Bước tới nội dung

Chiến tranh Falkland

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “ParameterAliasNormalizer”. Bản mẫu:Nam Mỹ Chiến tranh Falkland (tiếng Anh: Falklands War, theo phía Anh) hay Chiến tranh Malvina (tiếng Tây Ban Nha: Guerra de las Malvinas, theo phía Argentina) là cuộc chiến kéo dài mười tuần giữa ArgentinaAnh Quốc, nhằm tranh giành hai lãnh thổ là quần đảo FalklandNam Georgia và Quần đảo Nam Sandwich ở Nam Đại Tây Dương. Cuộc chiến bắt đầu vào ngày 2 tháng 4 năm 1982 khi Argentina đổ quân chiếm đóng quần đảo Falkland trong một nỗ lực nhằm thiết lập chủ quyền mà họ yêu sách từ lâu. Ngày 5 tháng 4, chính phủ Anh Quốc phái một biệt đội hải quân đáp trả và tiến hành một cuộc tấn công đổ bộ lên quần đảo. Xung đột kéo dài trong 74 ngày, kết thúc khi Argentina đầu hàng vào ngày 14 tháng 6 năm 1982 và trao trả quần đảo cho Anh Quốc. Tổng cộng, 649 quân nhân Argentina, 255 quân nhân Anh Quốc và ba thường dân Falkland đã thiệt mạng trong chiến sự.

Cuộc chiến là một chương ngắn trong lịch sử tranh chấp dai dẳng các vùng hải đảo giữa hai quốc gia kể trên. Argentina khẳng định chủ quyền đối với quần đảo,[1] do vậy chính phủ nước này mô tả hành động quân sự của mình là thu hồi lãnh thổ chính đáng. Trái lại, chính phủ Anh Quốc nhìn nhận hành động của Argentina là sự xâm lược bất hợp pháp. Suốt thời gian xảy ra xung đột, hai bên đều không chính thức tuyên chiến và chiến sự hầu như chỉ giới hạn trong các lãnh thổ tranh chấp thuộc khu vực Nam Đại Tây Dương.

Xung đột có tác động mãnh liệt tại cả hai quốc gia, trở thành chủ đề của nhiều đầu sách, báo chí, phim ảnh và âm nhạc. Tình cảm ái quốc dâng cao tại Argentina đã dẫn đến các cuộc phản kháng chống chính phủ quân sự cầm quyền, đẩy nhanh sự sụp đổ của nó. Tại Anh Quốc, chính phủ của Đảng Bảo thủ tái đắc cử vào năm sau nhờ thắng lợi trong cuộc chiến. Tác động văn hóa chính trị của cuộc xung đột ít hiển hiện hơn tại Anh Quốc nếu so với Argentina; tại Argentina đương đại, nó vẫn là một chủ đề nóng gây nhiều tranh luận.[2]

Quan hệ ngoại giao giữa Anh Quốc và Argentina được khôi phục trở lại sau khi hai bên đồng ý đưa ra tuyên bố chung tại cuộc họp ở Madrid, Tây Ban Nha năm 1989.[3] Từ đó đến nay, hai quốc gia vẫn chưa thay đổi lập trường một cách rõ ràng đối với chủ quyền quần đảo Falkland. Năm 1994, yêu sách của Argentina đối với các vùng lãnh thổ tranh chấp được đưa vào hiến pháp của họ.[4]

Bối cảnh

Trong thời kỳ trước chiến tranh, và đặc biệt là sau khi chuyển giao quyền lực giữa hai nhà độc tài quân sự là Tướng Jorge Rafael Videla và Tướng Roberto Eduardo Viola vào tháng 3 năm 1981, Argentina rơi vào một giai đoạn đình trệ kinh tế nghiêm trọng và nội loạn trên quy mô lớn chống chính phủ quân sự vốn cai trị quốc gia từ năm 1976.[5] Trong tháng 12 năm 1981, có một biến cố nữa trong chính quyền quân sự Argentina dẫn đến một chính phủ mới với những người đứng đầu là Leopoldo Galtieri, Basilio Lami Dozo và Jorge Anaya. Jorge Anaya là kiến trúc sư và người chủ trương chính về một giải pháp quân sự đối với yêu sách từ lâu với các quần đảo,[6] trù tính rằng Anh Quốc sẽ không bao giờ phản ứng bằng quân sự.[7]

Bằng việc chọn hành động quân sự, chính phủ Galtieri hy vọng huy động những cảm tình ái quốc trường kỳ của người Argentina hướng về các quần đảo, và do đó chuyển hướng chú ý của công chúng khỏi những vấn đề kinh tế mãn tính của quốc gia và những vi phạm nhân quyền liên tục của chế độ.[8] Hành động như vậy cũng sẽ củng cố tính hợp pháp đang suy giảm của họ. Báo La Prensa suy đoán một kế hoạch từng bước với việc cắt đứt tiếp tế cho các quần đảo, kết thúc bằng những hành động trực tiếp trong năm 1982, nếu những cuộc đàm phán tại Liên Hợp Quốc không có kết quả.[9]Căng thẳng giữa hai quốc gia về các quần đảo gia tăng vào ngày 19 tháng 3 khi một nhóm các thương nhân phế liệu kim loại thượng quốc kỳ Argentina tại Nam Georgia, một hành động mà sau này được nhìn nhận là hành động tấn công đầu tiên trong chiến tranh. Tàu tuần tra HMS Endurance của Hải quân Hoàng gia Anh Quốc được phái từ Stanley, Falkland đến Nam Georgia nhằm ứng phó, sau đó dẫn đến việc lực lượng Argentina xâm chiếm Nam Georgia vào ngày 3 tháng 4. Chính phủ quân sự Argentina nghi ngờ rằng Anh Quốc sẽ tăng cường cho lực lượng Nam Đại Tây Dương của họ,[10] nên hạ lệnh xâm chiếm quần đảo Falkland vào ngày 2 tháng 4.

Anh Quốc ban đầu bị bất ngờ trước cuộc tấn công của Argentina tại các quần đảo Nam Đại Tây Dương, bất chấp những cảnh báo liên tiếp của Thuyền trưởng Hải quân Nicholas Barker và những người khác. Barker cho rằng bình luận 1981 của Bộ trưởng Quốc phòng John Nott (trong đó Nott mô tả các kế hoạch nhằm rút Endurance, hiện diện hải quân duy nhất của Anh Quốc tại Nam Đại Tây Dương) gửi một tín hiệu cho ngườ Argentina rằng Anh Quốc không sẵn lòng, và sẽ sớm không thể, bảo vệ các lãnh thổ và dân cư của mình tại quần đảo Falkland.[11][12]

Cuộc tấn công của Argentina

Ngày 2 tháng 4 năm 1982, lực lượng quân đội Argentine đổ bộ lên quần đảo Falkland, trước đó đã xảy ra việc bắt giữ dân thường của đảo South Georgia vào ngày 19 tháng 3, trước khi chiến tranh bắt đầu. Cuộc tấn công này trên danh nghĩa được phòng thủ bởi lực lượng của Thống đốc quần đảo Falkland Rex Hunt, người lãnh đạo lực lượng Mike Norman của hải quân hoàng gia. Cuộc tấn công này bao gồm các sự kiện đổ bộ của lực lượng đặc nhiệm người nhái dưới sự chỉ huy của Trung úy Guillermo Sanchez-Sabarots, cuộc tấn công vào trại lính Moody Brook, cuộc giao chiến giữa lực lượng Hugo Santillan và Bill Trollope tại Stanley, và cuộc giao chiến cuối cùng dẫn tới đầu hàng tại tòa nhà chính quyền quần đảo Falkland.

Phản ứng ban đầu của nước Anh

Phía Anh đã có các biện pháp đối phó ngay từ trước cuộc tấn công ngày 2 tháng 4. Để phản ứng lại các sự kiện diễn ra tại South Georgia, vào ngày 29 tháng 3, các bộ trưởng đã quyết định điều tàu hỗ trợ hậu cần Fort Austin thuộc Hạm đội Trợ chiến Hoàng gia (RFA) từ Địa Trung Hải xuống phía nam để tiếp trợ cho tàu HMS Endurance. Đồng thời, tàu ngầm hạt nhân tấn công HMS Spartan cũng được lệnh xuất phát từ Gibraltar, và tàu HMS Splendid nhận lệnh hành quân từ Clyde (Scotland) một ngày sau đó.[13]:75[14] Bộ trưởng Ngoại giao Carrington từng muốn điều động thêm tàu ngầm thứ ba, nhưng quyết định này đã bị hoãn lại do lo ngại ảnh hưởng đến các nhiệm vụ tác chiến khác.[14] Trùng hợp là vào ngày 26 tháng 3, tàu ngầm HMS Superb cũng rời Gibraltar và báo chí lúc bấy giờ phỏng đoán rằng tàu đang hướng xuống phía nam. Nhiều giả thuyết sau đó cho rằng những tin tức này đã khiến chính quyền quân sự Argentina hoảng loạn và quyết định động binh chiếm Falkland trước khi các tàu ngầm của Anh kịp triển khai quân;[14] tuy nhiên, các nghiên cứu sau chiến tranh đã chỉ ra rằng quyết định tấn công cuối cùng thực tế đã được thông qua tại cuộc họp của hội đồng quân sự ở Buenos Aires từ ngày 23 tháng 3.

Hôm sau, trong cuộc họp khẩn cấp do Thủ tướng Margaret Thatcher chủ trì, Đô đốc Sir Henry Leach – Tổng tư lệnh Hải quân Hoàng gia Anh, đã khẳng định: "nước Anh có thể và nên cử một lực lượng đặc nhiệm nếu các đảo bị xâm chiếm". Vào ngày 1 tháng 4, Leach đã phát lệnh cho một lực lượng thuộc Hải quân Hoàng gia Anh đang tham gia tập trận tại Địa Trung Hải chuẩn bị chuyển hướng xuống phía nam. Ngay sau khi cuộc tấn công nổ ra vào ngày 2 tháng 4, nội các Anh đã họp khẩn và thông qua quyết định thành lập một lực lượng đặc nhiệm nhằm tái chiếm quần đảo. Quyết định này đã được Hạ viện Anh ủng hộ trong phiên họp khẩn cấp vào ngày hôm sau.[15]

Tin tức đầu tiên về cuộc tấn công đến với phía Anh từ các nguồn tin của Argentina.[16] Một nhân viên thuộc Bộ Quốc phòng tại London đã có cuộc trao đổi ngắn qua mạng telex với điện báo viên của Thống đốc Hunt; người này xác nhận quân Argentina đã đổ bộ lên đảo và đang kiểm soát tình hình.[16][17] Cuối ngày hôm đó, nhà báo Laurie Margolis của hãng BBC đã liên lạc được với một người dân tại Goose Green qua vô tuyến điện nghiệp dư. Người này xác nhận sự xuất hiện của một hạm đội lớn của Argentina và lực lượng của họ đã kiểm soát hoàn toàn hòn đảo.[16]

Vào ngày 6 tháng 4, chính phủ Anh đã thành lập một Nội các Chiến tranh để giám sát chính trị hàng ngày đối với chiến dịch.[18] Đây là bộ máy tối cao trong việc quản lý khủng hoảng của Anh với nhiệm vụ "theo dõi sát sao các diễn biến chính trị và quân sự liên quan đến khu vực Nam Đại Tây Dương, đồng thời báo cáo lên Ủy ban Chính sách Đối ngoại và Quốc phòng khi cần thiết". Nội các Chiến tranh duy trì họp ít nhất mỗi ngày một lần cho đến khi giải thể vào ngày 12 tháng 8. Dù Margaret Thatcher thường được mô tả là người nắm quyền chi phối cơ quan này, Lawrence Freedman đã lưu ý trong cuốn Lịch sử chính thức về chiến dịch Falklands (Official History of the Falklands Campaign) rằng Thatcher không hề phớt lờ các ý kiến phản đối hay bỏ qua việc tham vấn những người khác. Tuy nhiên, một khi quyết định đã được thông qua, bà "sẽ không bao giờ ngoảnh lại".[18]

Nghị quyết 502 Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc

Vào ngày 31 tháng 3 năm 1982, Đại sứ Argentina tại Liên Hợp Quốc là Eduardo Roca bắt đầu vận động sự ủng hộ nhằm phản đối việc Anh tăng cường lực lượng quân sự. Phía Argentina lập luận rằng hành động quân sự này của Anh sẽ phá vỡ các nghị quyết trước đó của Liên Hợp Quốc vốn kêu gọi hai nước giải quyết tranh chấp Falkland bằng thương lượng.[19]:134 Vào đúng tối ngày diễn ra cuộc tấn công (2 tháng 4), Roca đã tổ chức một bữa tiệc chiêu đãi ngay tại tư dinh của mình để tiếp đón Đại sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc là bà Jeane Kirkpatrick, cùng nhiều quan chức cấp cao từ Bộ Ngoại giao Hoa KỳBộ Quốc phòng Hoa Kỳ. Sự kiện này khiến giới ngoại giao Anh vô cùng nghi ngại bà Kirkpatrick, nhất là khi trước đó bà từng công khai ủng hộ việc thắt chặt quan hệ với các chế độ độc tài tại Nam Mỹ.[20]

Ngày 1 tháng 4, Luân Đôn thông báo cho Đại sứ Anh tại Liên Hợp Quốc là Sir Anthony Parsons rằng một cuộc tấn công sắp sửa xảy ra và ông cần triệu tập một cuộc họp khẩn cấp của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc để thông qua một nghị quyết có lợi nhằm chống lại Argentina.[21] Parsons cần phải giành được 9 phiếu thuận từ 15 thành viên Hội đồng (đây không phải là đa số phiếu phổ thông) và phải tránh được lá phiếu phủ quyết từ bất kỳ ai trong bốn thành viên thường trực còn lại. Cuộc họp diễn ra vào lúc 11 giờ sáng ngày 3 tháng 4 theo giờ New York (tức 4 giờ chiều giờ Luân Đôn). Nghị quyết 502 Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc được thông qua với tỷ lệ 10 phiếu thuận, 1 phiếu chống (Panama) và 4 phiếu trắng. Đáng chú ý, cả Liên Xô lẫn Trung Quốc đều bỏ phiếu trắng.[22][23][24] Nội dung nghị quyết nêu rõ:

Bản mẫu:Poemquote

Đây là một thắng lợi quan trọng của Anh, giúp họ giành thế thượng phong trên mặt trận ngoại giao. Dự thảo nghị quyết do Parsons đệ trình đã khéo léo né tránh bất kỳ đề cập nào đến tranh chấp chủ quyền (điều có thể gây bất lợi cho Anh); thay vào đó, văn bản này tập trung vào việc Argentina vi phạm Chương VII của Hiến chương LHQ, vốn nghiêm cấm việc đe dọa hoặc sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp.[25] Việc nghị quyết chỉ yêu cầu việc rút quân của lực lượng Argentina đã tạo điều kiện pháp lý cho Anh tự do dùng biện pháp quân sự để tái chiếm quần đảo nếu Argentina không rút quân, bằng cách thực hiện quyền tự vệ chính đáng được quy định trong Hiến chương Liên Hợp Quốc.[13]:141

