HMS Seraph (P219)
HMS Seraph (P219)[Ghi chú 1] là một tàu ngầm lớp S (1931) thuộc Nhóm III, được Hải quân Hoàng gia Anh chế tạo trong Chương trình Chế tạo 1940 trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1942, con tàu đã thực hiện được tổng cộng mười bảy chuyến tuần tra tại các vùng biển Na Uy, Đại Tây Dương và Địa Trung Hải, tham gia nhiều nhiệm vụ đặc biệt mà nổi bật nhất là Chiến dịch Mincemeat. Seraph được rút về làm nhiệm vụ huấn luyện và thử nghiệm từ năm 1944, và tiếp tục đảm nhiệm vai trò này ngay cả sau khi cuộc xung đột kết thúc. Chiếc tàu ngầm cuối cùng xuất biên chế vào năm 1962, và bị bán để tháo dỡ vào năm 1965.
| Tập tin:Seraph.jpg Tàu ngầm HMS Seraph
| |
| Lịch sử | |
|---|---|
| Tên gọi | HMS Seraph (P219) |
| Đặt tên theo | Seraphim |
| Đặt hàng | 23 tháng 6, 1940 |
| Xưởng đóng tàu | Vickers Armstrong, Barrow-in-Furness |
| Đặt lườn | 16 tháng 8, 1940 |
| Hạ thủy | 25 tháng 10, 1941 |
| Nhập biên chế | 27 tháng 6, 1942 |
| Xuất biên chế | 25 tháng 10, 1962 |
| Số phận | Bán để tháo dỡ, 20 tháng 12, 1965 |
| Đặc điểm khái quát | |
| Lớp tàu | lớp S nhóm III |
| Kiểu tàu | tàu ngầm Diesel-điện |
| Trọng tải choán nước | |
| Chiều dài | 217 ft (66,1 m) |
| Sườn ngang | 23 ft 9 in (7,2 m) |
| Mớn nước | 14 ft 8 in (4,47 m) |
| Động cơ đẩy |
|
| Tốc độ |
|
| Tầm xa |
|
| Độ sâu thử nghiệm | 300 ft (91 m) |
| Thủy thủ đoàn tối đa | 48 |
| Hệ thống cảm biến và xử lý | |
| Vũ khí |
|
Thiết kế và chế tạo
Thiết kế
Lớp tàu ngầm S Nhóm III được đặt hàng trong Chương trình Chế tạo 1940 như là một kiểu tàu ngầm nhỏ để tuần tra tại vùng biển bị giới hạn như Bắc Hải, Baltic và Địa Trung Hải. Chúng có kích thước lớn hơn và có nhiều cải tiến so với các nhóm trước. Chúng có trọng lượng choán nước 856 tấn (842 tấn Anh) khi nổi và 1.006 tấn (990 tấn Anh) khi lặn, lườn tàu có chiều dài chung 217 ft (66 m), mạn tàu rộng 23 ft 9 in (7,24 m) và mớn nước sâu 14 ft 8 in (4,47 m).[1] Con tàu có thể lặn sâu đến 300 ft (91 m), và có một thủy thủ đoàn đầy đủ bao gồm 48 sĩ quan và thủy thủ.[2]
Lớp S trang bị hai động cơ diesel công suất 950 mã lực phanh (708 kW), mỗi chiếc vận hành một trục chân vịt. Khi lặn, mỗi trục được vận hành bởi một động cơ điện công suất 650 mã lực (485 kW). Khi di chuyển trên mặt nước nó đạt tốc độ tối đa 15 hải lý trên giờ (28 km/h; 17 mph) và 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph) khi lặn dưới nước.[3] Tầm xa hoạt động của Nhóm III là 6.000 hải lý (11.000 km; 6.900 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph), và có thể lặn xa 120 nmi (220 km; 140 mi) ở tốc độ 3 hải lý trên giờ (5,6 km/h; 3,5 mph).[2]
Seraph nằm trong số các tàu có bảy ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm), gồm sáu ống phía mũi và một phía đuôi bên ngoài, và mang theo tổng cộng 13 quả ngư lôi, hoặc 12 quả thủy lôi thay cho các quả ngư lôi bên trong tàu. Vũ khí trên boong tàu là một khẩu hải pháo 3 inch (76 mm) cùng một pháo phòng không Oerlikon 20 mm.[4] Ngoài ra Nhóm III còn được trang bị sonar ASDIC Type 129AR hoặc 138 và một bộ radar cảnh báo sớm Type 291 hoặc 291W.[5]
Chế tạo
Seraph được đặt hàng vào ngày 4 tháng 4, 1940 trong khuôn khổ Chương trình Chế tạo 1940, và được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Vickers Armstrong ở Barrow-in-Furness vào ngày 13 tháng 11, 1940. Nó được hạ thủy vào ngày 8 tháng 12, 1941, và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia vào ngày 10 tháng 7, 1942.[6] Nó là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Hoàng gia Anh được đặt cái tên này.
