trong cuộc cuộc xâm lược Grenada của Mỹ năm 1983. Các tấm đệm hình tròn phía dưới cửa nhận hộp tiếp đạn và vết xóa ký tự "BREN Mk 3" cho thấy đây là biến thể L4A2 hoặc mẫu L4A4 đời sau.

Sau khi tiếp nhận cỡ đạn 7,62mm NATO và súng trường FN FAL (sau này là mẫu L1A1 SLR), nước Anh đã cân nhắc ngắn hạn việc đưa vào sử dụng một phiên bản súng trường tự động cấp tiểu đội của khẩu FAL. Tuy nhiên, các cuộc thử nghiệm đối với phiên bản "X8" này chỉ ra rằng nhiệm vụ tương tự có thể được thực hiện hiệu quả hơn (và với chi phí thấp hơn) bằng cách hoán đổi các khẩu súng máy Bren sẵn có sang cỡ đạn 7,62mm NATO. Sau một vài cấu hình thử nghiệm ban đầu, dòng súng hoán cải chính thức được biết đến rộng rãi dưới tên gọi súng máy L4 và bắt đầu được triển khai ngoài mặt trận từ năm 1955 trở về sau.[41] Có thể dễ dàng nhận biết các khẩu Bren L4 nhờ phần hộp tiếp đạn thẳng hơn (nhưng vẫn có độ cong nhẹ) và bộ phận loa che lửa hình nón nguyên bản đã được thay thế bằng một mẫu loa che lửa hình trụ có rãnh dọc (tương tự như loại dùng trên súng trường L1A1 và súng máy đa chức năng L7 GPMG). Hộp tiếp đạn 30 viên của L4 có thể hoán đổi hoàn toàn với hộp tiếp đạn 20 viên của súng trường L1A1 SLR; bên cạnh đó, L4 cũng có thể nạp được loại hộp tiếp đạn 30 viên từ các phiên bản súng trường tự động cấp tiểu đội như L2A1 của Úc và C2A1 của Canada. Dòng L4 tiếp tục phục vụ trong quân đội Anh cho đến tận thập niên 1990.[42]

Các định danh dòng L4[43]
Định danh Mô tả chi tiết
L4A1 Phiên bản hoán cải từ mẫu Bren Mk 3, ban đầu được gọi là X10E1, trang bị chân tỳ bipod của Mk 1 và đi kèm hai nòng súng bằng thép. Có khoảng 1.500 khẩu đã được hoán cải; một sai sót trong thiết kế khiến súng có thể nạp được hộp tiếp đạn từ khẩu FN FAL nguyên bản của Bỉ nhưng lại không tương thích với hộp tiếp đạn của khẩu L1A1 sản xuất tại Anh sau đó.
L4A2 Phiên bản hoán cải từ mẫu Bren Mk 3, ban đầu được gọi là X10E2, trang bị chân tỳ bípod mỏng nhẹ hơn và đi kèm hai nòng súng bằng thép. Các miếng đệm hình tròn được gia cố thêm trên thân súng ở phiên bản này và các dòng đời sau giúp nâng cao khả năng chịu lực cho phần gờ môi hộp tiếp đạn. Biến thể này đã có thể nạp được hộp tiếp đạn L1A1 như thiết kế kỳ vọng ban đầu. Khoảng 7.600 khẩu đã được hoán cải.
L4A3 Phiên bản hoán cải từ mẫu Bren Mk 2, sở hữu các đặc tính kỹ thuật tương tự như dòng L4A2.
L4A4 Biến thể phát triển từ mẫu L4A2 nhưng chỉ đi kèm một nòng súng bằng thép mạ crôm phía trong.[iii] Có 6.900 khẩu được nâng cấp bằng cách thay nòng trực tiếp từ các khẩu L4A2 sẵn có, trong khi 500 khẩu khác là các bản hoán cải hoàn toàn mới. L4A4 là phiên bản chủ lực cuối cùng phục vụ trong quân đội Anh.
L4A5 Biến thể phát triển từ mẫu L4A3 sở hữu một nòng súng mạ crôm, được chế tạo dành riêng cho Hải quân Hoàng gia Anh.
L4A6 Biến thể nâng cấp từ mẫu L4A1 với trang bị một nòng súng bằng thép mạ crôm.
L4A7 Phiên bản hoán cải dựa trên dòng Bren Mk 1 cũ. Dự án đã dừng lại và không vượt qua được giai đoạn nguyên mẫu thử nghiệm.
L4A8, L4A9 Các biến thể được tích hợp thêm các giá gắn hệ thống thước ngắm phòng không và kính ngắm ban đêm, được triển khai như một biện pháp khẩn cấp sau cuộc tấn công bằng bom từ trực thăng của tổ chức PIRA.[44] Trên thực tế, chỉ có phiên bản L4A9 là được hiện thực hóa ngoài đời thực với số lượng chế tạo rất nhỏ.

