AIPAC

Đây là phiên bản hiện hành của trang này do imported>Greennzz sửa đổi vào lúc 21:04, ngày 5 tháng 7 năm 2026. Địa chỉ URL hiện tại là một liên kết vĩnh viễn đến phiên bản này của trang.

(khác) ← Phiên bản cũ | Phiên bản mới nhất (khác) | Phiên bản mới → (khác)

Ủy ban Quan hệ Công chúng Mỹ–Israel (American Israel Public Affairs Committee, viết tắt là AIPAC; /ˈˌpæk/, AY-PAK[4]) là một nhóm vận động hành lang ủng hộ chủ nghĩa Zion ở Mỹ. Nhóm này vận động các chính sách của mình lên nhánh lập pháp và hành pháp của Hoa Kỳ.[5] Đây là một trong số những tổ chức vận động hành lang ủng hộ Israel ở Hoa Kỳ[6] và từng được mệnh danh là một trong các nhóm vận động hành lang có thế lực nhất tại quốc gia này.[7] Từ năm 1954 đến năm 1959, tổ chức mang tên Ủy ban Các vấn đề Công cộng Zionist Mỹ (American Zionist Committee for Public Affairs). Tên gọi hiện tại được đánh giá là mô tả chính xác hơn về những người tham gia.[1]

Ủy ban Quan hệ Công chúng Mỹ–Israel
Logo của AIPAC, một Ngôi sao David theo phong cách cờ Hoa Kỳ tiếp nối bằng tên và khẩu hiệu của tổ chức
Tập tin:American Israel Public Affairs Committee (AIPAC) (53840039086).jpg
Trụ sở của AIPAC tại Mount Vernon Triangle, Washington, D.C.
Thành lập1954; 72 năm trước (1954)[1]
53-0217164[2]
Vị thế pháp lýTổ chức 501(c)(4)
Trụ sở chínhWashington, D.C., Hoa Kỳ[2]
Tọa độ38°54′02″B 77°00′53″T / 38,9004676°B 77,0146576°T / 38.9004676; -77.0146576
Michael Tuchin[2]
Chủ tịch hội đồng quản trị, ban giám đốc
Betsy Berns Korn[2]
Elliot Brandt[3]
Các thành viên251 Massachusetts Avenue LLC,
American Israel Educational Foundation,
AIPAC-AIEF Israel RA,
AIPAC-PAC,
United Democracy Project[2]
Doanh thu (2023–24)
156.448.717 USD[2]
Chi phí (2023–24)100.363.669 USD[2]
Tài trợ13.070.967 USD[2]
Công nhân (2022)
376[2]
Tình nguyện viên (2022)
47[2]
Websiteaipac.org
Tên trước đây
Ủy ban Các vấn đề Công cộng Zionist Mỹ (1954–1959)

Cho đến năm 2021, AIPAC không tự mình gây quỹ cho các ứng cử viên chính trị; thay vào đó các thành viên của tổ chức đã huy động tiền cho những ứng cử viên này thông qua các ủy ban hành động chính trị không trực thuộc AIPAC cùng nhiều phương thức khác[cái gì?].[8] Vào cuối năm 2021, AIPAC thành lập ủy ban hành động chính trị của riêng mình và công bố kế hoạch cho một siêu PAC (có khả năng chi tiêu tiền thay mặt cho các ứng cử viên).[9][10][11] Những người chỉ trích AIPAC cho rằng tổ chức này đóng vai trò như một đặc vụ của chính phủ Israel và thắt chặt "vòng kim cô" đối với Quốc hội Hoa Kỳ.[12] Giới chuyên môn từng cáo buộc AIPAC có quan hệ đồng minh chặt chẽ với đảng Likud của Israel cùng Đảng Cộng hòa tại Hoa Kỳ. Phản bác lại, một phát ngôn viên của AIPAC gọi đây là hành động "xuyên tạc ác ý".[8][13][14]

AIPAC tự mô tả bản thân là một tổ chức lưỡng đảng.[15] Những người ủng hộ tổ chức này khẳng định bản chất lưỡng đảng của nó thể hiện rõ qua hội nghị chính sách thường niên; trong năm 2016 sự kiện này đã có sự góp mặt của các ứng cử viên thuộc cả hai đảng lớn là Hillary Clinton cùng Donald Trump.[16][17] Tuy nhiên, các báo cáo chỉ ra rằng hoạt động chi tiêu chính trị của tổ chức thường xuyên hỗ trợ các nỗ lực chống lại những ứng cử viên (chủ yếu là đảng viên Dân chủ) bị coi là "không ủng hộ đầy đủ" cho Israel. Trong giai đoạn chuẩn bị cho cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ 2024, tờ The Guardian đưa tin AIPAC đã tuyển mộ và hỗ trợ những người thách thức các ứng cử viên từng lên tiếng chỉ trích hành động của Israel trong cuộc Chiến tranh Israel – Hamas.[18] Giới chuyên môn cũng từng chỉ trích AIPAC vì không đại diện cho quan điểm đa dạng của những người Mỹ gốc Do Thái ủng hộ Israel, đồng thời tổ chức này còn liên kết chặt chẽ với các chính sách của những chính phủ cánh hữu tại quốc gia này.[19][20]

Tính đến năm 2025, AIPAC ghi nhận hơn 5 triệu thành viên tại Hoa Kỳ,[21][22] 17 văn phòng khu vực cùng "một lượng lớn các nhà tài trợ".[8] Nhà vận động hành lang cho chính phủ Israel là Isaiah L. Kenen đã thành lập tổ chức này vào năm 1954,[23][24] một phần nhằm đối phó với những lời chỉ trích từ cộng đồng quốc tế về việc Israel thảm sát dân làng Palestine tại Qibya trong năm đó.[1] AIPAC đã vươn lên thành một tổ chức đầy quyền lực trong thập niên 1980.[25] Vào năm 2002, tổ chức bày tỏ ý định vận động Quốc hội cho phép sử dụng vũ lực ở Iraq,[26] và đến năm 2003, họ đã lên tiếng bảo vệ chiến tranh Iraq tại các sự kiện của mình.[27][28][29] Năm 2005, một nhà phân tích của Lầu Năm Góc đã nhận tội gián điệp vì tuồn bí mật của chính quyền liên bang Hoa Kỳ cho các quan chức cấp cao thuộc AIPAC trong một sự kiện được biết đến với tên gọi bê bối gián điệp AIPAC.[30]