Sự chiếm đóng của Argentina

Đơn vị Lục quân Argentina được chỉ định tham gia cuộc chiếm đóng Falkland là Trung đoàn Bộ binh 25 (Argentina) với quân số khoảng 681 người. Đây là lực lượng tinh nhuệ được huấn luyện đặc biệt và tuyển chọn từ nhiều vùng khác nhau của Argentina; họ được không vận đến Sân bay Port Stanley ngay khi đường băng được dọn sạch chướng ngại vật.[26] Khi thấy rõ phía Anh đang phái một lực lượng đặc nhiệm đổ bộ đến, Argentina đã ban bố lệnh tổng động viên quân dự bị, đồng thời điều động hai lữ đoàn gồm tám trung đoàn bộ binh cùng các đơn vị yểm trợ ra đảo. Tính đến đầu tháng 5, tổng số binh lính đồn trú của Argentina trên đảo đã lên tới khoảng 13.000 người. Do lứa lính nghĩa vụ sinh năm 1963 chỉ vừa mới nhập ngũ, quân đội đã phải triệu tập lại cả lứa lính của năm trước đó. Chuẩn tướng Mario Benjamín Menéndez được bổ nhiệm làm Thống đốc Quân sự của Falkland.[27]

Lực lượng cảnh sát quân sự Argentina đến đảo mang theo hồ sơ chi tiết về nhiều cư dân địa phương,[28] tạo điều kiện cho Thiếu tá tình báo Patricio Dowling bắt giữ và thẩm vấn những ai bị nghi ngờ chống đối cuộc chiếm đóng.[28] Ban đầu, một số cư dân bị coi là có tư tưởng bài Argentina đã bị trục xuất,[28] trong đó có gia đình Luxton[28] và David Colville,[29] chủ biên tờ Falklands Times. Động thái này đã phản tác dụng khi những người bị trục xuất liên tục trả lời phỏng vấn báo chí quốc tế. Về sau, 14 nhân vật có uy tín khác trong cộng đồng — kể cả viên chức y tế cấp cao nhất — bị đưa đi quản thúc tại Fox Bay trên đảo Tây Falkland.[30] Lo ngại trước hành vi độc đoán của Dowling, các sĩ quan cấp cao của Argentina đã cách chức và đưa ông rời khỏi đảo.[28] Trong gần một tháng, toàn bộ người dân tại Goose Green bị giam lỏng trong hội trường của ngôi làng với điều kiện sinh hoạt tồi tàn.[31] Các vụ giam giữ tương tự cũng được ghi nhận ở nhiều khu định cư khác.

Do tình trạng thiếu lương thực và hậu cần yếu kém, một số lính nghĩa vụ Argentina đã phải tự ý giết mổ cừu của người dân ở khu vực Goose Green để sống qua ngày. Các sĩ quan và hạ sĩ quan Argentina bị cáo buộc đã áp đặt các hình phạt dã chiến khắc nghiệt đối với lính nghĩa vụ. Theo lời kể của những người như Binh nhì Alan Craig, các khẩu phần ăn khi được phân phát cho họ thường đã bị bóc sẵn hoặc bị bớt xén lương thực.[32] Binh lính đồn trú tại Port Howard báo cáo về tình trạng thiếu đói trầm trọng,[33] và theo cuốn Trận chiến Falklands (1984) của Max Hastings và Simon Jenkins, những binh sĩ tìm cách đào ngũ hoặc tự ý rời đơn vị đều bị đánh đập hoặc bị ép phải ngồi hàng giờ liền với hai bàn chân trần ngâm trong nước lạnh cóng. Có thông tin cho rằng Binh nhì Rito Portillo[34] và Binh nhì Remigio Fernández[35] đã bị hành quyết hoặc tử vong do bị chính các sĩ quan cấp trên ngược đãi. Sau khi trở về đất liền, nhiều binh lính được cho là đã bị ép buộc phải ký vào các bản cam kết bảo mật thông tin.[36]

Ngoại giao con thoi

Tập tin:Haig and Thatcher DF-SC-83-06152.jpg
Margaret Thatcher gặp Alexander Haig tại Luân Đôn

Vào ngày 8 tháng 4, Alexander Haig, Ngoại trưởng Hoa Kỳ, đã đến Luân Đôn để thực hiện sứ mệnh ngoại giao con thoi theo ủy thác của Tổng thống Mỹ Ronald Reagan. Mục tiêu của ông là dàn xếp một thỏa thuận hòa bình giữa Argentina và Anh Quốc, trong đó một cơ quan lâm thời sẽ tiếp quản quần đảo trong thời gian hai bên thương lượng. Sau khi nghe Thủ tướng Thatcher khẳng định rằng phía Anh sẽ không rút lực lượng đặc nhiệm đang trên đường tới quần đảo trừ khi Argentina rút hết quân, Haig liền lên đường sang Buenos Aires.[37] Tại đây, ông đã hội đàm với hội đồng quân sự Argentina và Ngoại trưởng Nicanor Costa Méndez. Phái đoàn của Haig bị tiếp đón khá lạnh nhạt và phía Argentina tuyên bố thẳng thừng rằng việc thừa nhận chủ quyền của họ phải là điều kiện tiên quyết cho bất kỳ cuộc đàm phán nào.[38]

Trở lại Luân Đôn vào ngày 11 tháng 4, Haig nhận thấy nội các Anh cũng hoàn toàn không có ý định thỏa hiệp. Ông liền bay về Washington trước khi quay lại Buenos Aires để tiến hành vòng đàm phán kéo dài cuối cùng nhằm cứu vãn tình hình. Vòng đàm phán này hầu như không đạt được tiến triển nào. Tuy nhiên, ngay khi Haig cùng phái đoàn chuẩn bị rời đi, họ nhận được thông báo rằng Tổng thống Galtieri sẽ gặp họ tại phòng chờ VIP của sân bay để đưa ra một nhượng bộ quan trọng; dù vậy, cuộc gặp này đã bị hủy bỏ vào phút chót. Vào ngày 30 tháng 4, Chính quyền Reagan chính thức tuyên bố sẽ công khai ủng hộ Anh Quốc.[38]

Lực lượng đặc nhiệm Anh

Tập tin:Falklands, Campaign, (Distances to bases) 1982.jpg
Khoảng cách từ các căn cứ không quân của Anh đến Falkland
Tập tin:HMS Invincible (R05) underway c1981.jpg
HMS Invincible – một trong hai tàu sân bay có thể huy động của lực lượng đặc nhiệm
Tập tin:899 Shar Yeovilton.jpg
Máy bay Sea Harrier FRS1 thuộc Không lực Hải quân Hoàng gia Anh

Tàu ngầm hạt nhân Conqueror xuất phát từ Faslane, Scotland vào ngày 4 tháng 4. Chỉ một ngày sau, hai tàu sân bay InvincibleHermes cùng các tàu hộ tống cũng rời cảng Portsmouth, Anh.[15] Vừa cập cảng Southampton sau chuyến du ngoạn thế giới vào ngày 7 tháng 4, tàu viễn dương SS Canberra đã lập tức bị trưng dụng và nhổ neo chỉ hai ngày sau đó, mang theo Lữ đoàn Thủy quân lục chiến số 3.[15] Tàu viễn dương Queen Elizabeth 2 cũng bị trưng dụng và rời Southampton vào ngày 12 tháng 5, chở theo Lữ đoàn Bộ binh số 5.[15] Tổng cộng, lực lượng đặc nhiệm Anh bao gồm 127 tàu: 43 tàu của Hải quân Hoàng gia Anh, 22 tàu thuộc Hạm đội Trợ chiến Hoàng gia và 62 tàu thương mại.[39]

Chiến dịch tái chiếm Quần đảo Falkland được đánh giá là một nhiệm vụ vô cùng gian khó. Theo nhà sử học Arthur L. Herman, Hải quân Hoa Kỳ từng nhận định khả năng thành công của một cuộc phản công đổ bộ từ phía Anh là "điều bất khả thi về mặt quân sự".[40] Trước hết, quân Anh gặp bất lợi lớn do hạn chế về khả năng triển khai không quân bảo vệ.[41] Phía Anh chỉ có 42 máy bay sẵn sàng tác chiến (gồm 28 chiếc Sea Harrier[42] và 6 chiếc Harrier GR.3[43]), đối đầu với khoảng 122 chiến đấu cơ phản lực còn hoạt động tốt của lực lượng không quân Argentina, trong đó khoảng 50 chiếc đóng vai trò máy bay tiêm kích chiếm ưu thế trên không và số còn lại là máy bay cường kích.[44] Trở ngại cốt tử là quân Anh hoàn toàn thiếu vắng các dòng máy bay cảnh báo sớm và kiểm soát trên không (AEW). Khi lập kế hoạch tác chiến, họ cũng phải tính đến mối đe dọa từ hạm đội nổi của Argentina, đặc biệt là các tàu chiến trang bị tên lửa Exocet và hai tàu ngầm Type 209.[45]

Đến giữa tháng 4, Không quân Hoàng gia Anh đã thiết lập một căn cứ không quân tại RAF Ascension Island (nằm chung địa điểm với Sân bay Wideawake), thuộc vùng lãnh thổ hải ngoại của Anh ở giữa Đại Tây DươngĐảo Ascension. Lực lượng đồn trú tại đây tương đối hùng hậu, bao gồm các máy bay ném bom Avro Vulcan B Mk 2, máy bay tiếp dầu Handley Page Victor K Mk 2, và các tiêm kích McDonnell Douglas Phantom FGR Mk 2 làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ. Trong khi đó, lực lượng hải quân đặc nhiệm chủ lực của Anh cũng đã tiến đến Ascension để chuẩn bị sẵn sàng tham chiến. Trước đó, một lực lượng đặc nhiệm nhỏ đã được điều động xuống phía nam từ sớm để tái chiếm đảo South Georgia.

Các vụ chạm trán bắt đầu nổ ra từ tháng 4; trên đường hành quân xuống phía nam, Lực lượng Đặc nhiệm Anh đã bị một chiếc máy bay Boeing 707 của Không quân Argentina bám đuôi giám sát.[46] Dẫu vậy, những chiếc 707 không trang bị vũ khí này không bị tấn công do các nỗ lực ngoại giao lúc đó vẫn đang tiếp diễn và phía Anh vẫn chưa chính thức quyết định sử dụng biện pháp vũ lực. Vào ngày 23 tháng 4, một chiếc máy bay thương mại McDonnell Douglas DC-10 của hãng hàng không Brazil VARIG đang trên hành trình tới Nam Phi đã bị các tiêm kích Harrier của Anh áp sát đánh chặn, nhưng phía Anh đã nhận diện được bằng mắt thường rằng đây là phi cơ dân sự.[47]

Tái chiếm South Georgia và tấn công tàu Santa Fe

Lực lượng tác chiến tại South Georgia trong Chiến dịch Paraquet, dưới quyền chỉ huy của Thiếu tá Thủy quân lục chiến Guy Sheridan, bao gồm các binh sĩ thuộc Tiểu đoàn 42 Biệt kích cùng một phân đội của Đặc nhiệm Không quân (SAS) và Đặc nhiệm Đặc biệt của Hải quân (SBS). Những đơn vị này có nhiệm vụ đổ bộ làm lực lượng trinh sát dọn đường cho cuộc tấn công của Thủy quân lục chiến Hoàng gia Anh, với tổng quân số 240 người. Toàn bộ lực lượng đều túc trực trên tàu RFA Tidespring. Tàu ngầm HMS Conqueror thuộc lớp Churchill là đơn vị đầu tiên tiếp cận khu vực vào ngày 19 tháng 4. Đến ngày 20 tháng 4, một máy bay Handley Page Victor trang bị radar vẽ bản đồ đã bay quét qua không phận hòn đảo nhằm xác nhận không có bất kỳ tàu chiến nào của Argentina ở khu vực lân cận.[48]

Tập tin:USS Catfish;0833910.jpg
Tàu ngầm ARA Santa Fe bị đánh chìm trong Chiến tranh Falkland

Các toán quân của SAS và SBS bắt đầu đổ bộ vào ngày 21 tháng 4. Tuy nhiên, một nhiệm vụ thiếu tính toán nhằm thiết lập trạm quan sát cho SAS trên sông băng Fortuna đã buộc phải hủy bỏ sau khi hai chiếc trực thăng bị rơi do sương mù dày đặc và gió giật mạnh. Vào ngày 23 tháng 4, còi báo động tàu ngầm vang lên khiến mọi hoạt động tác chiến phải tạm dừng; tàu Tidespring phải rút ra vùng nước sâu hơn để tránh bị đánh chặn. Đến ngày 24 tháng 4, lực lượng Anh bắt đầu chấn chỉnh lại đội hình và tiếp tục tiến công.[49]

Vào ngày 25 tháng 4, sau khi tiếp tế cho lực lượng đồn trú Argentina tại South Georgia, tàu ngầm ARA Santa Fe khi đang nổi trên mặt nước[50] đã bị một chiếc trực thăng Westland Wessex HAS Mk 3 cất cánh từ tàu HMS Antrim phát hiện và rải bom chìm tấn công. Tàu HMS Plymouth lập tức xuất kích một trực thăng Westland Wasp HAS.Mk.1, trong khi tàu HMS Brilliant cũng triển khai một chiếc Westland Lynx HAS Mk 2. Trực thăng Lynx đã phóng ngư lôibắn phá chiếc tàu ngầm bằng súng máy đa năng gắn trên giá khớp; trực thăng Wessex cũng đồng thời nã đạn từ súng máy vào chiếc Santa Fe. Trực thăng Wasp từ tàu HMS Plymouth cùng hai chiếc Wasp khác bay lên từ tàu HMS Endurance đã phóng các tên lửa chống hạm không đối đất AS-12 đánh trúng vào mục tiêu. Tàu Santa Fe bị hư hại quá nặng khiến nó không thể lặn xuống được nữa. Thủy thủ đoàn buộc phải bỏ lại chiếc tàu ngầm ngay tại bến cảng ở King Edward Point trên đảo South Georgia.[51]

Do tàu Tidespring lúc này đã lùi xa ra biển, trong khi lực lượng Argentina lại được bổ sung thêm quân số từ thủy thủ đoàn của chiếc tàu ngầm, Thiếu tá Sheridan quyết định tập hợp 76 binh sĩ đang có trong tay để mở cuộc tấn công trực diện ngay trong ngày hôm đó. Sau một cuộc hành quân cấp tốc của quân Anh kết hợp với màn tấn công phủ đầu bằng hỏa lực pháo kích từ hai tàu chiến Hải quân Hoàng gia (tàu AntrimPlymouth), toàn bộ lực lượng 190 người của Argentina đã đầu hàng Thủy quân lục chiến Anh mà không hề phản kháng.[52] Thông điệp mà lực lượng hải quân tại South Georgia gửi về Luân Đôn có đoạn: "Rất hân hạnh được thông báo với Nữ vương rằng Cờ hiệu Trắng đã tung bay bên cạnh cờ Union Jack tại South Georgia. Chúa phù hộ Nữ vương." Đích thân Thủ tướng Margaret Thatcher đã thông báo tin mừng này với giới truyền thông, nhắn nhủ họ: "Hãy vui mừng trước tin tức này và xin chúc mừng quân đội cũng như lực lượng Thủy quân lục chiến của chúng ta!"[53]

Các cuộc không kích Black Buck

Tập tin:Avro Vulcan Bomber RAF.JPEG
Máy bay ném bom chiến lược Avro Vulcan B.Mk.2 của RAF