L54A1

Phiên bản súng chuyên dụng cho mục đích huấn luyện thao tác được hoán cải từ các mẫu súng máy Bren dùng đạn .303 cũ. Phiên bản này phần lớn được cấp phát cho Lực lượng Học viên Sĩ quan Dự bị Anh, do các đơn vị này vẫn tiếp tục duy trì huấn luyện với súng máy Bren .303 ngay cả sau khi lực lượng quân đội chính quy đã chuyển sang sử dụng dòng Bren L4 và súng máy đa chức năng L7 GPMG.[45][46]

Súng máy Besal

Súng máy nhẹ Besal hay súng máy Faulkner là một thiết kế vũ khí khẩn cấp lấy cảm hứng từ súng máy Bren. Súng được phát triển trong bối cảnh cuộc khủng hoảng sau sự kiện nước Pháp sụp đổ và cuộc di tản Dunkirk, nơi Lực lượng Viễn chinh Anh đã bỏ lại gần 30.000 khẩu súng máy Bren. Thêm vào đó, giới chức Anh cũng lo ngại về tính dễ bị tổn thương nếu cơ sở sản xuất súng máy Bren duy nhất và nổi tiếng bấy giờ là Nhà máy Vũ khí Lục quân Hoàng gia Enfield bị oanh tạc. Được phát triển vào năm 1940 bởi Harry Faulkner thuộc Công ty Birmingham Small Arms (BSA), khẩu Besal có ngoại hình rất giống súng máy Bren, nhưng được tính toán để đơn giản hóa tối đa các công đoạn phay cắt cơ khí, cho phép bất kỳ xưởng cơ khí dân sự nào cũng có thể chế tạo được. Khác với súng máy Bren, Besal chỉ có chế độ bắn hoàn toàn tự động thay vì có lẫy chọn chế độ bắn, đồng thời súng không có tay kéo bệ khóa nòng thông thường mà thay vào đó xạ thủ sẽ kéo cụm tay cầm súng ngắn để lên đạn. Ở cấu hình phiên bản Mark 2, súng Besal không có bất kỳ bộ phận nào có thể hoán đổi với súng máy Bren, nhưng nó vẫn được thiết kế để sử dụng chung các hộp tiếp đạn của súng máy Bren.

Súng máy Taden

Súng máy Taden là một dự án phát triển hậu chiến dựa trên súng máy Bren nhằm sử dụng loại đạn trung gian .280 British (7 mm) – cỡ đạn từng được đề xuất để thay thế cho đạn .303 trong quân đội Anh. Súng Taden nạp đạn bằng dây băng, có thể lắp tay cầm dạng "tay xẻng" (spade grip) để dùng làm súng máy hạng trung (MMG), hoặc lắp báng súng và tay cầm súng ngắn để dùng làm súng máy nhẹ (LMG); dự án này được kỳ vọng sẽ thay thế cho cả súng máy Bren lẫn súng máy Vickers cũ. Mặc dù hoạt động rất tin cậy, súng Taden đã không được chấp thuận tiếp nhận do áp lực chuẩn hóa vũ khí trong khối NATO từ phía Mỹ hướng tới dòng đạn có kích thước lớn hơn là 7,62×51mm NATO.[47]