Lịch sử

Tập tin:AIPAC logo.svg
Logo của AIPAC từ năm 2000 đến năm 2020

Hình thành (1943–thập niên 1970)

Năm 1943, giáo sĩ Do Thái Abba Hillel Silver đến từ Cleveland, Ohio đã thành lập Hội đồng Khẩn cấp Zionist Mỹ (AZEC) nhằm tổ chức cộng đồng người Mỹ gốc Do Thái liên hệ với các đại diện địa phương để ủng hộ người Do Thái tại Lãnh thổ Ủy trị Palestine.[31][32] Năm 1949, tổ chức đổi tên thành Hội đồng Zionist Mỹ (AZC).[32] Nhà báo kiêm nhà vận động hành lang cho chính phủ Israel là Isaiah L. Kenen đảm nhiệm vị trí giám đốc thông tin của AZEC.[33][32]

Trong hai năm 1951 và 1952, Kenen bắt đầu nỗ lực vận động hành lang nhằm hỗ trợ nền kinh tế đang gặp khó khăn của Israel và đã thành công đảm bảo khoản viện trợ 65 triệu USD cùng 73 triệu USD từ Hoa Kỳ cho Israel.[32]

Năm 1953, vì lo ngại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ điều tra do không đăng ký tư cách "đặc vụ nước ngoài", Kenen đã thành lập Ủy ban Các vấn đề Công cộng Zionist Mỹ (AZCPA) như một thực thể riêng biệt không được miễn thuế và có khả năng vận động hành lang cho một chính phủ nước ngoài.[34][32]

Kenen từng có thời gian công tác tại Bộ Ngoại giao Israel. Trên cương vị nhà vận động hành lang, ông đã đi chệch khỏi các hoạt động quan hệ công chúng thông thường của AZC bằng cách nỗ lực mở rộng sự ủng hộ dành cho Israel giữa các nhóm vốn không theo chủ nghĩa Zion truyền thống. Tổ chức mới ra đời một phần nhằm phản ứng lại những lời chỉ trích của cộng đồng quốc tế về vụ thảm sát Qibya diễn ra vào tháng 10 năm 1953, khi quân đội Israel dưới sự chỉ huy của Ariel Sharon đã sát hại ít nhất 69 dân làng Palestine (hai phần ba trong số đó là phụ nữ và trẻ em).[34] Vì chính quyền Eisenhower nghi ngờ chính phủ Israel tài trợ cho AZC, giới chức trách quyết định tách các nỗ lực vận động hành lang thành một tổ chức độc lập với nguồn tài chính riêng biệt.[34]

Năm 1959, AZCPA đổi tên thành Ủy ban Quan hệ Công chúng Mỹ–Israel nhằm phản ánh mạng lưới thành viên cùng sứ mệnh rộng lớn hơn.[35][36] Kenen tiếp tục lãnh đạo tổ chức cho đến khi nghỉ hưu vào năm 1974. Morris J. Amitay đã trở thành người kế nhiệm ông.[37] Theo bình luận viên M. J. Rosenberg, Kenen là "một người theo chủ nghĩa tự do kiểu cũ", người không tìm kiếm sự ủng hộ bằng cách quyên góp cho các chiến dịch tranh cử hoặc gây ảnh hưởng đến các cuộc bầu cử theo những cách khác. Thay vào đó, ông sẵn sàng "chơi với những quân bài mà chúng ta được chia".[8]

Trỗi dậy (Thập niên 1970 đến thập niên 1980)

Đến thập niên 1970, Hội nghị Chủ tịch các Tổ chức Do Thái lớn của Mỹ và AIPAC đã nắm giữ trách nhiệm tổng thể đối với các hoạt động vận động hành lang liên quan đến Israel trong cộng đồng Do Thái. Hội nghị Chủ tịch chịu trách nhiệm thảo luận với Nhánh hành pháp của chính phủ Hoa Kỳ, trong khi AIPAC chủ yếu làm việc với Nhánh lập pháp (Quốc hội Hoa Kỳ). Mặc dù đã hoạt động hậu trường một cách hiệu quả kể từ khi thành lập vào năm 1953, AIPAC chỉ thực sự trở thành một tổ chức quyền lực trong vòng 15 năm sau cuộc chiến tranh Yom Kippur năm 1973.[36]

Theo cựu Đại sứ Israel tại Hoa Kỳ Michael Oren, AIPAC đã đạt được sức mạnh tài chính và chính trị cần thiết để gây ảnh hưởng đến quan điểm của Quốc hội vào giữa thập niên 1970.[38] Trong giai đoạn này, ngân sách của AIPAC đã tăng vọt từ 300.000 USD vào năm 1973 lên hơn 7 triệu USD trong những năm đỉnh cao quyền lực vào cuối thập niên 1980. Trong khi Kenen xuất thân từ chủ nghĩa Zion và tuyển dụng đội ngũ nhân viên ban đầu từ những nhà hoạt động lâu năm trong cộng đồng Do Thái, AIPAC đã tiến hóa thành một công ty tư vấn và vận động hành lang điển hình có trụ sở tại Washington. Tổ chức tuyển mộ các nhà lãnh đạo và nhân viên từ đội ngũ nhân viên lập pháp cùng những nhà vận động hành lang có kinh nghiệm làm việc trực tiếp với bộ máy quan liêu liên bang.[36] Đối mặt với sự phản đối từ cả hai viện của Quốc hội, Tổng thống Gerald Ford đã buộc phải hủy bỏ "cuộc đánh giá lại" của mình.[38] George Lenczowski cũng ghi nhận khung thời gian tương tự vào giữa thập niên 1970 đối với sự trỗi dậy quyền lực của AIPAC: "Nó [nhiệm kỳ tổng thống của Jimmy Carter] cũng trùng khớp với sự nổi lên mạnh mẽ của Ủy ban Quan hệ Công chúng Mỹ–Israel (AIPAC) như một thế lực chủ chốt trong việc định hình chính sách của Mỹ đối với Trung Đông."[39]