Lịch sử hoạt động
1942
Chuyến tuần tra thứ nhất
Sau khi thực hành huấn luyện tại các vùng biển Scotland, Seraph xuất phát từ cảng Lerwich vào ngày 15 tháng 7, 1942 cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh. Nó đã hoạt động trong biển Na Uy, thoạt tiên dự định sẽ hỗ trợ cho Đoàn tàu PQ-18. Tuy nhiên do đoàn tàu vận tải bị chậm trễ, nó tuần tra ngoài khơi bờ biển Na Uy trước khi kết thúc chuyến tuần tra và quay trở về Lerwich vào ngày 29 tháng 7.[6]
Chuyến tuần tra thứ hai
Sau đó Seraph được điều động sang khu vực Địa Trung Hải, nên đã khởi hành từ Rothesay vào ngày 12 tháng 8, băng qua biển Ireland để hướng sang Gibraltar. Trên đường đi trong vịnh Biscay vào ngày 19 tháng 8, chiếc tàu ngầm truy tìm một tàu chở dầu Đức bị máy bay Anh phát hiện, nhưng không có kết quả, rồi trong ngày hôm đó lại bị một máy bay ném bom Lockheed Hudson ném bom nhầm, nhưng không bị hư hại. Nó kết thúc chuyến tuần tra tại Gibraltar vào ngày 25 tháng 8.[6]
Chuyến tuần tra thứ ba và thứ tư
Seraph xuất phát từ Gibraltar vào ngày 7 tháng 9 cho chuyến tuần tra thứ ba, và đã hoạt động trong biển Alboran trước khi quay trở về Gibraltar vào ngày 15 tháng 9.[6]
Seraph lại khởi hành từ Gibraltar vào ngày 29 tháng 9 cho chuyến tuần tra thứ tư để làm nhiệm vụ đặc biệt trong khuôn khổ Chiến dịch Koodoo. Vào ngày 1 tháng 10, một đội trinh sát đã được cho đổ bộ lên một vị trí về phía Tây Algiers để trinh sát bãi đổ bộ dự kiến. Nó hoàn thành nhiệm vụ và quay trở về Gibraltar vào ngày 8 tháng 10.[6]
Chuyến tuần tra thứ năm
Rời Gibraltar vào ngày 19 tháng 10, Seraph thực hiện chuyến tuần tra thứ năm để làm một nhiệm vụ đặc biệt trong khuôn khổ Chiến dịch Flagpole. Đây là kế hoạch đưa Thiếu tướng Mark W. Clark, cấp phó của Trung tướng Dwight Eisenhower bí mật đi sang Bắc Phi để đàm phán với các sĩ quan thuộc phe Vichy Pháp; cùng tháp tùng với tướng Clark còn có ba sĩ quan Lục quân, một sĩ quan Hải quân cùng ba thành viên lực lượng đặc nhiệm Anh. Các hành khách đặc biệt này được Seraph cho đổ bộ lên bờ tại Cherchell, Algérie trong đêm 20 tháng 10. Cuộc đàm phán diễn ra sau đó có vai trò quan trọng, giúp giảm thiểu sự kháng cự của lực lượng Pháp đối với cuộc đổ bộ lên Bắc Phi sắp diễn ra. Seraph hoàn thành nhiệm vụ khi đón các hành khách trở lại tàu vào ngày 23 tháng 10, rồi chuyển họ sang một thủy phi cơ PBY Catalina vào ngày hôm sau để bay về Gibraltar. Bản thân Seraph cũng về đến Gibraltar vào ngày 25 tháng 10.[6]
Chuyến tuần tra thứ sáu
Seraph lại làm thêm một nhiệm vụ đặc biệt nữa trong chuyến tuần tra thứ sáu, khi nó rời cảng Gibraltar vào ngày 27 tháng 10 để tiến hành Chiến dịch Kingpin. Nó đã đi đến ngoài khơi bờ biển phía Nam của Pháp và chờ đợi cho đến khi nhận được ám hiệu liên lạc vào ngày 6 tháng 11 tại Lavendou khoảng 20 mi (32 km) về phía Đông Toulon. Nó đón lên tàu tướng Pháp Henri Giraud, con trai ông cùng ba sĩ quan tham mưu, cho một cuộc hội đàm với tướng Eisenhower tại Gibraltar, nhằm tìm kiếm sự hỗ trợ của lực lượng Vichy Pháp đang trú đóng tại Oran và Casablanca cho cuộc đổ bộ sắp diễn ra. Các hành khách được chuyển sang một thủy phi cơ PBY Catalina vào ngày hôm sau để bay về Gibraltar. Seraph kết thúc chuyến tuần tra tại Gibraltar vào ngày 10 tháng 11.[6]