X11

X11 là một biến thể súng máy nạp bằng dây băng được phát triển từ súng máy Bren bởi nhà máy RSAF Enfield sau khi dự án súng trường EM-2 và súng máy Taden bị hủy bỏ. Dự án này đã áp dụng các ý tưởng của súng Taden lên một cấu trúc vũ khí gốc Bren để sử dụng cỡ đạn tiêu chuẩn mới 7,62×51mm NATO. Trong các cuộc thử nghiệm sau đó, khẩu súng này xếp vị trí thứ hai, chịu thua trước mẫu FN MAG của Bỉ.[48]

Các phiên bản súng máy Bren bán tự động

Quân đội của nhiều quốc gia đã thanh lý các khẩu súng máy Bren cũ của họ dưới dạng vũ khí thặng dư (vũ khí rã sỉ). Các nguồn súng máy Bren thặng dư này đã được nhập khẩu vào Hoa Kỳ để bán cho những nhà sưu tầm vũ khí. Tuy nhiên, do luật súng đạn của Mỹ thắt chặt việc nhập khẩu vũ khí tự động, những khẩu súng này bắt buộc phải được tiêu hủy hợp pháp bằng cách cắt rời phần thân súng. Một số thợ súng tại Mỹ sau đó đã chế tạo lại các khẩu súng máy Bren bán tự động mới bằng cách hàn nối các mảnh thân súng bị cắt rời lại với nhau, đồng thời sửa đổi cơ cấu cơ khí để ngăn chặn việc lắp vừa các bộ phận bắn tự động, và gắn cụm cò mới chỉ có khả năng bắn bán tự động. Các chi tiết linh kiện còn lại của súng đều tận dụng từ súng máy Bren thặng dư gốc. Những khẩu "súng máy bán tự động" như vậy được coi là súng trường hợp pháp theo Luật Liên bang Hoa Kỳ và luật pháp của hầu hết các bang tại đây.

Sản xuất

Vương quốc Anh

Tập tin:VeronicaFoster-RonnieBrenGunGirl-smoke.jpg
Veronica Foster với biệt danh "Ronnie, cô gái súng máy Bren", là một biểu tượng mang tính hình mẫu của Canada dành cho những phụ nữ làm việc trong ngành sản xuất vũ khí thời chiến

Súng máy Bren được sản xuất tại Nhà máy Vũ khí Lục quân Hoàng gia đặt tại Enfield, Luân Đôn.[49] Những khẩu súng máy Bren đầu tiên xuất xưởng vào tháng 9 năm 1937, và tính đến tháng 12 cùng năm, tổng cộng đã có 42 khẩu được chế tạo. Sản lượng hàng tuần đạt mốc 300 khẩu Bren vào tháng 7 năm 1938, và tăng lên 400 khẩu mỗi tuần vào tháng 9 năm 1939.[50] Tập đoàn Monotype[f] chịu trách nhiệm sản xuất các khẩu Bren phiên bản Mark 2.[51] Tổng cộng, nhà máy Enfield đã chế tạo 220.000 khẩu súng máy Bren phiên bản Mark I,[52] 57.600 khẩu phiên bản Mark III,[53] và 250 khẩu phiên bản Mark IV.[54]

Canada

Công ty John Inglis đã nhận được một hợp đồng từ chính phủ Anh và Canada vào tháng 3 năm 1938 nhằm cung cấp 5,000 khẩu súng máy Bren cho Vương quốc Anh và 7.000 khẩu cho Canada. Cả hai quốc gia cùng chia sẻ khoản chi phí đầu tư ban đầu để xây dựng và đưa cơ sở sản xuất mới này vào hoạt động.[55] Quy trình sản xuất chính thức bắt đầu từ năm 1940; đến tháng 8 năm 1942, nhà máy Inglis đạt sản lượng trung bình 10.000 khẩu Bren mỗi tháng, và đã xuất xưởng tổng cộng 186.000 khẩu súng máy Bren thuộc tất cả các biến thể tính đến khi chiến tranh kết thúc, bao gồm cả 43.000 khẩu sử dụng buồng đạn 7,92×57mm Mauser để xuất khẩu cho lực lượng Quốc dân Đảng Trung Quốc.[56][57]

Ấn Độ

Tập tin:Keeping Watch.jpg
Một binh sĩ Ấn Độ được trang bị súng máy Bren cỡ nòng 7.62mm do nội địa sản xuất (Gun Machine 7.62mm 1B), năm 2009.