Năm 1980, Thomas Dine đảm nhận chức vụ giám đốc điều hành của AIPAC và đã phát triển chiến dịch cấp cơ sở của tổ chức. Đến cuối thập niên 1980, bốn doanh nhân thành đạt gồm Mayer (Bubba) Mitchell, Edward Levy, Robert Asher và Larry Weinberg đã "thống trị" ban giám đốc của AIPAC.[8]

AIPAC đã giành được hai thắng lợi lớn vào đầu thập niên 1980. Những chiến thắng này đã kiến tạo hình ảnh của tổ chức trong mắt các ứng cử viên chính trị như một thế lực "không thể xem thường" và đặt nền móng cho một Quốc hội "ủng hộ Israel kiên định" trong ba thập kỷ tiếp theo.[40] Năm 1982, các nhà hoạt động liên kết với AIPAC tại Skokie, Illinois đã ủng hộ Richard J. Durbin lật đổ Hạ nghị sĩ Hoa Kỳ Paul Findley (đảng viên Cộng hòa đại diện Illinois), người từng thể hiện sự nhiệt tình đối với nhà lãnh đạo PLO Yasser Arafat. Năm 1984, đảng viên Dân chủ Paul Simon đã đánh bại Thượng nghị sĩ Charles H. Percy (đảng viên Cộng hòa đại diện Illinois), khi đó là chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ và là người ủng hộ thỏa thuận cho phép Ả Rập Xê Út mua máy bay quân sự thuộc hệ thống chỉ huy và cảnh báo sớm trên không (AWAC) tối tân. Robert Asher (một thành viên ban giám đốc AIPAC tại Chicago) đã đề nghị Simon tranh cử đối đầu với Percy.[40][41]

Giai đoạn đương đại (Hậu thập niên 1980)

Năm 2005, nhà phân tích của Lầu Năm Góc Lawrence Franklin đã nhận tội gián điệp vì chuyển giao bí mật của chính phủ Hoa Kỳ cho giám đốc chính sách của AIPAC Steve J. Rosen cùng nhà phân tích cấp cao về Iran của AIPAC Keith Weissman trong một sự kiện được biết đến với tên gọi bê bối gián điệp Lawrence Franklin. AIPAC sau đó đã sa thải Rosen và Weissman.[42] Năm 2009, giới chức trách đã bãi bỏ các cáo buộc chống lại những cựu nhân viên của AIPAC.[43]

Tập tin:Donald Trump speaking at AIPAC.jpg
Donald Trump phát biểu tại Hội nghị Chính sách AIPAC năm 2016

Gần 20.000 đại biểu đã tham dự Hội nghị Chính sách AIPAC năm 2016 (trong đó có khoảng 4.000 sinh viên Mỹ).[44] Lần đầu tiên trong lịch sử của AIPAC, các phiên họp chung của hội nghị được tổ chức tại nhà thi đấu Verizon CenterWashington, D.C. nhằm cung cấp đủ sức chứa cho số lượng lớn đại biểu. Các diễn giả chính bao gồm Phó Tổng thống Joe Biden, cựu Ngoại trưởng Hillary Clinton, ứng cử viên tổng thống của Đảng Cộng hòa Donald Trump, Thống đốc John Kasich, Thượng nghị sĩ Ted Cruz và Chủ tịch Hạ viện Paul Ryan. Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu, người từng trực tiếp phát biểu trước AIPAC, đã gửi lời chào đến hội nghị qua liên kết vệ tinh vào ngày cuối cùng.[cần dẫn nguồn]

Vào tháng 2 năm 2019, hạ nghị sĩ Hoa Kỳ mới nhậm chức Ilhan Omar (đảng viên Dân chủ đại diện Minnesota), một trong hai người phụ nữ Hồi giáo đầu tiên (cùng với Rashida Tlaib) phục vụ trong Quốc hội, đã đăng trên Twitter rằng sự ủng hộ của Lãnh đạo Thiểu số Hạ viện Kevin McCarthy (đảng viên Cộng hòa đại diện California) đối với Israel "chỉ vì những tờ 100 đô la" (tức là vì tiền).[45] Ngày hôm sau, cô làm rõ rằng mình đang ám chỉ AIPAC.[46] Omar sau đó đã lên tiếng xin lỗi nhưng đồng thời đưa ra một tuyên bố khác công kích "ảnh hưởng chính trị ở đất nước này cho rằng việc thúc đẩy lòng trung thành với một quốc gia nước ngoài là điều có thể chấp nhận được". Những tuyên bố này đã khơi dậy sự phẫn nộ trong cộng đồng ủng hộ AIPAC nhưng đồng thời cũng nhận được sự đồng tình mạnh mẽ từ cánh tiến bộ của Đảng Dân chủ. Nó "làm sống lại một cuộc tranh luận căng thẳng" trên chính trường Mỹ về việc liệu AIPAC có quá nhiều quyền lực trong việc thao túng chính sách của nước này tại Trung Đông hay không,[40] đồng thời làm nổi bật tình trạng rạn nứt trong một số mối quan hệ giữa các đảng viên Dân chủ tiến bộ và các tổ chức ủng hộ Israel.[46] Ngày 6 tháng 3 năm 2019, ban lãnh đạo Đảng Dân chủ đã đệ trình một nghị quyết tại Hạ viện Hoa Kỳ nhằm lên án chủ nghĩa bài Do Thái. Nghị quyết này sau đó đã được mở rộng để lên án sự cố chấp nhắm vào nhiều nhóm người đa dạng trước khi chính thức thông qua vào ngày 7 tháng 3.[47][48]