Chuyến tuần tra thứ bảy
Seraph xuất phát từ Gibraltar vào ngày 24 tháng 11 cho chuyến tuần tra thứ bảy, và đã hoạt động tại vùng biển giữa đảo Sicilia và Tunisia. Vào ngày 25 tháng 11, nó phóng một loạt bốn quả ngư lôi tấn công chiếc tàu chở hành khách Ý Città di Tunisi ở vị trí khoảng 40 nmi (74 km) về phía Tây đảo Marettimo, nhưng không trúng đích. Đến ngày 2 tháng 12, nó tấn công một đoàn tàu vận tải Ý nhưng vẫn không thành công. Hai ngày sau đó, nó tấn công chiếc tàu vận tải Đức Ankara ở vị trí khoảng 20 nmi (37 km) về phía Tây Marettimo, và sáu quả ngư lôi phóng ra đều bị trượt. Seraph tấn công bất thành một đoàn tàu vận tải khác vào chiều hôm đó, rồi kết thúc chuyến tuần tra và đi đến cảng Algiers vào ngày 8 tháng 12.[6]
Chuyến tuần tra thứ tám
Rời Algiers vào ngày 21 tháng 12 cho chuyến tuần tra thứ tám, Seraph hoạt động tài vùng biển phía Bắc Tunisia cho một nhiệm vụ đặc biệt trong khuôn khổ Chiến dịch Peashooter. Vào ngày 23 tháng 12, nó trinh sát quần đảo Galite ở phía Bắc Tunisia qua kính tiềm vọng, và sau đó mắc tai nạn va chạm với một tàu ngầm đối phương không rõ nhận dạng ở vị trí khoảng 40 nmi (74 km) về phía Đông Bắc Bône, Algérie. Sang ngày hôm sau, nó phóng ba quả ngư lôi tấn công chiếc tàu ngầm Ý Lazzaro Mocenigo nhưng không trúng đích. Sau đó Seraph ghé đến Bône trước khi quay trở về Algiers vào ngày 28 tháng 12.[6]
1943
Rời Algiers vào ngày 8 tháng 1, 1943, Seraph quay trở về Anh ngang qua Gibraltar để sửa chữa những hư hại do vụ va chạm ngoài khơi Bône. Nó về đến Holy Loch vào ngày 23 tháng 1, rồi được sửa chữa và nâng cấp radar tại Blyth cho đến cuối tháng 3.[6]
Chuyến tuần tra thứ chín
Seraph rời Holy Loch vào ngày 19 tháng 4 để đi sang Gibraltar, và trở thành chuyến tuần tra thứ chín khi nó tiến hành một nhiệm vụ đặc biệt trong khuôn khổ Chiến dịch Mincemeat. Trong đêm 29 tháng 4, thi thể của một người mang danh Thiếu tá Thủy quân Lục chiến Hoàng gia William Martin được chiếc tàu ngầm thả xuống biển ngoài khơi Huelva, Tây Ban Nha, mang theo một chiếc cặp chứa tài liệu mật. Vớt được thi thể cùng tài liệu giả mạo, với ý định đánh lừa tình báo Đức về mục tiêu của hoạt động đổ bộ sắp tới của phía Đồng Minh sẽ là đảo Sardegna hoặc Hy Lạp thay vì đảo Sicilia, chính quyền Tây Ban Nha vốn thân phe Trục lập tức chuyển những thông tin này cho người Đức, góp phần giúp cho việc giải phóng Sicilia thuận lợi hơn.[6]
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ Seraph kết thúc chuyến tuần tra tại Gibraltar vào ngày hôm sau 30 tháng 4, rồi lên đường bốn ngày sau đó để đi sang Algiers, đến nơi vào ngày 8 tháng 5.[6]
Chuyến tuần tra thứ mười