Vào ngày 1 tháng 5, các chiến dịch quân sự của Anh tại Falkland đã mở màn bằng cuộc tấn công "Black Buck 1" (cuộc tấn công đầu tiên trong chuỗi 5 phi vụ) nhắm vào sân bay tại Stanley. Một máy bay ném bom Vulcan cất cánh từ Ascension đã thực hiện chuyến bay khứ hồi dài 8.000 hải lý (15.000 km; 9.200 mi), rải các quả bom thông thường xuống dọc đường băng ở Stanley. Nhiệm vụ này đòi hỏi phải liên tục tiếp nhiên liệu trên không với sự phối hợp tác chiến của nhiều máy bay tiếp dầu Victor K2, bao gồm cả việc các phi cơ tiếp dầu bơm nhiên liệu cho nhau.[54]

Rất khó xác định chính xác tác động tổng thể của các cuộc không kích này đối với cục diện chiến tranh; nhà sử học Lawrence Freedman, người được tiếp cận các nguồn tài liệu chính thức, nhận định rằng tầm quan trọng của các phi vụ Vulcan vẫn còn là một chủ đề gây tranh cãi.[55] Mặc dù phần nào giảm bớt áp lực cho lực lượng Sea Harrier mỏng manh, các cuộc không kích này lại vô cùng tốn kém và tiêu hao một lượng lớn tài nguyên. Trong số 21 quả bom thả xuống, chỉ một quả tạo được hố trên đường băng, và cú trúng đích duy nhất ấy — rơi vào rìa đường băng — có lẽ đã là kết quả tốt nhất có thể trông đợi. Trái với một số báo cáo, điều này chỉ khiến đường băng không còn đủ khả năng phục vụ các máy bay phản lực nhanh như Mirage III, chứ không ảnh hưởng đến các tiêm kích nhỏ hơn, phi cơ Pucará hay máy bay vận tải Hercules C-130. Động thái này cũng không hề khiến không quân Argentina phải điều động phi đội Mirage III về phòng thủ thủ đô.[56]

Một số nguồn tin cho rằng, hệ quả của cuộc không kích là người Argentina nhận ra phần lãnh thổ đất liền của họ cũng rất dễ bị tấn công nên đã điều động lại các tiêm kích từ chiến trường về các căn cứ ở xa hơn về phía bắc,[57] tuy nhiên các nguồn tin nội bộ Argentina sau này xác nhận các phi vụ Vulcan không hề ảnh hưởng đến quyết định dời một số chiếc Mirage III từ miền nam Argentina về Khu vực Phòng thủ Buenos Aires.[58] Tác dụng răn đe này càng trở nên mờ nhạt khi các quan chức Anh khẳng định rõ ràng rằng sẽ không có các cuộc không kích nhắm vào các căn cứ không quân trên lãnh thổ Argentina. Các cuộc không kích này sau đó đã bị cựu binh từng tham chiến tại Falkland là Trung tá Hải quân Nigel Ward coi là một chiêu trò tuyên truyền.[59]

Trong số năm cuộc không kích Black Buck, ba phi vụ nhằm vào Sân bay Stanley, hai phi vụ còn lại là các nhiệm vụ diệt radar sử dụng tên lửa chống bức xạ Shrike.[60]

Cuộc không chiến leo thang

Một chiếc Super Étendard do Pháp chế tạo thuộc Không lực Hải quân Argentina

Falkland chỉ có ba sân bay. Đường băng dài nhất và cũng là đường băng duy nhất được rải nhựa nằm ở thủ phủ Stanley, nhưng ngay cả đường băng này cũng quá ngắn để phục vụ các máy bay phản lực tốc độ cao. Do đó, quân đội Argentina buộc phải xuất kích các đợt tấn công lớn từ đất liền, điều này làm cản trở nghiêm trọng các nỗ lực triển khai tiền phương, tuần tra chiến đấu trên không và chi viện không quân cận chiến trên quần đảo. Thời gian bay chờ (loiter time) thực tế của các máy bay Argentina khi tiếp cận mục tiêu rất ngắn, làm hạn chế khả năng của các tiêm kích trong việc bảo vệ phi cơ cường kích. Điều này buộc họ thường xuyên phải tấn công những mục tiêu mà họ bắt gặp đầu tiên thay vì lựa chọn mục tiêu có giá trị cao nhất.[61]

Tập tin:100 years of the RAF MOD 45163716.jpg
Các máy bay Harrier Gr.3 của Không quân Hoàng gia và Sea Harrier FRS.1 của Hải quân Hoàng gia Anh trên boong bay của tàu HMS Hermes vào ngày 19 tháng 5 năm 1982

Lực lượng không kích chủ lực đầu tiên của Argentina gồm 36 máy bay (bao gồm A-4 Skyhawk, IAI Dagger, English Electric Canberra và các tiêm kích hộ tống Mirage III) được điều động vào ngày 1 tháng 5, với niềm tin rằng quân Anh sắp sửa tiến hành giải phóng hoặc đã đổ bộ xong. Chỉ có một phân đội thuộc Không đoàn số 6 (Grupo 6, lái các máy bay IAI Dagger) là tìm thấy mục tiêu gồm các tàu chiến Anh đang bắn phá các cứ điểm phòng ngự của Argentina gần quần đảo. Phi đội Dagger đã tấn công các tàu này và xoay xở trở về an toàn. Chiến tích này đã khích lệ lớn tinh thần của các phi công Argentina, giúp họ nhận ra rằng bản thân hoàn toàn có thể sống sót khi tấn công các tàu chiến hiện đại, nhờ tận dụng yếu tố nhiễu radar địa hình từ quần đảo và áp dụng chiến thuật tăng độ cao công kích vào phút chót. Trong khi đó, các máy bay khác của Argentina đã bị tiêm kích BAE Sea Harrier xuất phát từ tàu HMS Invincible đánh chặn. Một chiếc Dagger[62] và một chiếc Canberra đã bị bắn hạ.[63]

Giao tranh nổ ra giữa các tiêm kích Sea Harrier FRS Mk 1 thuộc Phi đoàn Không lực Hải quân 801 (Anh) và các tiêm kích Mirage III của Không đoàn số 8 (Argentina). Cả hai bên đều từ chối tham chiến ở độ cao có lợi nhất cho đối phương, cho đến khi hai chiếc Mirage cuối cùng phải hạ độ cao để nghênh chiến. Một chiếc đã bị bắn hạ bởi tên lửa không đối không (AAM) AIM-9L Sidewinder, chiếc còn lại trốn thoát nhưng bị hư hỏng và không đủ nhiên liệu để quay về căn cứ trên đất liền. Chiếc máy bay này phải chuyển hướng đến Stanley, nhưng rốt cuộc lại trở thành nạn nhân của hỏa lực bắn nhầm từ chính lực lượng phòng không Argentina.[64]

Từ kinh nghiệm này, Bộ tham mưu Không quân Argentina quyết định chỉ sử dụng A-4 Skyhawk và Dagger làm đơn vị cường kích, chỉ triển khai Canberra vào ban đêm, đồng thời biến Mirage III (vốn không có khả năng tiếp nhiên liệu trên không cũng như không có hệ thống tên lửa không đối không đủ mạnh) thành mồi nhử để thu hút các tiêm kích Sea Harrier của Anh. Chiến thuật chim mồi sau đó được mở rộng thông qua việc thành lập Escuadrón Fénix (Phi đoàn Fénix), một phi đội gồm các máy bay phản lực dân dụng bay suốt 24 giờ mỗi ngày, giả làm máy bay cường kích đang chuẩn bị lao vào đánh hạm đội Anh. Trong một chuyến bay như vậy vào ngày 7 tháng 6, chiếc Learjet 35A của Không quân Argentina đã bị tàu HMS Exeter bắn rơi khiến chỉ huy phi đoàn là Phó Đề đốc Rodolfo de la Colina thiệt mạng. Ông cũng là sĩ quan cấp cao nhất của Argentina tử trận trong cuộc chiến này.[65][66] Bộ tư lệnh Anh vô cùng lo ngại trước tỷ lệ hao hụt cao của phi đội Harrier do hỏa lực phòng không, nên đã quyết định chủ yếu sử dụng chúng cho nhiệm vụ giành ưu thế trên không.[67][68] Thực tế cho thấy phi đội Harrier tiêu diệt các máy bay tấn công của Argentina hiệu quả hơn nhiều so với tên lửa phóng từ tàu chiến; tuy nhiên, hoạt động của máy bay Harrier trên không đôi khi lại gây nhiễu loạn cho hệ thống phòng không của các tàu chiến này.[69][70]

Trong suốt cuộc xung đột, Stanley đóng vai trò là một cứ điểm phòng ngự kiên cố của Argentina. Bất chấp các cuộc không kích trong chiến dịch Black Buck và các đợt oanh tạc của tiêm kích Harrier nhắm vào sân bay Stanley (nơi không bố trí bất kỳ máy bay phản lực tốc độ cao nào để phòng không), cùng các đợt pháo kích ban đêm từ các tàu chiến biệt phái của Anh, sân bay này chưa bao giờ bị vô hiệu hóa hoàn toàn. Stanley được bảo vệ bởi mạng lưới hỗn hợp gồm các hệ thống tên lửa đất đối không (SAM) (như Roland do Pháp-Đức hợp tác chế tạo và Tigercat của Anh) cùng các pháo phòng không hạng nhẹ, bao gồm pháo nòng đôi Oerlikon 35 mm của Thụy Sĩ, pháo Hispano-Suiza 30 mm và pháo phòng không nòng đôi Rheinmetall 20 mm của Đức. Nhiều khẩu pháo phòng không khác cũng được triển khai tại đường băng ở Goose Green.[71][72] Cho đến khi cuộc xung đột kết thúc, các chuyến bay đêm của máy bay vận tải Lockheed C-130 Hercules vẫn liên tục tiếp tế nhu yếu phẩm, vũ khí, phương tiện, nhiên liệu, đồng thời sơ tán thương binh ra khỏi đảo.[73]

Chiến cơ Hercules duy nhất của Argentina bị quân Anh bắn hạ là chiếc mang số hiệu TC-63 vào ngày 1 tháng 6. Nó bị một chiếc Sea Harrier chặn đánh giữa ban ngày[74][75] khi đang tuần thám hạm đội Anh ở phía đông bắc quần đảo.

Phía Anh từng xem xét và loại bỏ nhiều phương án tấn công trực diện vào căn cứ trú đóng của 5 chiếc Super Étendard thuộc về Argentina tại Río Grande (tiêu biểu là kế hoạch Chiến dịch Mikado). Sau đó, năm tàu ngầm của Hải quân Hoàng gia Anh đã được dàn đội hình lặn sâu ngay sát ranh giới lãnh hải 12 hải lý (22 km; 14 mi) của Argentina nhằm kịp thời cảnh báo sớm các cuộc không kích nhắm vào lực lượng đặc nhiệm Anh.[76]

Chiến dịch Folklore là kế hoạch triển khai hai máy bay Canberra PR.9 thuộc Phi đoàn 39 RAF, ngụy trang dưới phù hiệu của Không quân Chile, tới căn cứ không quân Chile tại Punta Arenas nhằm thực hiện các phi vụ trinh sát chụp ảnh tầm cao trên không phận Falkland;[77] tuy nhiên, các chiếc Canberra mới chỉ bay tới Belize thì chiến dịch đã bị hủy bỏ sau khi một phần kế hoạch bị báo chí Anh tiết lộ.[78] Chiến dịch Acme là hoạt động triển khai một máy bay trinh sát Nimrod R.1 duy nhất thuộc Phi đoàn 51 RAF tới căn cứ của Chile trên đảo Isla San Félix để thu thập tình báo tín hiệu từ các lực lượng Argentina tại Falkland;[79] ba phi vụ đã được thực hiện, trong đó phi vụ cuối cùng vào ngày 17 tháng 5 suýt bị phía Chile bắn hạ, dẫn đến việc hủy bỏ chiến dịch.[80] Thành công hơn là Chiến dịch Fingent, trong đó phía Anh bố trí một hệ thống radar Marconi S259 trên vùng núi cao ở Tierra del Fuego để từ đó giám sát hoạt động di chuyển tại các căn cứ không quân phía nam của Argentina; các binh sĩ RAF tham gia chiến dịch này đã mặc thường phục cải trang thành một nhóm nhân viên bán hàng.[81] Thông tin tình báo thu thập được chuyển về bộ chỉ huy tại Northwood và Lực lượng Đặc nhiệm thông qua Chiến dịch Shutter – một hệ thống liên lạc qua vệ tinh (SATCOM) do Mỹ cung cấp, được lắp đặt tại trụ sở Không quân Chile ở Santiago và do hai binh sĩ thuộc Binh chủng Thông tin Hoàng gia Anh vận hành.[82]

Vụ đánh chìm tàu ARA General Belgrano

Tập tin:ARA Alférez Sobral (A-9).jpg
Tàu Alferez Sobral

Vào ngày 30 tháng 4, chính phủ Anh đã ban hành quyết định thiết lập một vùng cấm hoàn toàn (TEZ) rộng 200 hải lý (370 kilômét; 230 dặm) để thay thế cho Vùng cấm hàng hải trước đó. Theo đó, bất kỳ tàu thuyền hay máy bay nào thuộc mọi quốc gia đi vào vùng này đều có thể bị tấn công nếu bị phát hiện có hành vi hỗ trợ cuộc chiếm đóng của Argentina. Nhóm tác chiến tàu sân bay của Đô đốc Sandy Woodward gồm 12 tàu chiến và 3 tàu tiếp liệu đã tiến vào TEZ vào ngày 1 tháng 5, ngay trước thềm cuộc không kích Black Buck đầu tiên, với mục tiêu làm suy yếu lực lượng không quân và hải quân Argentina trước khi lực lượng đổ bộ đường biển tới nơi sau đó hai tuần.[83] Để chủ động đối phó, Đô đốc Anaya của Argentina đã triển khai toàn bộ các tàu chiến hiện có thành ba nhóm tác chiến. Nhóm thứ nhất tập trung quanh tàu sân bay ARA Veinticinco de Mayo cùng hai tàu khu trục cũ nhưng có trang bị tên lửa; nhóm thứ hai gồm ba tàu hộ vệ hiện đại. Cả hai nhóm này đều có nhiệm vụ tiếp cận vùng TEZ từ hướng bắc. Trong khi đó, nhóm thứ ba tiếp cận từ phía nam, do tàu tuần dương hạng nhẹ ARA General Belgrano – một tàu có từ thời Chiến tranh Thế giới thứ hai – dẫn đầu.[84]