Vào tháng 8 năm 2024, các nhà hoạt động chống Israel đã phá hoại trụ sở của AIPAC tại Washington, D.C.[49][50] Trong chu kỳ bầu cử năm 2024, AIPAC đã chi mức kỷ lục 45,2 triệu USD để đánh bại hai nhà lập pháp tiến bộ chỉ trích Israel là Jamaal BowmanCori Bush.[41]

Năm 2025, một số chính trị gia của Đảng Dân chủ từng nhận được sự hỗ trợ của AIPAC (bao gồm Deborah Ross, Valerie Foushee, Morgan McGarveySeth Moulton) tuyên bố họ sẽ ngừng tiếp nhận các khoản quyên góp từ tổ chức này.[51] Theo tạp chí The Nation: "Rõ ràng là sự đồng thuận ủng hộ Israel đã bốc hơi trong cơ sở của Đảng Dân chủ và những người theo chủ nghĩa tự do. Không chỉ vậy—việc không chỉ trích Israel và chế độ kiểm soát đối với người Palestine ngày nay đang trở thành một trở ngại đối với các chính trị gia Đảng Dân chủ."[51] David Frank, giáo sư truyền thông tại Đại học Oregon, nhận định: "AIPAC đang rơi vào thế khó. Họ đang chịu thất bại và đánh mất vị thế trong công chúng Mỹ. Nền tảng Track AIPAC đang hoạt động ở cấp cơ sở để chỉ ra mức độ quyền lực của AIPAC. Các nhà sáng lập muốn phơi bày số tiền chảy vào túi từng thành viên Quốc hội. Họ muốn biến số tiền này thành thứ độc hại để ngay cả những người nhận các khoản quyên góp nhỏ cũng sẽ muốn hoàn trả lại tiền."[52]

Mục tiêu, hoạt động, quy mô và những thành tựu

Mục đích công khai của AIPAC là vận động Quốc hội Hoa Kỳ về các vấn đề và luật pháp liên quan đến Israel. AIPAC thường xuyên gặp gỡ các thành viên Quốc hội và tổ chức các sự kiện để chia sẻ quan điểm của mình.

Quy mô

Tính đến đầu năm 2019, AIPAC sở hữu 17 văn phòng khu vực và vệ tinh cùng một trụ sở mới trên phố K ở Washington, D.C.[53] AIPAC đã chi 3,5 triệu USD cho hoạt động vận động hành lang vào năm 2018. Đây là một khoản tiền tương đối lớn trong lĩnh vực chính sách đối ngoại (gấp hơn 10 lần chi phí vận động hành lang của J Street)[54] nhưng vẫn ít hơn nhiều nhóm vận động hành lang công nghiệp khác theo dữ liệu từ OpenSecrets (với 15 nhóm hàng đầu tại Hoa Kỳ đều chi tiêu trên 15 triệu USD).[55] Bỏ qua các so sánh đơn thuần về giá trị tiền tệ, giới chuyên môn cũng lưu ý rằng AIPAC sở hữu "một mô hình khá độc đáo" khi thường xuyên bắt đầu quyên góp từ sớm trong sự nghiệp của những chính trị gia mang "triển vọng dài hạn".[55] AIPAC cũng cam kết chi tiêu cho nhiều "phương tiện dùng ảnh hưởng trục lợi ít chính thức hơn" (chẳng hạn như các chuyến bay và chỗ ở xa xỉ cho các thành viên quốc hội).[54]

Bên cạnh hoạt động vận động hành lang, AIPAC còn sở hữu các ủy ban hành động chính trị trực thuộc. Những ủy ban này chi hàng triệu đô la cho các chiến dịch chính trị.[56][57]

Xây dựng sự ủng hộ trong giới hoạch định chính sách

Tập tin:Secretary Pompeo Delivers a Speech at AIPAC (49611582676).jpg
Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Mike Pompeo phát biểu tại Hội nghị Chính sách AIPAC năm 2020.

Thomas Dine đã phát triển một mạng lưới để tiếp cận mọi thành viên của Quốc hội. Những người Mỹ gốc Do Thái chính là "lực lượng nòng cốt" trong hệ thống thành viên của AIPAC.[8] Ngày nay, hàng ngàn người ủng hộ AIPAC tụ họp tại Hội nghị Chính sách thường niên của tổ chức ở Washington, D.C. mỗi năm. Ban tổ chức thường mời các nhà tài trợ và khách VIP tham dự Tiệc chiêu đãi Lãnh đạo vào đêm cuối cùng của hội nghị (sự kiện thu hút hàng trăm thành viên Quốc hội tham gia).[58]

AIPAC đã thành lập các "nhóm họp kín" (caucus) tại mọi khu vực bầu cử quốc hội. Các nhân viên của AIPAC sẽ tổ chức cộng đồng người Do Thái ở mọi quận bất kể quy mô. Họ tập hợp các khoản đóng góp chiến dịch và phân phối cho các ứng cử viên trong những khu vực bầu cử quốc hội cùng những nơi mà số tiền đó sẽ mang lại lợi ích. Theo nhà báo Connie Bruck, vào cuối thập niên 1980, đã có "hàng tá" ủy ban hành động chính trị không có mối quan hệ chính thức nào với AIPAC nhưng nhà lãnh đạo của các ủy ban này thường là một thành viên thuộc AIPAC.[8] Tờ The Wall Street Journal đưa tin rằng vào năm 1987, các quan chức của AIPAC đã điều hành ít nhất 51 trong số 80 ủy ban hành động chính trị (PAC) ủng hộ Israel.[59][60] Một số ủy ban "hoạt động độc lập" với AIPAC nhưng "có sứ mệnh và thành viên tương đồng" với tổ chức này bao gồm Ủy ban Quốc hội Florida, NORPACNew Jersey, To Protect Our Heritage PAC gần Chicago cùng Hiệp hội Công dân Quan tâm Maryland nằm gần khu vực Baltimore.[53]