Seraph xuất phát từ Algiers vào ngày 21 tháng 5 cho chuyến tuần tra thứ mười, và hoạt động tại vùng biển Tyrrhenum về phía Đông Nam đảo Corse. Vào ngày 27 tháng 5, nó phóng ba quả ngư lôi tấn công chiếc tàu buôn Ý Capitaine Luigi ở vị trí về phía Đông Bắc La Maddalena, Sardegna, nhưng không trúng đích. Sau đó trong các ngày 30 và 31 tháng 5, nó lại hai lần tấn công các tàu vận tải đối phương nhưng không có kết quả. Seraph quay trở về Algiers vào ngày 10 tháng 6.[6]
Chuyến tuần tra thứ mười một
Seraph khởi hành từ Algiers vào ngày 30 tháng 6 cho chuyến tuần tra thứ mười một để hỗ trợ cho Chiến dịch Husky, cuộc đổ bộ cùa lực lượng Đồng Minh lên Sicilia. Vào ngày 9 tháng 7, chiếc tàu ngầm đã phục vụ như cột mốc dẫn đường ngoài khơi Scoglitti, Sicilia, rồi quay trở về Algiers vào ngày hôm sau.[6]
Chuyến tuần tra thứ mười hai
Seraph rời Algiers vào ngày 15 tháng 7 cho chuyến tuần tra thứ mười hai, và hoạt động tại vùng biển Tyrrhenum về phía Đông Bắc Sardegna. Nó kết thúc chuyến tuần tra khi đi đến Malta vào ngày 1 tháng 8.[6]
Chuyến tuần tra thứ mười ba
Seraph quay trở lại Algiers, rồi xuất phát từ đây vào ngày 27 tháng 8 cho chuyến tuần tra thứ mười ba để hoạt động ở phía Đông và phía Bắc đảo Corse. Vào ngày 31 tháng 8, nó cho đổ bộ hàng tiếp liệu lên Portofino (gần Genoa). Sau đó trong các ngày 2 và 3 tháng 9, nó phóng ngư lôi tấn công các đoàn tàu vận tải đối phương tại các khu vực đảo Gorgona và Bastia, Corse, nhưng không có kết quả. Đến ngày 10 tháng 9, nó phá hủy bốn tàu nhỏ bằng hải pháo ở vị trí về phía Đông Nam Piombino, và sang ngày hôm sau đã gây hư hại cho một tàu buôn bằng ngư lôi, trước khi quay trở về Algiers vào ngày 15 tháng 9.[6]
Chuyến tuần tra thứ mười bốn
Seraph khởi hành từ Algiers vào ngày 2 tháng 10 cho chuyến tuần tra thứ mười bốn, và đã hoạt động tại khu vực vịnh Genoa. Vào ngày 4 tháng 10, nó bị tàu ngầm Đức U-593 vốn đang trên đường từ Salerno quay trở về Toulon tấn công bằng hải pháo. Khi Seraph chuẩn bị phóng ngư lôi phản công, U-593 lặn xuống và chạy thoát. Seraph quay trở về Algiers hai ngày sau đó.[6]
Đến ngày 10 tháng 10, Seraph cùng với tàu ngầm chị em HMS Shakespeare được điều sang Beirut, đến nơi vào ngày 18 tháng 10, và gia nhập Chi hạm đội Tàu ngầm 1 đặt căn cứ tại đây.[6]
Chuyến tuần tra thứ mười lăm
Seraph xuất phát từ Beirut vào ngày 20 tháng 10 cho chuyến tuần tra thứ mười lăm để hoạt động trong khu vực biển Aegea. Vào ngày 27 tháng 10 nó đánh chìm chiếc thuyền buồm Hy Lạp Agios Vasilios / SYR 739 7 GRT bằng hải pháo ở vị trí về phía Bắc đảo Paros, và sau đó phóng ngư lôi tấn công chiếc tàu tuần tra Đức GA 01 ở phía Bắc đảo Naxos nhưng bị trượt. Trong các ngày 5 và 6 tháng 11, nó dùng hải pháo lần lượt đánh chìm các thuyền buồm Hy Lạp Miltiades / SAM 33 150 GRT ngoài khơi eo biển Kaso và Narkyssos / KAL 88 tại đảo Karpathos. Chiếc tàu ngầm quay trở về Beirut vào ngày 8 tháng 11.[6]
Chuyến tuần tra thứ mười sáu