Vào năm 1942, Nhà máy Súng trường Ishapore bắt đầu tiến hành sản xuất súng máy Bren, và tiếp tục duy trì dây chuyền này trong một thời gian dài sau khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc, bao gồm cả việc chế tạo các biến thể sử dụng cỡ đạn 7,62×51mm NATO.[56] Một nhà máy phụ thuộc của cơ sở Ishapore đã được thiết lập tại Kanpur để sản xuất các khẩu súng máy Bren dùng đạn .303 British, trước khi được cải tiến hoán đổi buồng đạn để bắn cỡ đạn tiêu chuẩn 7.62 NATO vào năm 1964[58][59] dưới định danh súng máy nhẹ 1A.[60]

Trước khi chính thức đóng cửa dây chuyền sản xuất hoàn toàn, dòng súng máy Bren đã được chế tạo tại Ấn Độ dưới tên mã là biến thể 1B.

Úc

Vào năm 1940, Nhà máy Vũ khí Nhỏ Lithgow ở bang New South Wales bắt đầu đi vào sản xuất súng máy Bren, chế tạo được tổng cộng 17.249 khẩu súng tính đến năm 1945.[56]

Các quốc gia sử dụng

Tập tin:Member of the FFI.jpg
Được quan sát bởi hai cậu bé, một chiến sĩ thuộc Lực lượng Nội dậy Pháp (FFI) tạo dáng với khẩu Bren của mình tại Châteaudun, 1944.
Tập tin:Monument of the Martyrs 05 Algiers.jpg
Một bức tượng tại Đài kỷ niệm các Liệt sĩ, Algiers khắc họa hình ảnh một người lính với khẩu Bren.
Tập tin:Legeroefening in Duitsland. Soldaten met Bren-mitrailleur in stelling, Bestanddeelnr 913-0456.jpg
Các binh sĩ Hà Lan chuẩn bị vị trí súng máy Bren trong một cuộc tập trận, năm 1961.

Ghi chú

  1. ^ Sản xuất cho Trung Quốc trong Thế chiến II.
  2. ^ Sản xuất cho Đài Loan & Ý sau Thế chiến II
  3. ^ Dòng L4, súng máy 7.62mm 1B
  4. ^ Sản xuất cho Trung Quốc sau Thế chiến II
  5. ^ Tài liệu hướng dẫn huấn luyện của Quân đội Anh ghi nhận tầm bắn hiệu quả là 1000 yd
  6. ^ Một tổ hợp gồm các công ty Monotype, Daimler, Hercules Cycle, Climax Rock Drill, F. Tibbenham, British Fabricating Machine Co. và Sigmund Pumps
Ghi chú đặc biệt
  1. ^ Cỡ đạn 7.92mm chính là loại đạn mà các mẫu súng ZB 27 và ZB 30 nguyên bản dùng để gửi sang Vương quốc Anh phục vụ thử nghiệm. Các khẩu súng được chế tạo tại nhà máy BRNO hoán đổi sang đạn .303 cho các cuộc thử nghiệm của Anh được định danh là "ZGB 30", với chi phí 175 bảng Anh cho mỗi khẩu súng đi kèm hai nòng cùng các phụ tùng, phụ kiện. Những yêu cầu sửa đổi tiếp theo từ phía Anh đã dẫn đến sự ra đời của các mẫu ZGB 32, ZGB 33 và ZGB 34. Mẫu cuối cùng (ZGB 34) đã được chấp thuận đưa vào sản xuất hàng loạt dưới tên gọi Bren, với khẩu súng đầu tiên xuất xưởng tại nhà máy Enfield được hoàn thành vào tháng 9 năm 1937.
  2. ^ Một số đặc điểm xuất hiện trong thiết kế nguyên bản thời kỳ tiền chiến được nhận thấy là hiếm khi hoặc không bao giờ được sử dụng trong tác chiến thực tế. Ví dụ, xu hướng thịnh hành tại lục địa châu Âu thời đó khi bắn súng máy là xạ thủ sẽ đặt bàn tay trái không thuận của mình ở dưới báng súng để đỡ, trong khi thói quen của binh lính Anh lại là đặt bàn tay tự do này lên phía trên lưng báng súng, điều này khiến cho phần tay nắm phụ phía dưới báng súng trở nên thừa thãi.
  3. ^ Nòng súng mạ crôm giúp cải thiện đáng kể đặc tính chống mài mòn cơ học ở nhiệt độ cao, do đó việc mang theo nòng súng dự phòng ngoài mặt trận trở nên không còn cần thiết.