Tờ The Washington Post nhận định rằng "Trang web của AIPAC (nơi nêu chi tiết cách các thành viên Quốc hội bỏ phiếu về những vấn đề trọng tâm của AIPAC) cùng với AIPAC Insider (một ấn phẩm định kỳ bóng bẩy chuyên phân tích các cuộc đua chính trị gay cấn) được hàng ngàn nhà tài trợ tiềm năng xem xét kỹ lưỡng. Theo dữ liệu từ tổ chức phi đảng phái OpenSecrets, các lợi ích ủng hộ Israel đã đóng góp 56,8 triệu USD dưới dạng các khoản quyên góp cá nhân, hội nhóm và tiền mềm cho các ứng cử viên liên bang cùng ủy ban đảng kể từ năm 1990. Từ cuộc bầu cử năm 2000 đến năm 2004, 50 thành viên thuộc ban giám đốc của AIPAC đã quyên góp trung bình 72.000 USD mỗi người cho các chiến dịch và ủy ban hành động chính trị."[61] Theo lời Dine, các khoản đóng góp từ thành viên AIPAC trong thập niên 1980 và 1990 thường chiếm "khoảng 10 đến 15% ngân sách của một chiến dịch tranh cử quốc hội điển hình".[8]

AIPAC còn gây ảnh hưởng đến các nhà lập pháp thông qua những phương thức khác bằng cách:

  • Kết nối một thành viên AIPAC có chung lợi ích với một thành viên của Quốc hội.[8] Sheryl Gay Stolberg gọi hệ thống "những đầu mối liên hệ chính" này là "bí mật" của AIPAC. Bà cũng dẫn lời nhà hoạt động Tom Dine khẳng định rằng văn phòng của AIPAC có khả năng gọi cho "5 đến 15" đầu mối liên hệ chính đối với mỗi thượng nghị sĩ (ngay cả những người tỏ thái độ "xa lánh").[53]
  • Lên kế hoạch kỹ lưỡng cho các chuyến đi đến Israel dành cho các nhà lập pháp cùng những người định hướng dư luận. Phân nhánh từ thiện của AIPAC là Quỹ Giáo dục Mỹ-Israel sẽ đài thọ toàn bộ chi phí cho các chuyến đi này.[8] Chỉ tính riêng trong năm 2005, đã có hơn 100 thành viên Quốc hội đến thăm Israel (trong đó một số người đã đi nhiều lần).[62]
  • Bồi dưỡng các nhà lãnh đạo sinh viên (điển hình như chủ tịch hội sinh viên).[8]:54 Tại các trường đại học, tổ chức cung cấp chương trình "đào tạo năng lực lãnh đạo chính trị" cho các nhóm sinh viên đại học. Đây là một nỗ lực nhằm "xây dựng một phong trào ủng hộ Israel vững mạnh hơn trong cộng đồng sinh viên cả trong và ngoài khuôn viên trường học trên toàn quốc".[63]
  • Khơi dậy sự đồng cảm dành cho Israel trong cộng đồng công chúng.[8][*]

AIPAC luôn ủng hộ các chính trị gia đương nhiệm trung thành (ví dụ như Thượng nghị sĩ Lowell Weicker) ngay cả khi họ phải đối đầu với các ứng cử viên gốc Do Thái. Đồng thời, tổ chức này cũng nỗ lực lật đổ các chính trị gia đương nhiệm ủng hộ Palestine (điển hình như Hạ nghị sĩ Paul Findley) hoặc các ứng cử viên bị coi là thiếu thiện cảm với Israel (chẳng hạn Thượng nghị sĩ Charles H. Percy).[8] Tuy nhiên, dân biểu gốc Do Thái Jan Schakowsky (người từng duy trì mối quan hệ tốt đẹp với AIPAC và nhận được các khoản quyên góp chiến dịch từ các thành viên của tổ chức) lại vấp phải sự phản đối từ chính nhóm này trong chiến dịch tái tranh cử năm 2010 của bà sau khi bà nhận được sự ủng hộ từ nhóm vận động J Street.[8]

Dẫn lời cựu hạ nghị sĩ Brian Baird: "Bất kỳ thành viên Quốc hội nào cũng biết rằng AIPAC gián tiếp liên quan đến một khoản chi tiêu chiến dịch khổng lồ nếu bạn đứng về phía họ và một khoản tiền lớn chống lại bạn nếu bạn không làm vậy." "Khoản tiền liên kết với AIPAC" lên tới khoảng 200.000 USD trong mỗi chiến dịch tranh cử của ông ("và đó là 200 nghìn USD ủng hộ bạn so với chiều ngược lại: một sự thay đổi trị giá 400.000 USD").[8]:58 Các khoản đóng góp chiến dịch do AIPAC định hướng thường đi kèm với những "đóng góp chiến thuật" đáng kể (giống như nhiều nhóm lợi ích khác). Các nhân viên của AIPAC thường nói với Baird cùng những nhà lập pháp khác rằng: "Không, chúng ta không nói theo cách đó, chúng ta phải nói theo cách này." Baird phàn nàn: "Có cả một mã ngữ nghĩa phức tạp mà bạn phải học... Sau một thời gian, bạn thấy mình đang nói và lặp lại nó như thể đó là sự thật."[8]