Vào ngày 1 tháng 5, tàu ngầm hạt nhân HMS Conqueror của Anh (một trong ba tàu ngầm tuần tra tại vùng TEZ) đã định vị được nhóm tàu General Belgrano và bám đuôi cho đến ngày hôm sau, khi mục tiêu cách Lực lượng Đặc nhiệm Anh khoảng 12 giờ di chuyển và nằm ngay rìa ngoài Vùng cấm hoàn toàn. Nhận biết được nhóm tàu sân bay Argentina cũng đang áp sát từ hướng ngược lại, Đô đốc Woodward đã ra lệnh tấn công tàu tuần dương này nhằm tránh rơi vào thế gọng kìm. Lúc đó, ông không hề biết rằng tàu sân bay Veinticinco de Mayo đã không thể đón đủ sức gió ngược để cất cánh máy bay. Mệnh lệnh đánh chìm tàu tuần dương đã được Nội các Chiến tranh tại Luân Đôn phê chuẩn; chiếc General Belgrano bị trúng hai quả ngư lôi vào lúc 4 giờ chiều ngày 2 tháng 5 (theo giờ địa phương) và chìm xuống biển một giờ sau đó.[85] Vụ tấn công đã khiến 321 thành viên thủy thủ đoàn của tàu General Belgrano cùng hai dân thường có mặt trên tàu tử nạn. Hơn 700 người khác sau đó đã được cứu thoát giữa đại dương mênh mông bất chấp sóng to gió lớn và thời tiết giá lạnh, sau khi phải chống chọi tới 30 giờ trên những chiếc phao cứu sinh chật ních người.[86] Việc tàu General Belgrano bị đánh chìm đã vấp phải sự chỉ trích dữ dội từ các quốc gia Mỹ Latinh cũng như từ những người phản đối chiến tranh tại chính nước Anh; sự ủng hộ dành cho Anh từ một số đồng minh châu Âu cũng bị lung lay, song Hoa Kỳ vẫn giữ vững lập trường ủng hộ quốc gia này.[87]

Vụ đánh chìm này đã mang lại một hiệu quả chiến lược then chốt: loại bỏ hoàn toàn mối đe dọa từ hải quân Argentina. Sau khi mất chiếc tàu tuần dương này, toàn bộ hạm đội Argentina – ngoại trừ tàu ngầm chạy dầu diesel ARA San Luis[50] – đã rút về cảng và không hề xuất kích thêm một lần nào nữa trong suốt thời gian diễn ra chiến sự. Điều này mang lại hiệu quả phụ là cho phép quân Anh tái triển khai các tàu ngầm hạt nhân của họ đến sát bờ biển Argentina, giúp họ kịp thời phát hiện và cảnh báo sớm các đợt không kích xuất phát từ các căn cứ trên đất liền.[88]

Vụ đánh chìm này đã gây ra nhiều tranh cãi gay gắt, bao gồm những bất đồng về bản chất thực sự của vùng cấm cũng như việc liệu tàu General Belgrano có đang trên đường rút về cảng vào thời điểm bị tấn công hay không. Dù vậy, vào năm 2003, thuyền trưởng của con tàu là ông Hector Bonzo đã khẳng định với một đoàn làm phim tài liệu rằng tàu General Belgrano khi đó đang thực hiện các nghiệm pháp cơ động chứ không phải đang rút chạy khỏi vùng cấm, và bản thân ông cũng có mệnh lệnh phải đánh chìm bất kỳ tàu chiến Anh nào mà ông phát hiện được.[89]

Trong một diễn biến khác vào đêm muộn hôm đó, lực lượng Anh đã chặn đánh một tàu tuần tra của Argentina là chiếc ARA Alferez Sobral, khi con tàu này đang tìm kiếm phi hành đoàn của một chiếc máy bay ném bom hạng nhẹ Canberra thuộc Không quân Argentina bị bắn hạ vào ngày 1 tháng 5. Hai chiếc trực thăng Lynx của Hải quân Hoàng gia Anh cất cánh từ tàu HMS CoventryHMS Glasgow đã phóng bốn tên lửa Sea Skua vào con tàu. Dù bị hư hại nặng nề và có tám thủy thủ tử nạn, tàu Alferez Sobral vẫn xoay xở quay trở về cảng Puerto Deseado hai ngày sau đó.[90] Phi hành đoàn của chiếc Canberra xấu số thì mãi mãi không được tìm thấy.[91]

Vụ đánh chìm tàu HMS Sheffield

Tập tin:HMS Sheffield (D80).jpg
Tàu HMS Sheffield

Vào ngày 4 tháng 5, hai ngày sau vụ đánh chìm tàu General Belgrano, phía Anh đã mất tàu khu trục HMS Sheffield do hỏa hoạn bùng phát sau khi trúng một quả tên lửa Exocet phóng từ Phi đoàn Tiêm kích/Cường kích Hải quân số 2 của Argentina.[92]

Trước đó, tàu Sheffield cùng hai tàu khu trục Type 42 khác đã nhận lệnh tiến ra phía trước để thiết lập một vị trí canh phòng radar tầm xa và phòng thủ tên lửa tầm trung-cao, cách xa các tàu sân bay Anh. Con tàu bị trúng tên lửa ngay giữa thân, gây ra những thiệt hại thảm khốc, khiến 20 thành viên thủy thủ đoàn thiệt mạng và 24 người khác bị thương nặng. Thủy thủ đoàn buộc phải bỏ tàu vài giờ sau đó khi con tàu bị lửa thiêu rụi và biến dạng hoàn toàn. Trong suốt bốn ngày, chiếc tàu vẫn được giữ nổi để phục vụ công tác thanh tra và với hy vọng nhử các tàu ngầm Argentina lọt vào tầm săn lùng của trực thăng Anh. Sau đó, quyết định kéo con tàu về đảo Ascension đã được đưa ra; tuy nhiên, khi đang được tàu HMS Yarmouth lai dắt, chiếc Sheffield rốt cuộc đã chìm ở vùng biển phía đông Falkland vào ngày 10 tháng 5.[93]

Sự kiện này đã được Đô đốc Woodward mô tả chi tiết trong Chương Một của cuốn sách One Hundred Days (Một trăm ngày) do chính ông chấp bút. Woodward từng là cựu hạm trưởng của tàu Sheffield.[94] Việc Sheffield bị tiêu diệt – đánh dấu lần đầu tiên một tàu chiến của Hải quân Hoàng gia Anh bị đánh chìm trong lúc tác chiến kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai – đã tác động sâu sắc đến Nội các Chiến tranh cũng như toàn thể công chúng Anh, khiến họ nhận ra thực tế phũ phàng rằng cuộc xung đột này đã thực sự trở thành một cuộc chiến tranh tàn khốc.[95]

Hoạt động ngoại giao

Nhịp độ của các chiến dịch quân sự ngày càng gia tăng trong suốt nửa đầu tháng 5 khi phía Argentina liên tục bác bỏ các nỗ lực hòa giải hòa bình của Liên Hợp Quốc. Lập trường đàm phán cuối cùng của phía Anh đã được Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Javier Pérez de Cuéllar chuyển đến Argentina vào ngày 18 tháng 5 năm 1982. Trong đề xuất này, phía Anh đã từ bỏ "lằn ranh đỏ" trước đây của mình là yêu cầu phải khôi phục ngay quyền quản lý của Anh đối với quần đảo sau khi quân Argentina rút đi (một lập trường vốn được Nghị quyết 502 Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc ủng hộ)[96] Thay vào đó, phía Anh đề xuất một quản trị viên của Liên Hợp Quốc sẽ giám sát quá trình cùng rút quân của cả lực lượng Argentina và Anh, sau đó điều hành quần đảo dựa trên sự tham vấn với các tổ chức đại diện tại đây, trong đó bao gồm cả người Argentina (dù thực tế không có người Argentina nào sinh sống trên quần đảo). Việc đề cập đến quyền "tự quyết" của cư dân trên đảo cũng bị bãi bỏ, và phía Anh đề nghị rằng các cuộc đàm phán trong tương lai về chủ quyền của quần đảo sẽ do Liên Hợp Quốc dẫn dắt.[97] Tuy nhiên, phía Argentina đã bác bỏ các đề xuất này ngay trong ngày hôm đó.[98]

Các chiến dịch của lực lượng đặc nhiệm

Trước mối đe dọa đối với hạm đội Anh từ sự kết hợp nguy hiểm giữa cường kích Étendard và tên lửa Exocet của phía Argentina, quân đội Anh đã lên kế hoạch sử dụng máy bay vận tải C-130 để thả các toán đặc nhiệm SAS xuống tấn công căn cứ trú đóng của 5 chiếc Étendard tại Río Grande, Tierra del Fuego. Chiến dịch này được đặt mật danh là "Mikado". Tuy nhiên, kế hoạch sau đó bị hủy bỏ do nhận thấy khả năng thành công quá thấp. Thay vào đó, họ đề xuất phương án sử dụng tàu ngầm HMS Onyx để thả các đặc nhiệm hải quân SBS ngoài khơi vài dặm vào ban đêm; các đặc nhiệm này sẽ tự chèo xuồng cao su vào bờ để phá hủy kho tên lửa Exocet còn lại của Argentina. Dù vậy, thực tế kho tên lửa Exocet không hề tồn tại ở mục tiêu này.[99]

Một tổ trinh sát SAS đã được phái đi trước để chuẩn bị cho kế hoạch xâm nhập từ đường biển. Vào đêm ngày 17 tháng 5, chiếc trực thăng Westland Sea King chở theo tổ trinh sát cất cánh từ tàu HMS Invincible, nhưng thời tiết xấu đã buộc trực thăng phải hạ cánh khẩn cấp cách mục tiêu 50 dặm (80 km), khiến nhiệm vụ bị hủy bỏ.[100] Phi công đã lái máy bay sang Chile, hạ cánh ở phía nam Punta Arenas để thả nhóm SAS xuống. Tổ bay gồm ba người sau đó tự phá hủy máy bay, ra đầu thú trước cảnh sát Chile vào ngày 25 tháng 5, rồi được hồi hương về Anh sau khi bị thẩm vấn. Việc phát hiện xác chiếc trực thăng bị đốt cháy rụi đã thu hút sự chú ý lớn từ dư luận quốc tế. Trong khi đó, toán SAS đã vượt biên giới xâm nhập vào Argentina, nhưng buộc phải hủy bỏ nhiệm vụ sau khi phía Argentina nghi ngờ có hoạt động đặc nhiệm và triển khai khoảng 2.000 quân để truy lùng. Các binh sĩ SAS sau đó đã xoay xở quay trở lại Chile và đón một chuyến bay dân sự để trở về Anh.[101]

Vào ngày 14 tháng 5, lực lượng SAS đã thực hiện cuộc tấn công vào đảo Pebble ở Falkland, nơi Hải quân Argentina trưng dụng một đường băng dã ngoại bằng cỏ để bố trí các máy bay cường kích hạng nhẹ FMA IA 58 PucaráBeechcraft T-34 Mentor. Trận tập kích này của lực lượng SAS đã phá hủy thành công nhiều máy bay của đối phương tại thực địa.[nb 1][102]

Vào ngày 15 tháng 5, các tổ đặc nhiệm SBS được tàu HMS Brilliant đưa vào khu vực Grantham Sound để trinh sát và quan sát các bãi đổ bộ tại Vịnh San Carlos.[103] Vào tối ngày 20 tháng 5, một ngày trước đợt đổ bộ chính, một trung đội SBS cùng các trinh sát pháo binh đã đổ bộ bằng trực thăng Wessex để tấn công một đồn quan sát của Argentina tại Fanning Head – vị trí kiểm soát lối vào vịnh; cùng lúc đó, lực lượng SAS tiến hành một cuộc tấn công nghi binh tại Darwin.[104]

Các cuộc không kích

Tập tin:HMS Antelope 1982.jpg
HMS Antelope bốc khói dữ dội sau khi bị trúng bom, ngày 23 tháng 5
Tập tin:HMS Coventry D118.jpg
Tàu HMS Coventry vào năm 1981

Ngay tại khu vực đổ bộ, những lỗ hổng trong hệ thống phòng không của các tàu chiến Anh đã lộ rõ qua vụ tàu HMS Ardent bị trúng tới 9 quả bom và chìm vào ngày 21 tháng 5,[105] tiếp đó là tàu HMS Antelope vào ngày 24 tháng 5 khi các nỗ lực vô hiệu hóa những quả bom chưa nổ trên tàu thất bại.[106] Ở ngoài khơi xa nơi nhóm tác chiến tàu sân bay đồn trú, tàu vận tải thương mại MV Atlantic Conveyor đã bị trúng một tên lửa Exocet phóng từ máy bay vào ngày 25 tháng 5. Vụ tấn công đã thiêu rụi 3 trong số 4 trực thăng Chinook CH-47 và 5 trực thăng Wessex, cùng toàn bộ trang thiết bị bảo dưỡng đi kèm, dụng cụ làm đường băng dã chiến và lều trại quân dụng. Đây là một tổn thất giáng mạnh vào năng lực hậu cần của quân Anh. 12 thành viên thủy thủ đoàn của tàu cũng thiệt mạng trong sự kiện này.[107]

Cũng bị đánh chìm vào ngày 25 tháng 5 là tàu HMS Coventry — tàu cùng lớp với chiếc Sheffield. Khi đang di chuyển cùng tàu HMS Broadsword, chiếc Coventry nhận lệnh làm mồi nhử để thu hút các máy bay Argentina ra xa khỏi các tàu chiến khác tại Vịnh San Carlos.[108] Tàu HMS ArgonautHMS Brilliant cũng bị hư hại ở mức trung bình.[44]

Dẫu vậy, nhiều tàu chiến của Anh đã may mắn thoát cảnh bị đánh chìm nhờ những yếu tố bất lợi mà các phi công Argentina gặp phải. Để tránh lưới lửa phòng không dày đặc của Anh, các phi công Argentina buộc phải cắt bom ở độ cao cực thấp, khiến ngòi nổ không có đủ thời gian để chuyển sang trạng thái sẵn sàng kích nổ trước khi va chạm. Việc cắt bom hãm đà (retarded bomb) từ độ cao quá thấp khiến nhiều quả bom rơi xuống mà không hề phát nổ, vì thời gian rơi tự do trong không trung quá ngắn để ngòi nổ tự kích hoạt.[nb 2] Dù các phi công thừa hiểu điều này, nhưng do phải căng mình né tránh tên lửa đất đối không (SAM), pháo phòng không (AAA) và tiêm kích Sea Harrier của Anh, nhiều người đã không thể nâng độ cao đến điểm cắt bom tiêu chuẩn. Sau đó, lực lượng Argentina đã khắc phục vấn đề này bằng cách tự chế các thiết bị hãm đà lắp vào bom, giúp các phi công thực hiện hiệu quả các cuộc ném bom tầm thấp kể từ ngày 8 tháng 6.