Tham khảo

  1. ^ Dugelby & Stevens 1999, tr. 125.
  2. ^ a b Grant 2013, tr. 17.
  3. ^ Foot, Richard (ngày 4 tháng 3 năm 2015). "Bren Gun". The Canadian Encyclopedia. Historica Canada. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2026.
  4. ^ a b "Gun Machine 7.62 MM '1B'". Ordnance Factory Board. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2012.
  5. ^ a b c d Grant 2013, tr. 66.
  6. ^ "Václav Holek". Encyklopedie Brna (bằng tiếng Séc). Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2023.
  7. ^ B.S.C. (ngày 10 tháng 2 năm 1977). "Brigadier F. H. Vinden". The Times. London.
  8. ^ GB 336690A, bằng sáng chế Tiệp Khắc số 36583
  9. ^ a b c d e "Vhu Praha". ngày 27 tháng 12 năm 2018.
  10. ^ Grant 2013, tr. 9–11.
  11. ^ Grant 2013, tr. 40.
  12. ^ Grant 2013, tr. 28.
  13. ^ Grant 2013, tr. 32.
  14. ^ "The British Parachute Battalion, 1944 to 1945". Bayonet Strength. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2026.
  15. ^ Grant 2013, tr. 29.
  16. ^ "Chapter 1, Section 1, para 102". Machine Gun 7.62mm L4A4. Manual of Land Warfare, Part 2, Infantry Training, Vol 4, Pam 6. Chính phủ Úc. 1979. It [the L4A4 Bren] is normally fired from the shoulder in the lying position, supported by the bipod, although it may be fired from other positions to engage targets at close range
  17. ^ "No. 35893". The London Gazette (Supplement). ngày 5 tháng 2 năm 1943. tr. 659.
  18. ^ "16. Light machine gun". Infantry Section Leading 1938 (ấn bản thứ 1940). The War Office. tháng 12 năm 1938. tr. 8.
  19. ^ a b Dunlap 1948.
  20. ^ Pamphlet No. 4, Light Machine Gun, Small Arms Training, Vol 1, War Office, tháng 6 năm 1939, tr. 4
  21. ^ Pamphlet No. 4 "Lesson 4 - Firing"
  22. ^ George 1948.
  23. ^ "630. Bren Gun – Filling of Magazines. (September, 1939)", Army Council Instructions, The National Archives, WO 293/24, "658. Magazines, Bren, .303-in., Machine Gun, Mark I – Filling of. (5 October 1939)", Army Council Instructions, The National Archives, WO 293/24
  24. ^ a b Grant 2013, tr. 41.
  25. ^ Hastings, Max (2013) [1981]. Das Reich: The March of the 2nd SS Panzer Division through France, June 1944 (ấn bản thứ 2). Minneapolis, United States: Zenith Press. tr. 236. ISBN 978-0-7603-4491-0.
  26. ^ McCollum, Ian (ngày 22 tháng 6 năm 2012). "Bren 100-round Drum". Forgotten Weapons (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2021.
  27. ^ a b Chen, C. Peter, "Bren Machine Gun", ww2db.com
  28. ^ "Image" (JPG). Cairdpublications.com. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2018.
  29. ^ "POTD: The Chinese 7.9257mm BREN". ngày 23 tháng 8 năm 2023.
  30. ^ Glantz, David M. (2005). Colossus reborn : the Red Army at war, 1941–1943. Lawrence, Kan.: Univ. Press of Kansas. tr. 193. ISBN 978-0700613533.
  31. ^ a b Grant 2013, tr. 26.
  32. ^ Grant 2013, tr. 57, 59.
  33. ^ Grant 2013, tr. 26, 59.
  34. ^ Moorcraft, Paul L; McLaughlin, Peter (2010) [2008]. The Rhodesian War: A Military History. Mechanicsburg: Stackpole Books. tr. 92. ISBN 978-0811707251.
  35. ^ Chris Cocks (ngày 3 tháng 4 năm 2002). Fireforce: One Man's War in the Rhodesian Light Infantry . Covos Day. tr. 139–141. ISBN 978-1-919874-32-6.
  36. ^ Wood, J R T (tháng 4 năm 2008). A matter of weeks rather than months: The Impasse between Harold Wilson and Ian Smith: Sanctions, Aborted Settlements and War 1965–1969. Victoria, British Columbia: Trafford Publishing. tr. 411. ISBN 978-1-4251-4807-2.
  37. ^ a b Cocks, Chris (2008) [1999]. Out of Action . Johannesburg: 30° South Publishers. tr. 48. ISBN 978-1920143206.
  38. ^ a b Jooste, Rina (tháng 12 năm 2013). "Representing history through film with reference to the documentary film Captor and Captive: Perspectives on a 1978 Border War incident" (PDF). Stellenbosch: Stellenbosch University. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 29 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2016.