Mục tiêu

AIPAC cực lực ủng hộ việc Hoa Kỳ cung cấp khoản viện trợ đáng kể cho Israel. Vào tháng 3 năm 2009, giám đốc điều hành của AIPAC là Howard Kohr đã xuất hiện trước Tiểu ban Hoạt động Nước ngoài trực thuộc Ủy ban Chuẩn chi Hạ viện Hoa Kỳ để yêu cầu Israel nhận được 2,775 tỷ USD viện trợ quân sự trong năm tài chính 2010. Con số này được đưa ra theo lời kêu gọi trong biên bản ghi nhớ năm 2007 giữa Mỹ và Israel nhằm phân bổ 30 tỷ USD viện trợ cho Israel trong vòng 10 năm. Kohr phát biểu: "Sự hỗ trợ của Mỹ dành cho Israel phục vụ các lợi ích an ninh quốc gia quan trọng của Mỹ và thúc đẩy các mục tiêu chính sách đối ngoại quan trọng của Mỹ." Theo lời Kohr, các thiết bị quân sự mà Israel phải mua để đối mặt với mối đe dọa ngày càng tăng từ chủ nghĩa khủng bố cùng chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo đang ngày càng trở nên đắt đỏ do giá dầu tăng vọt trong thời gian gần đây (điều đã tạo điều kiện cho các quốc gia như Iran củng cố ngân sách quân sự của họ).[63][64]

Chiến tranh Iraq

Một ngày sau khi George W. Bush phát biểu trước Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc nhằm kêu gọi hành động chống lại Iraq, AIPAC đã tuyên bố với Jewish Telegraphic Agency rằng: "Nếu tổng thống yêu cầu Quốc hội ủng hộ hành động ở Iraq, AIPAC sẽ vận động các thành viên Quốc hội ủng hộ ông ấy."[65] John Judis viết trên tờ The New Republic rằng mặc dù các hoạt động vận động hành lang của AIPAC không được báo cáo rộng rãi nhằm ngăn chặn các quốc gia Ả Rập liên kết kế hoạch chiến tranh của Bush với Israel, Kohr đã gọi việc "'âm thầm' vận động Quốc hội phê duyệt sử dụng vũ lực ở Iraq" là một trong những thành công của AIPAC tại một cuộc họp của tổ chức vào tháng 1 năm 2003. Trong khi đó, phát ngôn viên Josh Block của AIPAC khẳng định với The New Republic rằng AIPAC không hề tiến hành bất kỳ hoạt động vận động hành lang nào và truyền thông đã trích dẫn sai lời của Kohr.[66] Trên tờ The Washington Post, Dana Milbank và Glenn Frankel viết rằng mặc dù AIPAC (cũng giống như chính phủ Israel) chính thức không có lập trường nào về giá trị của việc gây chiến với Iraq, các quan chức của chính quyền Bush vẫn nhận được những tràng pháo tay tán thưởng tại các sự kiện của AIPAC vì đã lên tiếng bảo vệ cuộc chiến tranh Iraq.[67][61] Nhà báo Jeffrey Goldberg đưa tin trên tạp chí The New Yorker rằng AIPAC đã vận động Quốc hội ủng hộ cuộc chiến tranh mặc dù Iraq vốn không nằm trong số những mối quan tâm chính của tổ chức.[68] Ron Kampeas của hãng thông tấn JTA cho biết mặc dù AIPAC chưa bao giờ ủng hộ hoặc vận động hành lang một cách rõ ràng cho cuộc chiến tranh Iraq, một số cá nhân trong cộng đồng ủng hộ Israel vẫn coi cuộc chiến tranh này như một sự liên kết giữa Mỹ và Israel nhằm chống lại chủ nghĩa cực đoan Ả Rập và Hồi giáo. Đến thời điểm hội nghị chính sách thường niên của AIPAC năm 2007, tình trạng bạo lực tiếp diễn ở Iraq đã làm xói mòn quan điểm đó. Tại một phiên họp của hội nghị, những người tham gia đã đổ lỗi cho cuộc chiến tranh này vì làm gia tăng tình trạng khủng bố toàn cầu.[69]

Chính sách về Iran

Tập tin:Ilham Aliyev received American Israel Public Affairs Committee - 02.jpg
Các nhà lãnh đạo của AIPAC cùng Tổng thống Azerbaijan Ilham Aliyev tại Baku, Azerbaijan, ngày 11 tháng 12 năm 2024

Lập trường chính thức của AIPAC về vấn đề Iran là khuyến khích một phản ứng ngoại giao và kinh tế mạnh mẽ do chính phủ Hoa Kỳ, các đồng minh châu Âu, Nga và Trung Quốc phối hợp thực hiện.[61]

Năm 2012, AIPAC đã gửi thư tới từng thành viên Quốc hội để kêu gọi áp đặt các lệnh trừng phạt "tàn khốc" lên Iran.[70] Tuân theo cách tiếp cận này, tổ chức đã nỗ lực vận động hành lang để áp đặt lệnh cấm vận kinh tế và gia tăng các lệnh trừng phạt quốc tế lên Iran (được biết đến với tên gọi Đạo luật Iran Không có Vũ khí Hạt nhân năm 2013).[71] Theo tờ The New York Times, nỗ lực của tổ chức đã "bị đình trệ sau khi vấp phải sự phản kháng gay gắt từ Tổng thống Obama."[72][73]