Tập tin:Atlantic Conveyor .jpg
Tàu Atlantic Conveyor đang tiến gần đến quần đảo Falkland, khoảng ngày 19 tháng 5 năm 1982

Có tới 13 quả bom đã ném trúng các tàu chiến Anh nhưng không phát nổ.[109] Thượng nghị sĩ David Craig, cựu Thống chế Không quân Hoàng gia Anh, được cho là đã nhận xét: "Chỉ cần thêm sáu ngòi nổ hoạt động tốt là chúng ta đã thua cuộc",[110] dù trên thực tế, cả hai tàu ArdentAntelope vẫn bị đánh chìm bất kể bom không nổ, còn tàu Argonaut thì bị loại khỏi vòng chiến đấu. Thực chất các ngòi nổ vẫn hoạt động hoàn toàn bình thường, chỉ là do bom được thả từ độ cao quá thấp.[111][112] Phía Argentina đã mất 22 máy bay trong các cuộc tấn công này.[nb 3]

Trong cuốn hồi ký về Chiến tranh Falklands, Đô đốc Woodward đã đổ lỗi cho đài BBC World Services vì tiết lộ thông tin khiến phía Argentina thay đổi thiết bị hãm đà trên bom. Đài BBC đã đưa tin về việc bom không phát nổ sau khi nhận được thông tin từ một quan chức thuộc Bộ Quốc phòng Anh. Ông mô tả BBC quan tâm đến danh xưng "những người đi tìm sự thật không biết sợ hãi" của họ hơn là mạng sống của các binh sĩ Anh.[111] Đại tá 'H'. Jones cũng đưa ra những cáo buộc tương tự nhắm vào BBC sau khi đài này tiết lộ cuộc tấn công sắp tới của Tiểu đoàn 2 Trung đoàn Dù Anh (2 PARA) vào Goose Green.[113]

Tập tin:HMS Broadsword and Hermes, 1982 (IWM).jpg
HMS BroadswordHMS Hermes trong cuộc chiến

Vào ngày 30 tháng 5, hai chiếc Super Étendard (một chiếc mang quả tên lửa Exocet cuối cùng của Argentina) được hộ tống bởi bốn chiếc A-4C Skyhawk (mỗi chiếc mang hai quả bom 500 lb) đã cất cánh để tấn công tàu sân bay Invincible.[114] Tình báo Argentina đã cố gắng xác định vị trí của các tàu sân bay Anh bằng cách phân tích đường bay của các phi cơ từ lực lượng đặc nhiệm đến quần đảo.[114] Tuy nhiên, phía Anh có một quy định bất biến là mọi máy bay khi rời hoặc quay lại tàu sân bay đều phải bay ở độ cao cực thấp để che giấu vị trí.[115] Chiến thuật này đã vô hiệu hóa đợt tấn công của Argentina, khiến họ dồn hỏa lực nhầm vào một nhóm tàu hộ tống cách nhóm tàu sân bay 40 dặm (64 km) về phía nam.[116] Hai trong số các chiếc Skyhawk tham gia không kích[116] đã bị tên lửa Sea Dart phóng từ tàu HMS Exeter bắn hạ.[114] Trong khi đó, phía tàu HMS Avenger tuyên bố đã dùng pháo 115 mm của tàu bắn rơi quả tên lửa Exocet, tuy nhiên tuyên bố này vẫn đang bị hoài nghi.[117] Không có bất kỳ tàu chiến nào của Anh bị tổn thất trong trận này.[114] Trong suốt cuộc chiến, phía Argentina luôn khẳng định đã đánh trúng làm hư hại tàu sân bay Invincible và vẫn tiếp tục đưa ra tuyên bố này cho đến nay,[118] dù chưa có bất kỳ bằng chứng nào xác thực thiệt hại đó được đưa ra.[44][119]

Các trận đánh trên bộ

San Carlos – "Hành lang Bom"

Tập tin:Action stations Falklands 1982.JPG
Các thủy thủ Anh mang trang bị chống cháy tại vị trí chiến đấu trên tàu HMS Cardiff gần San Carlos, tháng 6 năm 1982

Trong đêm ngày 21 tháng 5, Nhóm tác chiến đổ bộ Anh dưới quyền chỉ huy của Chuẩn đô đốc Michael Clapp (Chỉ huy Tác chiến Đổ bộ – COMAW) đã triển khai Chiến dịch Sutton — cuộc đổ bộ bằng đường biển lên các bãi biển quanh Vịnh San Carlos,[nb 4] nằm ở bờ biển phía tây bắc của đảo Đông Falkland hướng ra Eo biển Falkland. Vịnh biển này, vốn được lực lượng Anh gọi là "Hành lang Bom" (Bomb Alley), đã trở thành nơi hứng chịu liên tiếp các đợt oanh tạc từ các chiến đấu cơ bay thấp của Argentina.[120][121]

Khoảng 4.000 binh sĩ thuộc Lữ đoàn Biệt kích số 3 đã được đưa lên bờ theo các hướng cụ thể: Tiểu đoàn 2 Trung đoàn Dù (2 PARA) từ tàu phà Norland và Tiểu đoàn Đột kích số 40 Thủy quân lục chiến Hoàng gia từ tàu đổ bộ HMS Fearless lên bãi San Carlos (Bãi Xanh dương); Tiểu đoàn 3 Trung đoàn Dù (3 PARA) từ tàu đổ bộ HMS Intrepid lên Port San Carlos (Bãi Xanh lá); và Tiểu đoàn Đột kích số 45 từ tàu hậu cần RFA Stromness lên Vịnh Ajax (Bãi Đỏ).[122] Đáng chú ý, đội hình gồm 8 chiếc xuồng đổ bộ LCU và 8 chiếc xuồng đổ bộ LCVP được dẫn đầu bởi Thiếu tá Ewen Southby-Tailyour — người từng chỉ huy lực lượng đồn trú NP8901 tại Falkland từ tháng 3 năm 1978 đến năm 1979. Trong khi đó, Tiểu đoàn Đột kích số 42 đóng trên tàu khách du lịch SS Canberra đóng vai trò là lực lượng dự bị chiến thuật. Các đơn vị thuộc Pháo binh Hoàng gia, Công binh Hoàng gia, v.v. cùng các xe thiết giáp trinh sát cũng được đưa lên bờ bằng xuồng đổ bộ, tàu đổ bộ hậu cần lớp Round Table (LSL) và các phao nổi mexeflote. Các bệ phóng tên lửa phòng không Rapier được trực thăng Sea King cẩu treo dưới bụng để nhanh chóng triển khai trận địa hỏa lực tại thực địa.[123]

Đến rạng sáng hôm sau, quân Anh đã thiết lập được một đầu cầu đổ bộ vững chắc để làm bàn đạp cho các chiến dịch tấn công tiếp theo. Chuẩn tướng Julian Thompson đã dựng sở chỉ huy lữ đoàn của mình trong các hầm dã chiến gần khu định cư San Carlos.[124]

Goose Green

Từ sáng sớm ngày 27 cho đến ngày 28 tháng 5, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn Dù (2 PARA) đã tiến quân và mở các cuộc tấn công vào Goose Green và Darwin — các cứ điểm do Trung đoàn Bộ binh số 12 của Argentina phòng thủ. Lực lượng gồm 700 binh sĩ của 2 PARA đã nhận được sự chi viện hỏa lực hải pháo từ tàu HMS Arrow và pháo binh từ Đại đội Pháo binh Đột kích số 8 thuộc Pháo binh Hoàng gia. Sau một trận chiến kéo dài và khốc liệt xuyên đêm cho đến ngày hôm sau, quân Anh đã giành được chiến thắng. Tổng cộng có 18 binh sĩ Anh và khoảng 50 binh sĩ Argentina tử trận.[125] Bên cạnh đó, 961 quân nhân Argentina khác bị bắt làm tù binh.[126]

Trong lúc giao tranh, Trung tá H. Jones — tiểu đoàn trưởng của 2 PARA, đã tử trận khi đang dẫn đầu một đợt xung phong vào các vị trí phòng thủ của Argentina. Ông đã được truy tặng Huân chương Victoria vì hành động dũng cảm của mình.[127]

Sau khi vô hiệu hóa thành công lực lượng Argentina tại Goose Green, quân Anh đã có thể bứt phá khỏi đầu cầu đổ bộ San Carlos. Các đơn vị thuộc Tiểu đoàn Đột kích số 45 và Tiểu đoàn 3 Trung đoàn Dù (3 PARA) bắt đầu cuộc hành quân băng qua đảo Đông Falkland.[128]

Lực lượng đặc nhiệm tại núi Kent

Trong khi đó, Tiểu đoàn Đột kích số 42 (42 Commando) chuẩn bị di chuyển bằng trực thăng đến Núi Kent.[nb 5] Các sĩ quan cao cấp của Anh không hề hay biết rằng các tướng lĩnh Argentina đã quyết tâm kìm chân quân Anh tại khu vực núi Kent. Vào ngày 27 và 28 tháng 5, phía Argentina đã điều động các máy bay vận tải chở đầy tên lửa đất đối không Blowpipe cùng lực lượng biệt kích (Đại đội Biệt kích số 602 và Tiểu đoàn Đặc nhiệm Hiến binh Quốc gia số 601) tới Stanley. Chiến dịch này được biết đến với tên gọi Autoimpuesta ("Tự áp đặt").

Suốt tuần lễ sau đó, lực lượng SAS và Đội huấn luyện Tác chiến Miền núi và Bắc Cực (M&AWC) thuộc Lữ đoàn Biệt kích số 3 đã đụng độ dữ dội với các toán tuần tra của Đại đội Biệt kích 602 — đơn vị gồm toàn lính tình nguyện dưới quyền Thiếu tá Aldo Rico. Suốt ngày 30 tháng 5, các máy bay Harrier của Không quân Hoàng gia Anh liên tục hoạt động trên không phận núi Kent. Một trong số đó, chiếc Harrier mang số hiệu XZ963 do Thiếu tá Jerry Pook điều khiển — khi đang bay trợ chiến theo lời gọi chi viện từ Phi đội D — đã tấn công vào sườn dưới phía đông núi Kent và bị bắn hạ bởi hỏa lực vũ khí bộ binh hạng nhẹ của đối phương. Pook sau đó đã được trao tặng Huân chương Chữ thập Bay Dũng cảm.[129]

Vào ngày 31 tháng 5, lực lượng M&AWC đã đánh bại lực lượng đặc nhiệm Argentina trong trận đụng độ tại Top Malo House. Một phân đội biệt kích gồm 13 người thuộc Lục quân Argentina (do Đại úy José Vercesi chỉ huy) đã bị vây hãm trong một ngôi nhà nhỏ của người chăn cừu tại khu vực Top Malo. Các biệt kích Argentina nổ súng chống trả từ cửa sổ và lối ra vào, sau đó rút ra ẩn nấp dưới một lòng suối cạn cách ngôi nhà đang bốc cháy khoảng 200 mét (700 ft). Bị bao vây hoàn toàn, họ đã chiến đấu kiên cường chống lại 19 lính thủy đánh bộ M&AWC dưới quyền Đại úy Rod Boswell trong 45 phút, trước khi quyết định đầu hàng khi đạn dược đã gần như cạn kiệt.

Ba thành viên của lực lượng M&AWC bị thương nặng. Về phía Argentina, có hai người tử trận bao gồm Trung úy Ernesto Espinoza và Trung sĩ Mateo Sbert; cả hai đều được truy tặng huân chương vì lòng dũng cảm. Chỉ có năm binh sĩ Argentina thoát nạn mà không bị thương tích. Ngay khi quân Anh kiểm soát được Top Malo House, toán tuần tra M&AWC của Trung úy Fraser Haddow từ đồi Malo tiến xuống, trên tay phất cao một lá Quốc kỳ Anh cỡ lớn. Một binh sĩ Argentina bị thương là Trung úy Horacio Losito sau đó nhận xét rằng nếu họ rút lui theo lộ trình dự định, họ cũng sẽ đụng độ đối phương ngay tại vị trí chốt chặn của Haddow.[130]

Đại đội Biệt kích 601 của Argentina đã cố gắng tiến lên để giải cứu Đại đội Biệt kích 602 trên núi Estancia. Tuy nhiên, sau khi bị Tiểu đoàn Đột kích 42 phát hiện, họ đã bị chặn bằng súng cối L16 81 mm và buộc phải rút lui về núi Two Sisters. Chỉ huy của Đại đội Biệt kích 602 trên núi Estancia nhận ra vị trí của mình không còn khả năng phòng thủ nên sau khi bàn bạc với các sĩ quan khác đã hạ lệnh rút quân.[131]

Chiến dịch của Argentina cũng chứng kiến việc sử dụng rộng rãi máy bay trực thăng để vận chuyển và giải vây cho các toán tuần tra; Tiểu đoàn Hàng không Chiến đấu số 601 của họ cũng phải chịu tổn thất lớn. Khoảng 11 giờ sáng ngày 30 tháng 5, một chiếc trực thăng Aérospatiale SA 330 Puma đã bị bắn rơi bởi quả tên lửa đất đối không vác vai (SAM) FIM-92 Stinger do lực lượng SAS phóng gần khu vực núi Kent. Sáu đặc nhiệm thuộc lực lượng Hiến binh Quốc gia Argentina đã tử nạn và tám người khác bị thương trong vụ rơi máy bay này.[132]

Như Chuẩn tướng Thompson đã nhận xét:

Trang Bản mẫu:Quote/styles.css không có nội dung.

Thật may mắn là tôi đã phớt lờ ý kiến từ Bộ chỉ huy Northwood khi họ cho rằng việc trinh sát núi Kent trước khi triển khai Tiểu đoàn Đột kích 42 là không cần thiết. Nếu Phi đội D không có mặt ở đó, lực lượng Đặc nhiệm Argentina đã có thể tóm gọn quân Đột kích trước khi họ kịp xuống máy bay, và trong bóng tối lẫn sự hỗn loạn tại một bãi đổ bộ xa lạ, họ chắc chắn sẽ gây ra thương vong nặng nề cho cả binh sĩ lẫn trực thăng.[133]

Vịnh Bluff và Fitzroy

Đến ngày 1 tháng 6, khi có thêm 5.000 binh sĩ thuộc Lữ đoàn Bộ binh số 5 của Anh tăng cường, Tư lệnh mới của sư đoàn Anh là Thiếu tướng Jeremy Moore đã tập hợp đủ lực lượng để bắt đầu lên kế hoạch cho một cuộc tấn công vào Stanley. Trong quá trình tăng viện này, các cuộc không kích của quân Argentina vào lực lượng hải quân Anh vẫn tiếp diễn, khiến 56 người tử nạn. Trong số đó, có 32 binh sĩ thuộc Trung đoàn Cận vệ Xứ Wales đã hy sinh vào ngày 8 tháng 6 trên hai tàu hậu cần hoàng gia RFA Sir GalahadRFA Sir Tristram. Theo bác sĩ quân y Rick Jolly tại Bệnh viện Dã chiến Falklands, cuộc tấn công này còn khiến hơn 150 người bị bỏng và chấn thương ở các mức độ khác nhau.[134]

Lực lượng Cận vệ được phái đến để hỗ trợ mũi tiến quân dọc theo hướng tiếp cận phía nam vào Stanley. Vào ngày 2 tháng 6, một nhóm tiền trạm nhỏ thuộc Tiểu đoàn 2 Trung đoàn Dù (2 PARA) đã sử dụng trực thăng Westland Scout của lục quân để di chuyển đến khu vực Swan Inlet. Sau khi gọi điện thám thính tới Fitzroy và biết quân Argentina chưa đặt chân đến đây, họ đã tự ý hành động (vượt quá thẩm quyền) khi trưng dụng chiếc trực thăng Chinook duy nhất còn lại của Không quân Hoàng gia (RAF) để cấp tốc không vận một cánh quân khác của Tiểu đoàn 2 Dù tới Fitzroy (một khu định cư tại Port Pleasant) và Bluff Cove (khu định cư tại Port Fitzroy).[135] Mũi tiến quân tự phát này đã gây ra vô vàn khó khăn cho các chỉ huy chiến dịch khi lập kế hoạch. Giờ đây, họ rơi vào thế bị động với một chiến tuyến dài tới 30 dặm (48 km) trải dọc sườn phía nam nhưng lại rất khó phòng thủ. Việc chi viện bằng đường hàng không cũng bất khả thi vì chiếc trực thăng Chinook duy nhất còn lại đã quá tải do phải gánh vác quá nhiều nhiệm vụ. Dù binh sĩ có thể hành quân bộ, nhưng toàn bộ trang thiết bị và khí tài hạng nặng của họ bắt buộc phải vận chuyển bằng đường biển.