Rời Beirut vào ngày 23 tháng 11 cho chuyến tuần tra thứ mười sáu, Seraph đã hoạt động trong khu vực phía Nam của biển Aegea, rồi kết thúc chuyến tuần tra và đi đến Malta vào ngày 3 tháng 12.[6]
Sau đó chiếc tàu ngầm rời Malta vào ngày 7 tháng 12 cho hành trình quay trở về Anh để đại tu. Nó có chặng dừng tại Gibraltar từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 12, và về đến Portsmouth vào ngày 23 tháng 12.[6] Seraph được đại tu tại Xưởng tàu Chatham từ cuối tháng 12, 1943 đến giữa tháng 4, 1944.[6]
1944 – 1945
Chuyến tuần tra thứ mười bảy
Sau khi thực hành huấn luyện tại vùng biển Plymouth, Seraph xuất phát từ cảng này vào ngày 8 tháng 5, 1944 cho chuyến tuần tra thứ mười bảy tại vùng biển Đại Tây Dương về phía Tây Nam Ireland và tại eo biển Manche. Tuy nhiên chiếc tàu ngầm gặp tai nạn trong khi lặn vào đêm 11 tháng 5, bị chìm xuống đáy biển đến độ sâu 498 ft (152 m), nhiều chỗ trên lườn tàu bị rò rỉ, các động cơ chính bị ngập nước. Chiếc tàu ngầm phải mất đến bốn giờ để khắc phục những hư hại, và sau nhiều nỗ lực cuối cùng trồi lên được mặt nước để gửi tín hiệu cầu cứu. Các tàu frigate HMS Domett và HMS Berry đã đi đến nơi để trợ giúp, trước khi được một tàu đánh cá và một tàu kéo đi đến thay phiên, đưa Seraph về đến cảng Plymouth vào ngày 15 tháng 5.[6]
Trong khi Seraph được sửa chữa tại Xưởng tàu Devonport, Bộ Hải quân Anh quyết định cải biến nó thành một tàu giả lập mục tiêu cho hoạt động huấn luyện chống tàu ngầm. Những tin tức tình báo mà phía Anh có được vào đầu năm 1944 về lớp Type XXI, được cho là đạt đến tốc độ đi ngầm dưới nước lên đến 16 kn (30 km/h), so với tốc độ nhanh nhất chỉ 9 kn (17 km/h) của những lớp U-boat hiện có. Do kiểu tàu ngầm điện (Elektroboot) mới này sẽ là một mối đe dọa đáng kể, Seraph được cải tạo gấp nhằm đạt được tốc độ đi ngầm dưới nước cao nhất có thể, và sử dụng trong thử nghiệm và thực hành nhằm phát triển những chiến thuật phù hợp đối phó với thế hệ tàu ngầm mới.[7]
Hình dáng bên ngoài của con tàu được cải biến cho suôn thẳng hơn, các ống phóng ngư lôi được bịt kín, giảm bớt kích thước của cầu tàu, tháo dỡ hải khẩu pháo cùng với một kính tiềm vọng và ăn-ten radar. Động cơ được nâng cấp, và con tàu được trang bị ắc-quy dung lượng cao hơn, đồng thời thay thế chân vịt bằng kiểu có bước xoay chậm hơn vốn đã được trang bị cho tàu ngầm lớp T.[7] Sau khi công việc sửa chữa và cải biến hoàn tất vào giữa tháng 9, 1944,[6] việc thử nghiệm và thực hành chống tàu ngầm được tiến hành cho đến hết năm 1944, rút ra nhiều kinh nghiệm và bài học quan trọng.[8] Seraph tiếp tục hoạt động huấn luyện và thử nghiệm cho đến khi Thế Chiến II kết thúc.[6]
Sau chiến tranh
Seraph tiếp tục phục vụ trong vai trò huấn luyện và thử nghiệm sau chiến tranh. Vào năm 1955 nó được bổ sung các tấm giáp để phục vụ như mục tiêu giả lập thực hành ngư lôi. Con tàu chỉ được cho xuất biên chế vào ngày 25 tháng 10, 1962, và bị bán để tháo dỡ vào ngày 20 tháng 12, 1965.[6]