AIPAC là đối thủ hàng đầu của Kế hoạch hành động toàn diện chung (JCPOA), một thỏa thuận hạt nhân được ký kết vào năm 2015 giữa Iran và các cường quốc thuộc nhóm P5+1. Tổ chức đã phát động một chiến dịch vận động hành lang quy mô lớn nhằm chống lại thỏa thuận thông qua nhóm trực thuộc mang tên Citizens for a Nuclear Free Iran (Công dân vì một Iran không có vũ khí hạt nhân). Các báo cáo chỉ ra rằng họ đã chi từ 20 triệu đến 40 triệu USD cho hoạt động quảng cáo, các cuộc họp với quốc hội cùng việc gây sức ép ở cấp cơ sở.[74][75] Chiến dịch này bao gồm các quảng cáo trên sóng truyền hình ở gần hai chục tiểu bang, những mẩu quảng cáo tràn trang trên báo giấy, các chuyến bay đưa thành viên AIPAC đến Washington cùng các cuộc biểu tình tại các văn phòng quốc hội.[75][76] Mặc dù giới chuyên môn mô tả nỗ lực này là một trong những giai đoạn vận động hành lang khốc liệt nhất trong lịch sử AIPAC, chính quyền Obama vẫn thu thập đủ sự ủng hộ từ Thượng viện để duy trì quyền phủ quyết đối với một nghị quyết phản đối. Nhờ đó, thỏa thuận đã chính thức có hiệu lực.[77] Đến năm 2018, AIPAC đã bày tỏ sự ủng hộ đối với quyết định rút khỏi JCPOA của chính quyền Trump đồng thời hậu thuẫn cho việc tái áp đặt các lệnh trừng phạt lên Iran.[78]

Trong lĩnh vực nông nghiệp và thương mại nông nghiệp, AIPAC tích cực vận động hành lang nhằm tăng cường sự hợp tác giữa Mỹ và Israel.[79] Tổ chức coi nông nghiệp là một lĩnh vực kinh tế trọng điểm để thúc đẩy hợp tác kinh tế giữa hai quốc gia.[79]

Những thành tựu

Giới chuyên môn thường so sánh AIPAC với các nhóm vận động hành lang về súng đạn, ngân hàng, quốc phòng và năng lượng khi coi tổ chức này "từ lâu đã là một đặc điểm của nền chính trị ở Washington". Các tài liệu quảng cáo của AIPAC lưu ý rằng tiệc chiêu đãi lãnh đạo trong khuôn khổ hội nghị chính sách thường niên của tổ chức "sẽ có sự tham dự của nhiều thành viên Quốc hội hơn hầu hết bất kỳ sự kiện nào khác (ngoại trừ một phiên họp chung của Quốc hội hoặc một bài phát biểu Thông điệp Liên bang)".[8]:50 Tờ The New York Times đã gọi AIPAC là "một thế lực chủ chốt trong việc định hình chính sách của Hoa Kỳ tại Trung Đông"[80] với khả năng thúc đẩy các dự luật đi qua Quốc hội mà "thông thường [...] sẽ được thông qua bằng các cuộc bỏ phiếu nhất trí".[72]

Một nghị quyết của Hạ viện do AIPAC hậu thuẫn nhằm lên án báo cáo Goldstone của Liên Hợp Quốc về các hành vi vi phạm nhân quyền của Israel ở Gaza đã được thông qua với tỷ lệ 344–36 vào năm 2009.[81][8]:58

Năm 1997, tạp chí Fortune đã vinh danh AIPAC là nhóm có tầm ảnh hưởng lớn thứ hai tại Washington, D.C.[82]

AIPAC là một trong những người ủng hộ sớm nhất đối với Đạo luật Chống khủng bố năm 1995. Đạo luật này đã dẫn đến việc tăng cường các nguồn lực của FBI nhằm phục vụ công cuộc chống khủng bố.[8]

AIPAC cũng nỗ lực vận động hành lang để xin viện trợ tài chính từ Mỹ cho Israel. Nhờ đó, họ đã hỗ trợ thu mua tới 3 tỷ USD tiền viện trợ hàng năm, đưa Israel trở thành "nước nhận hỗ trợ nước ngoài lớn nhất của Mỹ tính theo mức tích lũy kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai".[83] Theo Vụ Khảo cứu Quốc hội (CRS), khoản viện trợ này bao gồm "toàn bộ các khoản chuyển giao tiền mặt không hoàn lại, không được chỉ định cho các dự án cụ thể và... được chuyển dưới dạng một khoản thanh toán một lần vào tháng đầu tiên của năm tài chính thay vì theo từng đợt tăng định kỳ. Israel được phép chi tiêu khoảng 1/4 số viện trợ quân sự để thu mua các mặt hàng và dịch vụ quốc phòng tại Israel (bao gồm cả nghiên cứu và phát triển) thay vì tại Hoa Kỳ."[84]

Lãnh đạo và nhân sự

Elliot Brandt đã được xướng tên làm CEO của AIPAC vào cuối năm 2024.[3] Brandt kế nhiệm Howard Kohr, người từng giữ chức vụ CEO kể từ năm 1996.[85]

Trước tháng 12 năm 2025, AIPAC không hề tiết lộ các thông tin chi tiết về ban lãnh đạo của tổ chức.[86] Vào tháng 12 năm 2025, tổ chức Dân chủ cho Thế giới Ả Rập Hiện nay (DAWN) đã công bố một dự án mang tên "Gương mặt của AIPAC". Dự án này tiết lộ danh tính 50 cá nhân đang điều hành AIPAC.[87][86] DAWN tuyên bố: "Với tư cách là một tổ chức phi lợi nhuận được miễn thuế, AIPAC phải tuân thủ các yêu cầu công khai thông tin với công chúng. Đó chính xác là lý do tại sao việc xác định danh tính những cá nhân quản lý và chỉ đạo tổ chức một cách dễ tiếp cận lại quan trọng đến vậy. Tuy nhiên, bạn không thể tìm thấy danh tính của các giám đốc cùng viên chức này ở bất kỳ đâu trên trang web của AIPAC, thậm chí ngay cả trên trang 'Giới thiệu về Chúng tôi'."[86]

Tháng 5 năm 2026, DAWN đã phát hành một báo cáo về đội ngũ nhân viên hiện tại lẫn trước đây của AIPAC. Báo cáo tiết lộ rằng nhiều cá nhân làm việc cho AIPAC cũng đồng thời làm việc cho chính phủ Israel cùng chính phủ Mỹ.[88][89]