Tập tin:Stanley.falklands.war.svg
Con đường dẫn vào Stanley

Theo kế hoạch được vạch ra, một nửa quân số của Trung đoàn Cận vệ Xứ Wales sẽ hành quân gọn nhẹ vào đêm ngày 2 tháng 6. Trong khi đó, Trung đoàn Cận vệ Scotland cùng nửa quân số còn lại của Cận vệ Xứ Wales sẽ được vận chuyển từ vùng nước San Carlos bằng tàu đổ bộ hậu cần (LSL) Sir Tristramtàu đổ bộ bến (LPD) Intrepid vào đêm ngày 5 tháng 6. Dự kiến, tàu Intrepid sẽ ở lại một ngày để tự bốc dỡ hàng hóa của mình cùng với lượng hàng nhiều nhất có thể từ tàu Sir Tristram, sau đó quay trở lại vùng biển an toàn hơn ở San Carlos vào tối hôm sau. Các tàu hộ tống sẽ được bố trí bảo vệ trong ngày này; sau đó, tàu Sir Tristram sẽ ở lại và tự bốc dỡ hàng bằng bè tự hành Mexeflote cho đến khi hoàn tất công việc.[136]

Tuy nhiên, áp lực chính trị từ cấp trên yêu cầu không được mạo hiểm chiếc LPD đã buộc Chuẩn tướng hải quân Michael Clapp phải thay đổi kế hoạch. Thay vào đó, hai tàu LSL có giá trị thấp hơn sẽ được phái đi. Nhưng do không có bãi đổ bộ phù hợp, các xuồng đổ bộ của tàu Intrepid bắt buộc phải đi cùng để hỗ trợ bốc dỡ. Một phương án tác chiến phức tạp kéo dài trong nhiều đêm đã được xây dựng, trong đó tàu Intrepid và tàu chị em Fearless sẽ di chuyển một nửa chặng đường để hạ thủy các xuồng đổ bộ của mình.[137]

Nỗ lực hành quân bộ của một nửa lực lượng Cận vệ Xứ Wales đã thất bại, nguyên nhân có thể do họ không chịu hành quân gọn nhẹ mà cố mang theo toàn bộ trang thiết bị cồng kềnh.[138] Họ phải quay trở lại San Carlos và sau đó đổ bộ trực tiếp xuống Bluff Cove nhờ các xuồng đổ bộ do tàu Fearless hạ thủy. Tàu Sir Tristram nhổ neo vào đêm ngày 6 tháng 6 và hội quân cùng tàu Sir Galahad vào rạng sáng ngày 7 tháng 6. Neo đậu cách nhau khoảng 370 mét (1.200 feet) tại Port Pleasant, hai tàu đổ bộ này đã áp sát Fitzroy — điểm đổ quân được chỉ định theo kế hoạch. Đáng lẽ các xuồng đổ bộ đã có thể nhanh chóng bốc dỡ hàng từ tàu vào bờ, nhưng sự hỗn loạn xung quanh mệnh lệnh về địa điểm đổ quân (với việc nửa quân số đầu tiên của lực lượng Cận vệ đã di chuyển thẳng tới Bluff Cove) đã khiến sĩ quan bộ binh cấp cao của Cận vệ Xứ Wales có mặt trên tàu quả quyết rằng binh lính của ông phải được chở thẳng bằng xuồng đến Port Fitzroy/Bluff Cove, dù quãng đường này xa hơn rất nhiều. Phương án thay thế duy nhất lúc đó là các binh sĩ bộ binh phải tự đi bộ khoảng 11 km (7 dặm) băng qua cây cầu Bluff Cove vừa mới được sửa chữa (trước đó đã bị lực lượng công binh Argentina phá hủy khi rút lui) để tới đích.[139]

Một giả thuyết cho rằng đã xảy ra tranh cãi nảy lửa ngay tại bửng đuôi tàu Sir Galahad về phương án xử lý. Các sĩ quan trên tàu được thông báo rằng họ không thể di chuyển đến Bluff Cove vào ban ngày, và họ phải đưa quân xuống tàu để lên bãi biển càng sớm càng tốt vì các tàu này rất dễ trở thành mục tiêu cho máy bay địch. Việc đưa binh lính vào bờ bằng xuồng đổ bộ LCU và bè tự hành Mexeflote chỉ mất khoảng 20 phút. Sau đó, họ có hai lựa chọn: hoặc đi bộ khoảng 11 km (7 dặm) đến Bluff Cove, hoặc đợi đến khi trời tối rồi tiếp tục di chuyển bằng đường biển. Tuy nhiên, các sĩ quan trên tàu quyết định sẽ ở lại tàu cho đến tối rồi mới nhổ neo và từ chối đưa quân đổ bộ lên bãi biển. Có khả năng họ hoài nghi về việc cây cầu đã được sửa xong, bởi chính phân đội Công binh Hoàng gia — những người chịu trách nhiệm sửa cầu — lúc đó vẫn đang có mặt trên tàu Sir Galahad. Ngoài ra, quân Cận vệ Xứ Wales cũng rất nóng lòng muốn hội quân với phần còn lại của tiểu đoàn (lực lượng có thể đang phải đối mặt với quân địch mà không có họ tiếp ứng). Kể từ khi đổ bộ xuống San Carlos, họ chưa hề giáp mặt với máy bay địch nên có phần chủ quan và quá tin tưởng vào hệ thống phòng không của quân nhà. Thiếu tá Thủy quân lục chiến Hoàng gia Ewen Southby-Tailyour đã ra lệnh trực tiếp yêu cầu binh lính rời tàu để lên bờ, nhưng mệnh lệnh này đã bị phớt lờ.[140]

Tuy nhiên, một báo cáo của Hải quân Hoàng gia vào thời điểm đó, được giải mật một phần vào năm 2024, đã đặt ra dấu hỏi lớn về tính xác thực của câu chuyện trên. Báo cáo điều tra khẳng định: "Chưa từng có bất kỳ mệnh lệnh trực tiếp nào yêu cầu đổ quân được đưa ra cho [sĩ quan chỉ huy của Cận vệ Xứ Wales] bởi một sĩ quan cấp trên".[141] Ngoài ra, tài liệu cũng chỉ ra rằng mặc dù tàu Sir Tristram đã nhận được tín hiệu thông báo về sự xuất hiện của tàu Sir Galahad, họ lại không chuyển thông tin này cho các sĩ quan chịu trách nhiệm bốc dỡ hàng. Những người này hoàn toàn không được cảnh báo trước về việc con tàu sẽ tới, cũng như về tính chất của số hàng hóa trên tàu, dẫn đến việc không có bất kỳ sự chuẩn bị nào để kịp thời bốc dỡ hàng cho tàu vừa cập bến.[141]

Quãng đường di chuyển dài hơn của các xuồng đổ bộ khi chở quân thẳng đến Bluff Cove, cộng thêm sự mập mờ trong các mệnh lệnh ban hành, đã khiến việc bốc dỡ hàng bị đình trệ nghiêm trọng. Điều này dẫn đến những hậu quả thảm khốc, bởi từ đỉnh núi Harriet cách đó khoảng 16 km (10 dặm), quân đội Argentina hoàn toàn có thể nhìn rõ các con tàu này.[142] Không có tàu hộ tống bảo vệ, chưa kịp thiết lập hệ thống phòng không, lại đang chở gần như đầy tải, hai tàu LSL tại Port Pleasant trở thành những bia đỡ đạn sống cho 8 chiếc tiêm kích A-4 Skyhawk của Argentina. Trước đó, một đợt xuất kích hiệp đồng của 6 chiếc tiêm kích Dagger tấn công tàu HMS Plymouth đã thành công trong việc đánh lạc hướng và thu hút các máy bay tiêm kích Sea Harrier của Anh đang tuần tra ở khu vực khác.

Vào lúc 17:00, những chiếc Skyhawk lao đến tấn công từ phía biển. Tàu Sir Galahad trúng 3 quả bom; dù không có quả nào phát nổ ngay lập tức, chúng đã kích hoạt những đám cháy dữ dội và nhanh chóng vượt ngoài tầm kiểm soát. Tàu Sir Tristram trúng 2 quả bom, cũng gây ra hỏa hoạn và buộc thủy thủ đoàn phải bỏ tàu, nhưng mức độ thiệt hại ít nghiêm trọng hơn. Sau trận oanh tạc, 3 trực thăng Sea King và 1 chiếc Wessex đã khẩn trương không vận các thương binh về trạm sơ cứu dã chiến được dựng lên ngay trên bờ biển.[143]

Thương vong của quân Anh trong trận này là 48 người tử trận và 115 người bị thương.[144] Phía Argentina cũng có 3 phi công tử nạn. Cuộc không kích này đã khiến kế hoạch tấn công trên bộ của quân Anh vào Stanley bị trì hoãn mất hai ngày.[145] Dù tổn thất của quân Anh tương đương với quân số của cả hai đại đội bộ binh, bộ chỉ huy Anh vẫn quyết định không công bố số liệu chi tiết. Lý do là bởi các nguồn tin tình báo cho thấy các chỉ huy Argentina đang tin rằng họ đã giáng cho phía Anh một đòn chí mạng với thiệt hại nặng nề hơn thế rất nhiều. Mặc dù vậy, thảm kịch tại Port Pleasant (tuy thường được biết đến rộng rãi hơn với cái tên Bluff Cove) vẫn để lại cho thế giới những hình ảnh ám ảnh và chân thực nhất về cuộc chiến. Những thước phim từ đài ITV News thời bấy giờ đã ghi lại trọn vẹn cảnh tượng các trực thăng phải bay lơ lửng giữa làn khói dày đặc để kéo những người sống sót ra khỏi các con tàu đổ bộ đang chìm trong biển lửa.[146]

Stanley sụp đổ, Argentina đầu hàng

Tập tin:Argentine prisoners of war - Port Stanley.JPG
Tù binh chiến tranh Argentina tại Cảng Stanley.
Tập tin:Cardiff anchored outside Port Stanley.JPG
Tàu chiến HMS Cardiff neo đậu bên ngoài Cảng Stanley khi chiến sự kết thúc vào năm 1982.

Đêm 11 tháng 6, sau nhiều ngày trinh sát tỉ mỉ và tập kết hậu cần kỹ lưỡng, quân đội Anh phát động một cuộc tấn công đêm cấp lữ đoàn nhằm vào hệ thống cứ điểm cao điểm được phòng thủ nghiêm ngặt bao quanh Stanley. Được sự yểm trợ từ hỏa lực pháo hạm của nhiều tàu chiến Hải quân Hoàng gia, các đơn vị thuộc Lữ đoàn Thủy quân lục chiến số 3 đã đồng loạt nổ súng đánh chiếm các mục tiêu tại Núi Harriet, Núi Two Sisters và Núi Longdon. Tại Núi Harriet, quân Anh giành quyền kiểm soát với tổn thất 2 binh sĩ tử trận, trong khi phía Argentina có 18 người thiệt mạng. Trận đánh tại Two Sisters diễn ra phức tạp hơn khi quân Anh vừa phải đối mặt với sự kháng cự quyết liệt của địch, vừa chịu tổn thất do hỏa lực nhầm từ chính quân nhà, nhưng cuối cùng họ vẫn làm chủ được trận địa. Khốc liệt nhất phải kể đến trận Núi Longdon, nơi cánh quân Anh hoàn toàn bị sa lầy trước các làn đạn súng trường, súng cối, súng máy, pháo binh, lính bắn tỉa và các trận địa phục kích bủa vây của đối phương, dù vậy họ vẫn kiên cường giữ vững đà tiến công.[147]

Cũng trong đêm giao tranh ác liệt này, một tai họa đã ập xuống Hải quân Anh khi tàu chiến HMS Glamorgan, do đi quá sát bờ trên đường rút lui khỏi vị trí bắn phá, đã trúng phải một quả tên lửa Exocet MM38. Quả tên lửa này được bắn đi từ một bệ phóng tự chế đặt trên rơ-moóc do các kỹ thuật viên Hải quân Argentina hoán cải từ tàu khu trục cũ ARA Seguí, khiến 14 thủy thủ Anh tử nạn.[148] Trên đất liền, Trung sĩ Ian McKay thuộc Tiểu đoàn 3 Trung đoàn Dù đã hy sinh anh dũng trong một đợt tấn công bằng lựu đạn vào lô cốt của quân Argentina. Sự quả cảm này đã giúp ông được truy tặng Huân chương Chữ thập Victoria — phần thưởng cao quý nhất của quân đội Anh.[149] Sau một đêm đẫm máu với tổn thất nặng nề cho cả hai bên, quân Anh cuối cùng đã kiểm soát vững chắc toàn bộ các mục tiêu chiến lược.[150]

Sang đêm 13 tháng 6, giai đoạn hai của chiến dịch tiếp tục được triển khai nhằm duy trì thế áp đảo từ đợt tấn công đầu tiên. Tiểu đoàn 2 Trung đoàn Dù, với sự yểm trợ của lực lượng thiết giáp nhẹ thuộc trung đoàn Blues and Royals, đã đánh chiếm thành công Wireless Ridge. 3 binh sĩ Anh và 25 binh sĩ Argentina tử trận trong trận đánh này. Cùng lúc đó, Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn Cận vệ Scotland cũng làm chủ Núi Tumbledown sau một trận giáp lá cà khốc liệt, đánh đổi bằng sinh mạng của 10 quân nhân Anh và 30 binh sĩ Argentina. Tuy nhiên, mũi đột kích phối hợp cùng thời điểm của đặc nhiệm SAS và SBS bằng xuồng tốc độ cao nhằm phá hủy các bồn chứa dầu tại Cảng Stanley lại không thành công, khi họ bị các khẩu đội pháo phòng không của Argentina phát hiện và đánh bật hoàn toàn.[151]

Tập tin:Discarded weapons, Stanley 1982.JPG
Vũ khí quân Argentina bị tịch thu tại Cảng Stanley

Khi tuyến phòng thủ tự nhiên cuối cùng tại Núi Tumbledown bị chọc thủng, hệ thống phòng ngự bảo vệ thị trấn Stanley của quân Argentina cũng bắt đầu sụp đổ. Trong buổi sáng mờ sương, việc một đại đội trưởng bị lạc đường đã kéo theo tâm lý hoang mang, rệu rã bao trùm lên các sĩ quan cấp dưới của Argentina. Binh nhì Santiago Carrizo thuộc Trung đoàn 3 kể lại rằng, một trung đội trưởng từng hạ lệnh cho họ chiếm giữ các ngôi nhà của dân và "bắn hạ bất kỳ người dân đảo nào dám chống cự", nhưng rốt cuộc cả đại đội đã không ai làm theo mệnh lệnh tàn nhẫn đó. Trong khi đó, cuộc tấn công ban ngày vào Núi William của các chiến binh Gurkha – vốn bị trì hoãn từ đêm hôm trước do cuộc chiến dai dẳng ở Tumbledown – lại kết thúc một cách chóng vánh ngoài dự kiến khi họ phát hiện ra quân Argentina đã bỏ lại trận địa và rút đi từ trước.[152]

Lệnh ngừng bắn chính thức được ban bố vào ngày 14 tháng 6, và Thủ tướng Anh Margaret Thatcher nhanh chóng tuyên bố bắt đầu các cuộc đàm phán đầu hàng. Ngay trong ngày hôm đó, Chuẩn tướng Mario Menéndez, chỉ huy lực lượng đồn trú Argentina tại Stanley, đã chính thức ký biên bản đầu hàng trước Thiếu tướng Jeremy Moore của quân đội Anh.[153]

Thương vong

Tập tin:Argentinegraveseastfalkland.jpg
Nghĩa trang Quân sự Argentina trên đảo Đông Falkland
Tập tin:San-Carlos-Cemetery.JPG
Nghĩa trang Quân sự Anh tại San Carlos trên đảo Đông Falkland

Tổng cộng có 907 người thiệt mạng trong suốt 74 ngày diễn ra xung đột. Ngoài ra, còn có 1.188 quân nhân Argentina và 777 quân nhân Anh bị thương.