  39. ^ a b c d Grant 2013, tr. 24.
  40. ^ Grant 2013, tr. 23–24.
  41. ^ Grant 2013, tr. 24–25.
  42. ^ "7,62 mm L4A1 Bren light machine gun, 1957 (c)". Online Collection. Luân Đôn: Bảo tàng Lục quân Quốc gia. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2021.
  43. ^ Grant 2013, tr. 25–27.
  44. ^ "Machine Gun, 7,62mm, L4A9 & Bren". Bảo tàng Chiến tranh Đế quốc. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2020.
  45. ^ "Centrefire automatic light machine gun - Bren L54A1 Drill Purpose (DP) - about 1945". Bảo tàng Vũ khí Hoàng gia Anh. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2025.
  46. ^ "Bren light machine gun". Vickers MG Collection & Research Association. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2025.
  47. ^ Williams, Anthony G (tháng 4 năm 2014). "Assault rifles and their ammunition". Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 6 năm 2014.
  48. ^ TAB (ngày 17 tháng 9 năm 2017). "X11 Belt-Fed Bren Derivative". The Armourers Bench (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2025.
  49. ^ Hobart 1972, tr. 7.
  50. ^ Hobart 1972, tr. 9.
  51. ^ "Bren Mk 2". Imperial War Museums. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 11 năm 2023.
  52. ^ Dugelby & Stevens 1999, tr. 114.
  53. ^ Dugelby & Stevens 1999, tr. 171.
  54. ^ Dugelby & Stevens 1999, tr. 174.
  55. ^ Drew, George A (ngày 1 tháng 9 năm 1938), "Canada's Armament Mystery", Macleans, Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2022
  56. ^ a b c Grant 2013, tr. 22.
  57. ^ Dugelby & Stevens 1999, tr. 244–247.
  58. ^ "History". Small Arms Factory. Government of India. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 2 năm 2020.
  59. ^ "Product development history". Small Arms Factory. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2022.
  60. ^ "Gun Machine 7.62mm IA [Indian Bren gun]". Imperial War Museums.
  61. ^ Windrow, Martin (1997). The Algerian War, 1954-62. Men-at Arms 312. London: Osprey Publishing. tr. 9. ISBN 978-1-85532-658-3.
  62. ^ Cunneen, William James (k. 1965). "photo caption". Australian War Memorial. CUN/65/0724/MC. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2023.
  63. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s Jones & Ness 2009.
  64. ^ Lee E Russell (ngày 28 tháng 3 năm 1985). Grenada 1983. Osprey Publishing. tr. 46. ISBN 9780850455830.
  65. ^ Smith 1969, tr. 212.
  66. ^ Jowett, Philip (2016). Modern African Wars (5): The Nigerian-Biafran War 1967-70. Oxford: Osprey Publishing Press. tr. 23. ISBN 978-1472816092.
  67. ^ Smith 1969, tr. 285.
  68. ^ Lart, Bernard (ngày 19 tháng 9 năm 2015). Goya, Michel (biên tập). "Les Ailes françaises au Tchad : Retournons le sablier..." La voie de l'epee.
  69. ^ Berman, Eric G.; Lombard, Louisa N. (tháng 12 năm 2008). The Central African Republic and Small Arms: A Regional Tinderbox (PDF). Small Arms Survey. tr. 43–44. ISBN 978-2-8288-0103-8. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 2 tháng 8 năm 2014.
  70. ^ "Vojničke puške". Ministarstvo unutarnjih poslova Republike Hrvatske. ngày 16 tháng 3 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2018.
  71. ^ Grant 2013, tr. 52.
  72. ^ Grant 2013, tr. 6.
  73. ^ Grant 2013, tr. 22&24.
  74. ^ Smith 1969, tr. 293&296.
  75. ^ "On a sun-washed island a brutal back-alley war". LIFE. ngày 28 tháng 2 năm 1964. tr. 24–31.
  76. ^ "Big gun sale in Cyprus". oldbritishguns.com. ngày 25 tháng 2 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2018.
  77. ^ Smith 1969, tr. 337.
  78. ^ Smith 1969, tr. 613.
  79. ^ Smith 1969, tr. 372.
  80. ^ Robert Asprey (2002). War In The Shadows: The Guerrilla in History. iUniverse. tr. 320. ISBN 978-0595225934.
  81. ^ Michel Germain (1998). Histoire de la Milice et des forces du maintien de l'ordre en Haute-Savoie 1940–1945 : Guerre civile en Haute-Savoie. tr. 144.