Khi bị tháo dỡ tại Briton Ferry, Wales, một phần tháp chỉ huy cùng với cửa nắp để nạp ngư lôi của Seraph đã được giữ lại, và hiện đang được trưng bày như một đài tưởng niệm tại Học viện Quân sự The Citadel ở Charleston, South Carolina, nơi tướng Mark W. Clark phục vụ như Chủ tịch trong giai đoạn 1954–1965. Đài tưởng niệm này là căn cứ trên bờ duy nhất tại Hoa Kỳ nơi cờ hiệu của Hải quân Hoàng gia Anh được phép treo vĩnh viễn, bên cạnh cờ hiệu của Hải quân Hoa Kỳ nhằm ghi nhớ sự hợp tác Anh-Mỹ trong Thế Chiến II.[9][10]
Tham khảo
Ghi chú
- ^ Seraph (tiếng Anh): Tổng lãnh thiên thần Seraphim trong Do Thái giáo và Kitô giáo
Chú thích
- ^ Akermann (2002), tr. 341.
- ^ a b McCartney (2006), tr. 7.
- ^ Bagnasco (1977), tr. 110.
- ^ Chesneau (1980), tr. 51-52.
- ^ Akermann (2002), tr. 341, 345.
- ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u v w x y z Helgason, Guðmundur. "HMS Seraph (P 219) – Submarine of the S Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2025.
- ^ a b Brown (2006).
- ^ Milner (2011).
- ^ "British ambassador lays wreath at The Citadel". AP. ngày 16 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2013.
- ^ "Raising the Ensign". News and Courier. Charleston, South Carolina. ngày 28 tháng 3 năm 1980. tr. B1.[liên kết hỏng]
Thư mục
- Akermann, Paul (2002). Encyclopaedia of British Submarines 1901–1955 . Penzance, Cornwall: Periscope Publishing. ISBN 1-904381-05-7.
- Bagnasco, Erminio (1977). Submarines of World War Two. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-962-6.
- Brown, D.K. (2006). Nelson to Vanguard: Warship Development, 1923–1945. London: Naval Institute Press. ISBN 978-1591146025.
- Chesneau, Roger, biên tập (1980). Conway's All the World's Fighting Ships 1922–1946. Greenwich, UK: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-146-7.
- Colledge, J. J.; Warlow, Ben (1969). Ships of the Royal Navy: the complete record of all fighting ships of the Royal Navy (Rev. ed.). London: Chatham. ISBN 978-1-86176-281-8. OCLC 67375475.
- McCartney, Innes (2006). British Submarines 1939–1945. New Vanguard. Quyển 129. Oxford, UK: Osprey. ISBN 1-84603-007-2.
- Milner, Marc (2011). Battle of the Atlantic. The History Press. ISBN 978-0-7524-6187-8.
- Robertson, Terence (1957). The Ship with Two Captains: The story of the 'Secret Mission Submarine'. Ilkley, UK: Sapere Books. ISBN 978-1-80055-826-7.
- Rohwer, Jürgen (2005). Chronology of the War at Sea 1939–1945: The Naval History of World War Two . Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-59114-119-2.
Liên kết ngoài
- Helgason, Guðmundur. "HMS Seraph (P 219) – Submarine of the S Class". Allied Warships - uboat.net. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2025.
- Seraph monument at The Citadel The Military College of South Carolina
- History of HMS SERAPH (P.219) uboat.net
- Allied Submarine Attacks Suche: SERAPH