Phía Argentina

Có tổng cộng 649 quân nhân Argentina tử trận:[154]

Phía Anh Quốc

Có tổng cộng 255 quân nhân Anh tử trận:[158]

  • Hải quân – 86 người + 2 thợ giặt người Hồng Kông (xem bên dưới)[159]
  • Thủy quân lục chiến – 27 người (gồm 2 sĩ quan, 14 hạ sĩ quan và 11 binh sĩ)[160]
  • Hạm đội Hỗ trợ Hoàng gia (RFA) – 4 người + 6 thủy thủ người Hồng Kông[161][162]
  • Hải quân Thương thuyền – 6 người[161]
  • Lục quân – 123 người (gồm 7 sĩ quan, 40 hạ sĩ quan và 76 binh lính)[163][164][165]
  • Không quân – 1 người (1 sĩ quan)[161]

Trong số 86 quân nhân thuộc Hải quân Hoàng gia, có 22 người tử nạn trên tàu HMS Ardent, 19 + 1 người trên tàu HMS Sheffield, 19 + 1 người trên tàu HMS Coventry và 13 người trên tàu HMS Glamorgan. Đặc biệt, có tới 14 đầu bếp hải quân nằm trong số những người thiệt mạng.

Trong số binh sĩ Lục quân Anh tử nạn, có 33 người thuộc Trung đoàn Cận vệ Xứ Wales (32 người trong số đó đã hy sinh trên tàu RFA Sir Galahad trong cuộc oanh tạc Vịnh Bluff), 21 người thuộc Tiểu đoàn 3 Trung đoàn Dù, 18 người thuộc Tiểu đoàn 2 Trung đoàn Dù, 19 người thuộc Lực lượng Đặc nhiệm Không quân (SAS), mỗi đơn vị Quân đoàn Thông tin và Quân y Lục quân mất 3 người, và mỗi đơn vị Cận vệ Scotland và Công binh Hoàng gia mất 8 người. Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn Súng trường Gurkha số 7 có 1 binh sĩ tử trận.

Thường dân và động vật

Hai thường dân là Doreen Bonner và Susan Whitley đã vô tình thiệt mạng do trúng pháo kích của quân Anh vào đêm ngày 12 tháng 6. Một thường dân thứ ba là Mary Goodwin cũng bị thương nặng và qua đời sau đó vào ngày 14 tháng 6.[161][166][167][168] Ngoài ra, có báo cáo cho biết tàu HMS Brilliant trong khi đang tuần tra chống ngầm đã nhầm lẫn và vô tình phóng ngư lôi trúng ba con cá voi.[169]

Hậu quả

Tập tin:Malvimasmemorial.jpg
Đài tưởng niệm những người ngã xuống trong Chiến tranh Malvinas (Falkland) tại Quảng trường San Martín, Buenos Aires. Trong ảnh là một binh sĩ thuộc Trung đoàn Patricios giàu truyền thống lịch sử đang đứng gác.

Cuộc chiến ngắn ngủi này đã để lại nhiều hệ lụy sâu sắc cho tất cả các bên tham chiến. Ngoài con số thương vong đáng kể, cả hai bên đều chịu tổn thất nặng nề về mặt khí tài — đặc biệt là tàu chiến và máy bay — một tỉ lệ tổn thất rất lớn nếu so với quy mô lực lượng quân sự thực tế được huy động cho chiến dịch.

Tại Anh Quốc, uy tín của Thủ tướng Margaret Thatcher đã tăng vọt. Chiến thắng tại quần đảo Falkland được xem là bước ngoặt quyết định giúp xoay chuyển tình thế cho chính phủ thuộc Đảng Bảo thủ, vốn trước đó nhiều tháng liên tục bị liên minh Dân chủ Xã hội - Tự do (SDP-Liberal Alliance) bỏ xa trong các cuộc thăm dò dư luận. Nhờ hào quang chiến thắng này, Đảng Bảo thủ không những giành lại vị trí dẫn đầu trong các cuộc khảo sát với cách biệt lớn, mà còn giành thắng lợi áp đảo trong cuộc tổng tuyển cử vào năm sau đó.[170] Đồng thời, kế hoạch cắt giảm ngân sách dành cho Hải quân Hoàng gia do Bộ trưởng Quốc phòng Nott đề xuất trước đó cũng bị bãi bỏ.

Đối với người dân trên đảo, họ được khôi phục quyền công dân Anh đầy đủ vào năm 1983. Chất lượng cuộc sống tại đây ngày một nâng cao nhờ các khoản đầu tư từ phía Anh sau chiến tranh, cùng với các chính sách tự do hóa kinh tế — những bước đi vốn từng bị đóng băng trước đó vì chính phủ Anh lo ngại sẽ làm phật lòng Argentina. Đến năm 1985, một hiến pháp mới được ban hành nhằm thúc đẩy quyền tự trị, từng bước trao thêm nhiều quyền lực quản lý vào tay người dân bản địa. Minh chứng rõ nét nhất cho điều này là kết quả cuộc trưng cầu dân ý về chủ quyền năm 2013, khi có tới 99,8% cử tri bỏ phiếu lựa chọn Falkland tiếp tục là một lãnh thổ thuộc Anh, với tỷ lệ đi bầu đạt mức ấn tượng là 92%.[171]

Đối với Argentina, thất bại trong cuộc chiến Falkland lại vô tình giúp họ tránh được một cuộc chiến tranh tiềm tàng với Chile. Hơn thế nữa, quốc gia này đã nhanh chóng quay trở lại thể chế dân chủ thông qua cuộc tổng tuyển cử năm 1983 — cuộc bầu cử tự do đầu tiên được tổ chức tại đây kể từ năm 1973. Thất bại này cũng tạo ra một cú sốc xã hội mạnh mẽ, đập tan hình tượng quân đội vốn luôn tự xưng là "thành trì đạo đức của quốc gia" mà giới quân sự nước này đã dày công duy trì suốt phần lớn thế kỷ 20.

Về phía Anh, một nghiên cứu chi tiết do Bộ Quốc phòng nước này ủy quyền thực hiện trên 21.432 cựu chiến binh cho thấy, trong giai đoạn từ năm 1982 đến 2012, có 95 người qua đời do "cố ý tự hại hoặc các nguyên nhân chưa được làm rõ" (bao gồm tự sát và các ca tử vong chưa có kết luận điều tra cuối cùng).[172][173] Con số này thực chất vẫn thấp hơn tỷ lệ trung bình của toàn dân trong cùng khoảng thời gian đó. Dẫu vậy, một nghiên cứu khác thực hiện trên các cựu binh trực tiếp tham chiến vào thời điểm 5 năm sau cuộc xung đột lại chỉ ra một thực tế đáng lo ngại: một nửa số người trong nhóm khảo sát có biểu hiện của các triệu chứng rối loạn căng thẳng sau sang chấn (PTSD), và có đến 22% bị chẩn đoán là mắc hội chứng này ở thể đầy đủ.[174]

Chú thích

  1. ^ Gồm 6 chiếc Pucará, 4 chiếc T-34 Mentor và 1 chiếc Short Skyvan
  2. ^ Một quả bom rơi tự do thông thường khi thả ở độ cao thấp sẽ rơi gần như ngay phía dưới máy bay, khiến phi cơ lọt vào vùng sát thương của các mảnh văng khi bom nổ. Bom hãm đà được trang bị một chiếc dù nhỏ hoặc cánh cản gió để giảm tốc độ rơi, tạo khoảng cách an toàn theo phương ngang giữa quả bom và máy bay. Ngòi nổ của loại bom này đòi hỏi thiết bị hãm đà phải mở ra trong một khoảng thời gian tối thiểu để đảm bảo cự ly an toàn.
  3. ^ Từ ngày 21 đến 27 tháng 5: 9 chiếc Dagger, 5 chiếc A-4C, 3 chiếc A-4Q, 3 chiếc A-4B và 2 chiếc Pucará
  4. ^ Vị trí: "Hành lang Bom" Vịnh San Carlos, Quần đảo Falkland
  5. ^ Vị trí: Núi Kent, Quần đảo Falkland