  82. ^ a b Windrow, Martin (ngày 15 tháng 11 năm 1998). The French Indochina War 1946–54. Men-at-Arms 322. Osprey Publishing. tr. 41. ISBN 9781855327894.
  83. ^ Needham, William R. (ngày 26 tháng 2 năm 1971). Paramilitary forces in Greece, 1946-1949. An Institute for Advanced Studies-Individual Study Project (PDF). US Army War College. tr. 31. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2018.
  84. ^ Smith 1969, tr. 450.
  85. ^ JOC Gary Miller (ngày 26 tháng 10 năm 1983). "Bren light machine guns seized by US military personnel during Operation URGENT FURY". catalog.archives.gov. National Archives. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2022.
  86. ^ "RHKR Equipment - Weapons". www.rhkr.org. The Royal Hong Kong Regiment (The Volunteers) Association. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2021.
  87. ^ Mani, P.R.S. (1986). The Story of Indonesian Revolution, 1945-1950 (PDF). Monograph 6. Centre for South and Southeast Asian Studies, University of Madras. tr. 7.
  88. ^ Smith 1969, tr. 461.
  89. ^ "Military coup in Iraq ousts monarchy - archive, 1958". The Guardian. ngày 26 tháng 7 năm 2017.
  90. ^ a b Grant 2013, tr. 65.
  91. ^ Grant 2013, tr. 64.
  92. ^ Armi e mezzi in dotazione all'esercito [Vũ khí và Phương tiện trang bị cho Quân đội] (bằng tiếng Ý). Ministero della difesa italiano. 1955.
  93. ^ Smith 1969, tr. 498.
  94. ^ Young, Peter (1972). The Arab Legion. Men-at-Arms. Osprey Publishing. tr. 24. ISBN 978-0-85045-084-2.
  95. ^ USMC Bren, Kenya.
  96. ^ "North Korean Small Arms (Democratic People's Republic of Korea)". Small Arms Review. Quyển 16 số 2. tháng 6 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2019.
  97. ^ New Zealand House of Representatives (ngày 17 tháng 7 năm 1968). "Adjournement Defense". Parliamentary Debates. tr. 554.
  98. ^ Kenneth, V (ngày 26 tháng 8 năm 2009). "Burmese Small Arms Development". Small Arms Review. Chipotle Publishing LLC. Originally published in Small Arms Review V12N11 (August 2009)
  99. ^ Charles Whiting (2001). Siegfried: The Nazis' Last Stand. Cooper Square Press. tr. 181. ISBN 978-0815411666.
  100. ^ Karp, Aaron (tháng 5 năm 2013). "Legacies of War in the Company of Peace" (PDF). Nepal Armed Violence Assessment Issue Brief (2). Small Arms Survey. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2014.
  101. ^ Smith 1969, tr. 521.
  102. ^ Cregeen, Phil (ngày 14 tháng 11 năm 2013). "NZART 204 Bren L4A4 LMG" (PDF).
  103. ^ Jowett 2016, tr. 20.
  104. ^ Smith 1969, tr. 523.
  105. ^ Alpers, Philip (2010). Karp, Aaron (biên tập). The Politics of Destroying Surplus Small Arms: Inconspicuous Disarmament. Abingdon-on-Thames: Routledge Books. tr. 168–169. ISBN 978-0-415-49461-8.
  106. ^ Polish Army 1939–45, tr. 29, 36.
  107. ^ Smith 1969, tr. 530.
  108. ^ "Soldier and civilian shot dead'", Irish Press, 19 July 1972.
  109. ^ Grant, Neil (2015). Rhodesian Light Infantryman: 1961–1980. Osprey Publishing. tr. 13. ISBN 978-1472809629.
  110. ^ "World Infantry Weapons: Sierra Leone". 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 11 năm 2016.
  111. ^ MEMORANDUM: REQUESTS FROM THE SOMALI REPUBLIC FOR MILITARY AID (PDF). Central Intelligence Agency. ngày 20 tháng 8 năm 1961. tr. 2.
  112. ^ Shaw, Alan (ngày 11 tháng 11 năm 2004). "Marching on to Laffan's Plain - Chapter 9". BBC WW2 People's War.
  113. ^ Shakya, Tsering (1999). The Dragon in the Land of Shows: A History of Modern Tibet Since 1949. Columbia University Press. tr. 43. ISBN 9781448114290.
  114. ^ Capie, David (2004). Under the Gun: The Small Arms Challenge in the Pacific. Wellington: Victoria University Press. tr. 68–69. ISBN 978-0864734532.
  115. ^ Windrow 1998, tr. 24.
  116. ^ Grant 2013, tr. 45.
  117. ^ Grant 2013, tr. 43.
  118. ^ "Yugoslav Partisans In Malta". The Malta Independent. ngày 2 tháng 9 năm 2012.