Tham khảo

  1. ^ "Argentine to reaffirm Sovereignty Rights over The Falkland Islands". National Turk. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2012.
  2. ^ "Cómo evitar que Londres convierta a las Malvinas en un Estado independiente". Clarin.com. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2010.
  3. ^ "JOINT STATEMENT OF 19 OCTOBER 1989 Re-establishing Consular Relations Between Britain and Argentina, and Agreeing a Framework on Sovereignty Which Would Allow Further Talks". Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2013.
  4. ^ Constitución Nacional: "La Nación Argentina ratifica su legítima e imprescriptible soberanía sobre las Islas Malvinas, Georgias del Sur y Sandwich del Sur y los espacios marítimos e insulares correspondientes, por ser parte integrante del territorio nacional".
  5. ^ "Argentina – the horrors of a dictatorial past live on – Radio Netherlands Worldwide – English". Radionetherlands.nl. ngày 30 tháng 3 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2010.
  6. ^ Kirschbaum, Roger; Van Der Kooy, Eduardo (1983). Malvinas, La Trama Secreta (bằng tiếng Tây Ban Nha). Buenos Aires: Sudamericana/Planeta. ISBN 978-950-37-0006-8. {{Chú thích sách}}: |first1= thiếu |last1= (trợ giúp) [cần số trang]
  7. ^ "Lỗi Lua trong Mô_đun:Unicode_data tại dòng 487: attempt to index field 'scripts' (a boolean value)." ("This was neither about national pride nor anything else. The junta —Galtieri told me— never believed the British would respond. He thought the Western World was corrupt. That the British people had no God, that the US was corrupt ... I could never convince him that the British would not only fight back but also win [the war].") La Nación / Islas Malvinas Online. "Haig: "Malvinas fue mi Waterloo"". Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2010. (bằng tiếng Tây Ban Nha)
  8. ^ "Ministerio de Educación, Ciencia y Tecnología de la Nación" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2010.
  9. ^ Jimmy Burns: The land that lost its heroes, 1987, Bloomsbury Publishing, ISBN 0-7475-0002-9.
  10. ^ "En Buenos Aires, la Junta comenzó a estudiar la posibilidad de ocupar las Islas Malvinas y Georgias antes de que los británicos pudieran reforzarlas". Portierramaryaire.com. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2010.
  11. ^ Briley, Harold (ngày 9 tháng 4 năm 1997). "Obituary: Captain Nicholas Barker". The Independent. UK. tr. 16. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2011.
  12. ^ Barnett, Correlli (1997). "The high cost of cuts". The Spectator. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2010.
  13. ^ a ă Freedman, Lawrence; Gamba-Stonehouse, Virginia (1991). Signals of War: The Falklands Conflict of 1982. Princeton University Press. ISBN 978-1-4008-6158-3.
  14. ^ a ă â Freedman 2005a, tr. 202–203
  15. ^ a ă â b "A Chronology of events during the Falklands Conflict of 1982". Falkland Islands Information. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2011.
  16. ^ a ă â Margolis, Laurie (ngày 2 tháng 4 năm 2007). "UK | How BBC man scooped invasion news". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2010.
  17. ^ Duncan, Andrew, The Falklands War, Marshall Cavendish Books Limited, ISBN 1-84415-429-7Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Check isxn”.
  18. ^ a ă Freedman 2005b, tr. 21–22: "day-to-day oversight was to be provided by ... which came to be known as the War Cabinet. This became the critical instrument of crisis management"
  19. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên Freedman, Gamba-Stonehouse 19912
  20. ^ Eddy và đồng nghiệp 1982, tr. 123–124
  21. ^ Parsons, Anthony (1983). "The Falklands Crisis in the United Nations, 31 March-14 June 1982". International Affairs. 59 (2). Oxford University Press on behalf of the Royal Institute of International Affairs: 169–178. doi:10.2307/2619933. ISSN 0020-5850. JSTOR 2619933.
  22. ^ Gold 2005, tr. 39
  23. ^ Gold 2005, tr. 37
  24. ^ "Voting System". UNITED NATIONS SECURITY COUNCIL. United Nations. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2020.
  25. ^ "Chapter VII: Action with Respect to Threats to the Peace, Breaches of the Peace and Acts of Aggression". Charter of the United Nations. United Nations. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2020.
  26. ^ Middlebrook 2012, tr. 42
  27. ^ Middlebrook 2012, tr. 86–88
  28. ^ a ă â b c Bound 2006, tr. 81–88
  29. ^ "'We've been invaded'". Dorset Echo (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2022.
  30. ^ Bound 2006, tr. 198
  31. ^ For most of May the population of Goose Green was confined to a meeting hall in unpleasant conditions. The Official History of the Falklands Campaign: War and Diplomacy, Lawrence Freedman, p. 87, Routledge, 2004
  32. ^ Argentine Fight for the Falklands, Martin Middlebrook, pp. 221–222, Pen & Sword, 2003
  33. ^ Asimismo, se denuncia que el soldado Remigio Fernández falleció de hambre en Puerto Howard debido a que los oficiales no le entregaban los alimentos. El Día, 2007
  34. ^ "Ex-Argentinian troops file Falklands lawsuit". The Guardian. ngày 13 tháng 4 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 3 năm 2023.
  35. ^ "Grave denuncia de ex combatientes de Malvinas". El Dia (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 14 tháng 4 năm 2007. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2024.
  36. ^ Goñi, Uki (ngày 2 tháng 4 năm 2022). "Argentinian Falklands veterans mark 'day of sadness' over torture they endured". The Guardian. Buenos Aires. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2022.
  37. ^ Eddy và đồng nghiệp 1982, tr. 129–132
  38. ^ a ă Eddy và đồng nghiệp 1982, tr. 132–137
  39. ^ "The Falklands War | Remembrance | Royal British Legion". The Royal British Legion (bằng tiếng Anh). ngày 8 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2023.
  40. ^ Woodward & Robinson 1997, tr. 72 Cited in To Rule The Waves: How the British Navy Shaped the Modern World Herman, A. (2004) HarperCollins, New York, p. 560.
  41. ^ Freedman 2005b, pp. 431–444 "During the course of May confidence that the naval threat was under control grew. Optimism on the air threat was much scarcer, especially among those who might be on the receiving end."
  42. ^ Hendrix, Kris (ngày 18 tháng 5 năm 2022). "Harriers over Falklands". RAF Museum (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2023.
  43. ^ "Air Power Review Vol 21 No 2: In at the deep end: RAF Harrier Operations during Operation Corporate 1982".
  44. ^ a ă â Corum, James S. (2002). "Argentine Airpower in the Falklands War: An Operational View". Air and Space Power Journal. 16 (3): 59–77. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2014.
  45. ^ Hastings & Jenkins 1984, tr. 115–116
  46. ^ "FAA map". Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2007.
  47. ^ Brown 1987, tr. 110
  48. ^ Middlebrook 2012, tr. 103–104
  49. ^ Middlebrook 2012, tr. 105–108
  50. ^ a ă "Submarine Operations during the Falklands War – U.S. Naval War College". Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2010.
  51. ^ Middlebrook 2012, tr. 109–111
  52. ^ Middlebrook 2012, tr. 112–113
  53. ^ "1982: Marines land in South Georgia". BBC. ngày 25 tháng 4 năm 1982. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 3 năm 2006. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2005.
  54. ^ Ward 2000, tr. 186: "... to get twenty-one bombs to Port Stanley is going to take about one million, one hundred thousand pounds of fuel – equalled about 137.000 gallons. That was enough fuel to fly 260 Sea Harrier bombing missions over Port Stanley. Which in turn meant just over 1300 bombs. Interesting stuff!"
  55. ^ Freedman 2005b, tr. 285
  56. ^ Freedman 2005b, tr. 285–286
  57. ^ Chun 2001, tr. 230
  58. ^ "La familia Mirage". Aeroespacio (bằng tiếng Tây Ban Nha). ISSN 0001-9127. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2011. "Los M III debían defender el territorio continental argentino de posibles ataques de los bombarderos Vulcan de la RAF, brindar escolta a los cazabombarderos de la FAA, e impedir los ataques de aviones de la Royal Navy y de la RAF sobre las Malvinas."
    ("The M III would defend the Argentine mainland against possible attacks by Vulcan bombers from the RAF, providing escort of fighter bombers to the FAA, and to prevent attacks by aircraft of the Royal Navy and RAF on the Falklands.")
  59. ^ Ward 2000, tr. 247–48: "Propaganda was, of course, used later to try to justify these missions: 'The Mirage IIIs were withdrawn from Southern Argentina to Buenos Aires to add to the defences there following the Vulcan raids on the islands.' Apparently the logic behind this statement was that if the Vulcan could hit Port Stanley, the [sic] Buenos Aires was well within range as well and was vulnerable to similar attacks. I never went along with that baloney. A lone Vulcan or two running in to attack Buenos Aires without fighter support would have been shot to hell in quick time."-"Mirage IIIs were in evidence near the islands on several occasions during the conflict, either escorting the Neptune reconnaissance missions or on 'interference' flights that attempted to draw CAP attention away from air-to-ground attacks."-"Suffice it to say that you didn't need more than one or two Mirage IIIs to intercept a Vulcan attack on Buenos Aires"-"It would have taken much more than a lone Vulcan raid to upset Buenos Aires"
  60. ^ Burden và đồng nghiệp 1986, tr. 363, 365, 367
  61. ^ Chun 2001, tr. 237–238
  62. ^ "Argentine Air Force remembers its 'baptism of fire' twenty years on". En.mercopress.com. ngày 1 tháng 5 năm 2002. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2010.
  63. ^ Middlebrook 2012, tr. 136
  64. ^ Rodríguez Mottino, Horacio (1984). La artillería argentina en Malvinas (bằng tiếng Tây Ban Nha). Editorial Clio. tr. 170. ISBN 978-9509377028.
  65. ^ "Rodolfo Manuel de la Colina". Fuerza Aérea Argentina (bằng tiếng Tây Ban Nha). Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2015.
  66. ^ "Noticias Municipales | Puerto Madryn". Madryn.gov.ar. ngày 2 tháng 4 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2013.
  67. ^ Magazine, Smithsonian; Posey, Carl A. "Air War in the Falklands". Smithsonian Magazine (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2024.
  68. ^ "ARGENTINE AIR SUPERIORITY OPERATIONS DURING THE FALKLANDS WAR" (PDF). espace.rmc.ca.
  69. ^ "The Falklands War in Retrospect". Defense Media Network (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2024.
  70. ^ "Argentine airpower in the Falklands War: an operational view. (Features). - Free Online Library". www.thefreelibrary.com. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2024.
  71. ^ Burden và đồng nghiệp 1986, tr. 17–18
  72. ^ Cullen & Foss 1992, tr. 273
  73. ^ Burden và đồng nghiệp 1986, tr. 79–82
  74. ^ "Fuerza Aérea Argentina". Fuerzaaerea.mil.ar. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2010.
  75. ^ "ASN Aircraft accident description Lockheed C-130H Hercules TC-63 – Pebble Island". Aviation-safety.net. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2010.
  76. ^ Evans, Michael (ngày 27 tháng 11 năm 2007). "Underwater and undercover: how nuclear subs were first line of Falklands defence". The Times. London. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2009.
  77. ^ White 2020, pp. 109–111
  78. ^ White 2020, pp. 199–200
  79. ^ White 2020, pp. 203–205
  80. ^ White 2020, pp. 248–250
  81. ^ White 2020, pp. 217–218
  82. ^ White 2020, pp. 110–111
  83. ^ Middlebrook 2012, tr. 125–126
  84. ^ Woodward 2012, pp. 144–145
  85. ^ Finlan 2004, tr. 82–84
  86. ^ Eddy và đồng nghiệp 1982, tr. 158–159
  87. ^ Middlebrook 2012, tr. 150
  88. ^ Finlan 2004, tr. 85
  89. ^ Beaumont, Peter (ngày 25 tháng 5 năm 2003). "Belgrano crew 'trigger happy'". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2018.
  90. ^ Burden và đồng nghiệp 1986, tr. 179
  91. ^ Burden và đồng nghiệp 1986, tr. 91–92
  92. ^ "HMS Sheffield lost after missile hit". BBC News (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2021.
  93. ^ Middlebrook 2012, tr. 166
  94. ^ Woodward & Robinson 1997, tr. 8
  95. ^ Middlebrook 2012, tr. 165
  96. ^ Eddy và đồng nghiệp 1982, tr. 174
  97. ^ Moore, Charles (2013). Margaret Thatcher: The Authorized Biography, from Grantham to the Falklands, Volume 1. Margaret Thatcher / Charles Moore (ấn bản thứ 1). New York: Alfred A. Knopf. tr. 726–728. ISBN 978-0-307-95894-5.
  98. ^ Eddy và đồng nghiệp 1982, tr. 175
  99. ^ "The SAS vs the Exocet". eliteukforces.info. ngày 27 tháng 10 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2010.
  100. ^ Evans, Michael; Hamilton, Alan (ngày 27 tháng 6 năm 2005). "Thatcher in the dark on sinking of Belgrano". The Times. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2011.
  101. ^ "British Special Air Service SAS – The Falklands – Operation Corporate". Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2014.
  102. ^ Middlebrook 2012, tr. 190–191
  103. ^ Brown 1987, tr. 166
  104. ^ Brown 1987, tr. 179
  105. ^ Middlebrook 2012, tr. 225
  106. ^ Middlebrook 2012, tr. 233–234
  107. ^ Middlebrook 2012, tr. 244–248
  108. ^ Rumley, Leesa (ngày 1 tháng 6 năm 2007). "Captain Hart Dyke, Commanding Officer of HMS Coventry". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2010.
  109. ^ "British Ships Sunk and Damaged – Falklands War 1982". Naval-history.net. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2010.
  110. ^ Chamberlain, Gethin (ngày 5 tháng 4 năm 2002). "Would British forces be able to retake the Falklands today?". The Scotsman. UK. tr. 12. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2007. Alt URL Lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2023 tại Wayback Machine
  111. ^ a ă Woodward & Robinson 1997[cần số trang]
  112. ^ "The Falklands Conflict 1982". Royal Navy. ngày 2 tháng 4 năm 1982. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2010.
  113. ^ Middlebrook 2012, tr. 257
  114. ^ a ă â b Freedman, Lawrence (2005). The official history of the Falklands Campaign. 2: War and diplomacy. London: Routledge. tr. 545. ISBN 978-0-7146-5207-8.
  115. ^ Pook 2008, tr. 132
  116. ^ a ă Morgan 2007, tr. 240
  117. ^ Southby-Tailyour, Ewen (ngày 2 tháng 4 năm 2014). Exocet Falklands: The Untold Story of Special Forces Operations. Pen and Sword. tr. 238–. ISBN 978-1-4738-3513-9.
  118. ^ "La ejecución - Fuerza Aérea Argentina" (bằng tiếng Tây Ban Nha). www.fuerzaaerea.mil.ar. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2009.
  119. ^ "Argentine Aircraft in the Falklands". Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2009.
  120. ^ Yates, David (2006). Bomb Alley – Falkland Islands 1982. Pen and Sword. ISBN 978-1-84415-417-3.[cần số trang]
  121. ^ "Americas | Charles ends Falklands tour on sombre note". BBC News. ngày 15 tháng 3 năm 1999. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2010.
  122. ^ Middlebrook 2012, tr. 209–212
  123. ^ Middlebrook 2012, tr. 213
  124. ^ Middlebrook 2012, tr. 216–217
  125. ^ Middlebrook, Martin (2001). The Falklands War. Viking. ISBN 9780141003603.
  126. ^ Freedman, Lawrence (2005). The Official History of the Falklands Campaign, Volume I: The Origins of the Falklands War. Routledge. ISBN 9780415701761.
  127. ^ Hastings, Max; Jenkin, Simon (1983). The Battle for the Falklands . London: Pan Books. ISBN 0-330-28138-0 (not recognised by Wikipedia's ISBN tool)
  128. ^ Freedman, Lawrence (2005). The Official History of the Falklands Campaign, Volume II: War and Diplomacy. Routledge. ISBN 9780415701778.
  129. ^ [Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Gazette util”. "No. 49134"]. The London Gazette (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Gazette util”.). ngày 8 tháng 10 năm 1982. tr. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Gazette util”.. {{Chú thích tạp chí}}: Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |pages=|page= (trợ giúp)Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Gazette util”.
  130. ^ Middlebrook 2012, tr. 279–281
  131. ^ "The Argentine Commandos on Mount Kent". Britains-smallwars.com. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2010.
  132. ^ "Argentine Puma Shot Down By American "Stinger" Missile". En.mercopress.com. ngày 12 tháng 4 năm 2002. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2010.
  133. ^ Thompson, Julian (1986). No picnic: 3 Commando Brigade in the South Atlantic, 1982. Fontana paperbacks . Glasgow: Fontana/Collins. tr. 93. ISBN 978-0-00-637013-0.
  134. ^ Jolly, Rick (1983). The red and green life machine: a diary of the Falklands Field Hospital. London: Century Pub. tr. 124. ISBN 978-0-7126-0158-0.
  135. ^ Middlebrook 2012, tr. 297–298
  136. ^ Middlebrook 2012, tr. 298–299
  137. ^ Middlebrook 2012, tr. 301
  138. ^ Freedman 2005b, tr. 509
  139. ^ Middlebrook 2012, tr. 303
  140. ^ Tailyour, Ewen Southby (2003). Reasons in writing: a commando's view of the Falkland War. Barnsley: Cooper. tr. 297. ISBN 978-1-84415-014-4. "It was clear that I was achieving nothing and so, in desperation, I gave a direct order for the infantry to get ashore with or without their kit in order that we could get on with unloading Sir Tristram. The officers ignored my order. In doing so they explained to me quite clearly that no orders would be accepted from an officer of equivalent rank."
  141. ^ a ă "Falklands War: Welsh Guards cleared of blame over Sir Galahad bombing". BBC News (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2024.
  142. ^ Middlebrook 2012, tr. 304
  143. ^ Freedman 2005b, tr. 518
  144. ^ "1982:Fifty die in Argentine air attack". BBC News. ngày 8 tháng 6 năm 1982. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2011.
  145. ^ Bolia, Robert S. "The Falklands War:The Bluff Cove Disaster" (PDF). Military Review (November–December 2004): 71. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2012.
  146. ^ Freedman 2005b, tr. 519
  147. ^ Eddy và đồng nghiệp 1982, tr. 244–250
  148. ^ "An interview with CL (R) Ing. Julio Pérez, chief designer of Exocet trailer-based launcher" (bằng tiếng Tây Ban Nha). Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 3 năm 2008.
  149. ^ Bản mẫu:Cite ODNB
  150. ^ Freedman 2005b, tr. 539
  151. ^ Middlebrook 2012, tr. 372–373
  152. ^ Middlebrook 2012, tr. 374–375
  153. ^ "The British Army and the Falklands War". National Army Museum (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2021.
  154. ^ "Ley 24.950: Decláranse "Héroes nacionales" a los combatientes argentinos fallecidos during la guerra de Malvinas". InfoLEG (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 18 tháng 3 năm 1998. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015.
  155. ^ "list". Ejercito.mil.ar. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2010.
  156. ^ list Lưu trữ ngày 4 tháng 2 năm 2010 tại Wayback Machine
  157. ^ "list". Fuerzaaerea.mil.ar. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2010.
  158. ^ "Databases – Falklands War 1982". Roll of Honour. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2013.
  159. ^ "list". Raf.mod.uk. ngày 1 tháng 10 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2010.
  160. ^ "list". Raf.mod.uk. ngày 1 tháng 10 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2010.
  161. ^ a ă â b "Falkland Islands – A history of the 1982 conflict". Raf.mod.uk. ngày 1 tháng 10 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2010.
  162. ^ Force 4: The Newsletter of the Royal Fleet Auxiliary, April 1983
  163. ^ "Para". Raf.mod.uk. ngày 1 tháng 10 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2010.
  164. ^ "SAS". Raf.mod.uk. ngày 1 tháng 10 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2010.
  165. ^ "rest of army". Raf.mod.uk. ngày 1 tháng 10 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2010.
  166. ^ "Civilian victims of the conflict in the Falklands" (PDF). Penguins News. tr. 4.
  167. ^ Middlebrook 2012, tr. 410
  168. ^ "Argentina blames Britain for civilian casualties". UPI (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2022.
  169. ^ "British Navy mistook whales for submarines and torpedoed them, killing three, during Falklands War". news.com.au. News Corp Australia Network. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2023.
  170. ^ "1983: Thatcher triumphs again". BBC News. ngày 5 tháng 4 năm 2005. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2010.
  171. ^ Willett, Peter (tháng 6 năm 2013). A Report on the Referendum on the Political Status of the Falkland Islands (Báo cáo).
  172. ^ A study of deaths among UK Armed Forces personnel deployed to the 1982 Falklands Campaign: 1982 to 2012 (PDF) (Báo cáo). Defence Statistics, Ministry of Defence. ngày 14 tháng 5 năm 2013. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 25 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2021.
  173. ^ Norton-Taylor, Richard (ngày 14 tháng 5 năm 2013). "Falklands war: new study debunks claims of high suicide rates". The Guardian. London. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2013.
  174. ^ O'Brien, L. S.; Hughes, S. J. (tháng 7 năm 1991). "Symptoms of Post-traumatic Stress Disorder in Falklands Veterans Five Years After the Conflict". The British Journal of Psychiatry. 159 (1): 135–141. doi:10.1192/bjp.159.1.135. PMID 1888961. S2CID 30060754. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2022.

Tài liệu

Bài luận

Liên kết ngoài

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Military navigation”.