Nguồn chính

  • Dugelby, T.B.; Stevens, R.B. (1999). The Bren Gun Saga. Collector Grade Publications. ISBN 978-0-88935-249-0.
  • Dunlap, Roy F. (1948). Ordnance Went Up Front. The Samworth Press.
  • George, John (Lt. Col.) (1948). Shots Fired In Anger. The Samworth Press.
  • Grant, Neil (ngày 20 tháng 7 năm 2013). The Bren Gun. Osprey Publishing. ISBN 9781782000822.
  • Hobart, Frank William Arthur (1972). The Bren gun. Small Arms Profile 13. Profile Publications. OCLC 18196829.
  • Jones, Richard D.; Ness, Leland S., biên tập (ngày 27 tháng 1 năm 2009). Jane's Infantry Weapons 2009/2010 (ấn bản thứ 35). Coulsdon: Jane's Information Group. ISBN 978-0-7106-2869-5.
  • Smith, Joseph E. (1969). Small Arms of the World (ấn bản thứ 11). Harrisburg, Pennsylvania: The Stackpole Company. ISBN 9780811715669.
  • Zaloga, Steven J. (ngày 20 tháng 6 năm 2013). The Polish Army 1939–45 (ebook). Men-at-Arms 117. Bloomsbury Publishing. ISBN 9781472804471.
  • Windrow, Martin (1997). The Algerian War, 1954-62. Men-at Arms 312. London: Osprey Publishing. ISBN 978-1-85532-658-3.

Nguồn phụ

Liên kết ngoài