Danh sách Chủ tịch

Các đời chủ tịch của AIPAC
Chủ tịch Khung thời gian Tiểu sử vắn tắt
Robert Asher 1962–1964 Đại lý thiết bị chiếu sáng ở Chicago
Larry Weinberg 1976–1982[90] Nhà môi giới bất động sản ở Los Angeles và cựu chủ sở hữu đội bóng Portland Trail Blazers
Edward Levy Jr. Kết thúc năm 1988[91] Giám đốc điều hành vật liệu xây dựng ở Detroit
Mayer "Bubba" Mitchell 1990–1992[92] Nhà phát triển bất động sản ở Mobile, Alabama
David Steiner Từ chức năm 1992[93] Giám đốc điều hành xây dựng và bất động sản
Steven Grossman 1992–1996[94] Giám đốc truyền thông và cựu chủ tịch Đảng Dân chủ
Melvin Dow Bắt đầu năm 1996[95] Luật sư tại Houston
Lonny Kaplan 1998–2000[96] Giám đốc điều hành bảo hiểm ở New Jersey
Tim Wuliger Kết thúc năm 2001[97] Nhà đầu tư tại Cleveland
Amy Friedkin 2002–2004[98][99] Sinh sống tại San Francisco, tham gia tích cực vào các tổ chức cơ sở của người Do Thái
Bernice Manocherian 2004–2006[99]
Howard Friedman 2006–2010[100]
Lillian Pinkus Bắt đầu năm 2016[99]
Betsy Berns Korn 2020–nay[101][102] Cựu phó chủ tịch AIPAC và cựu nhân viên của NFL

Sự ủng hộ

Tập tin:Hillary Clinton AIPAC 2016 Speaking.jpg
Hillary Clinton phát biểu tại Hội nghị Chính sách AIPAC năm 2016

Sự ủng hộ từ các thành viên quốc hội bao gồm phần lớn các thành viên của cả Đảng Dân chủĐảng Cộng hòa. Theo AIPAC, Hội nghị Chính sách thường niên của họ chỉ đứng sau bài phát biểu Thông điệp Liên bang về số lượng quan chức Liên bang tham dự tại một sự kiện có tổ chức.[103][8]:50

Quỹ Giáo dục Mỹ-Israel

Quỹ Giáo dục Mỹ-Israel
Thành lập1990
52-1623781[104]
Vị thế pháp lýTổ chức 501(c)(3)
Doanh thu (2022-23)
69.985.088 USD[104]
Chi phí (2022-23)52.203.569 USD[104]
Tài trợ56.147.336 USD[104]
Công nhân (2022)
0[104]
Tình nguyện viên (2022)
20[104]

Quỹ Giáo dục Mỹ-Israel (AIEF) là một tổ chức kết nghĩa của AIPAC.[105] Quỹ này đảm nhiệm công tác giáo dục thay vì vận động hành lang. Đây là một tổ chức giáo dục phi lợi nhuận thuộc nhóm Tổ chức 501(c)(3) chuyên tiến hành các chương trình giáo dục (bao gồm các chuyến đi giáo dục đến Israel dành cho các thành viên của Quốc hội Hoa Kỳ cùng những chính trị gia Mỹ khác).[106][107]

Các chuyến đi của AIEF dành cho thành viên Quốc hội diễn ra hai năm một lần. Điều này đưa tổ chức trở thành "đơn vị chi tiêu nhiều nhất cho hoạt động đi lại của quốc hội" trong những năm đó.[108] Vào tháng 8 năm 2019, quỹ đã tài trợ cho các chuyến đi kéo dài một tuần với sự tham gia của 72 thành viên Quốc hội: 41 đảng viên Dân chủ và 31 đảng viên Cộng hòa.[109] Họ đã đến thăm Israel cùng Bờ Tây và diện kiến Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu cùng Tổng thống Chính quyền Dân tộc Palestine Mahmoud Abbas.[110][111] Các hoạt động giáo dục khác bao gồm những buổi hội thảo thường kỳ dành cho nhân viên quốc hội.[112]

Những người chỉ trích cáo buộc rằng các chuyến đi này mang tính chất tuyên truyền thay vì giáo dục và chỉ đưa ra "một góc nhìn" từ phía Israel. Đồng thời họ cũng cho rằng chúng vi phạm các quy tắc đạo đức nghiêm cấm các nhóm vận động hành lang tặng các chuyến đi cá nhân cho thành viên Quốc hội.[105][113] Vào năm 2025, cựu Hạ nghị sĩ Matt Gaetz đã lên tiếng về "áp lực từ trên xuống" buộc các thành viên Quốc hội phải tham gia (đặc biệt là các thành viên thuộc ủy ban Đối ngoại, Quân vụ và Tình báo).[114]

Ủy ban Hành động Chính trị

Ủy ban Hành động Chính trị của Ủy ban Quan hệ Công chúng Mỹ-Israel
Thành lập2021
Số đăng kýC00797670
Vị thế pháp lýỦy ban hành động chính trị
Vị trí
  • Washington, D.C.
Thủ quỹ
Justin Phillips
Ủy ban Bầu cử Liên bang[9]

Cho đến năm 2021, AIPAC không tự mình gây quỹ cho các ứng cử viên chính trị. Các thành viên của tổ chức đã huy động tiền cho những ứng cử viên thông qua các ủy ban hành động chính trị không trực thuộc AIPAC cùng nhiều phương thức khác.[8] Vào cuối năm 2021, AIPAC đã thành lập ủy ban hành động chính trị của riêng mình. Họ cũng công bố kế hoạch cho một siêu PAC (có khả năng chi tiêu tiền thay mặt cho các ứng cử viên).[9][10][11][115] Trong một bức thư về động thái này, chủ tịch AIPAC Betsy Berns Korn viết: "Môi trường chính trị ở DC đang trải qua sự thay đổi sâu sắc. Tình trạng chia rẽ đảng phái gay gắt, tỷ lệ thay thế nghị sĩ cao cùng sự gia tăng theo cấp số nhân trong chi phí của các chiến dịch tranh cử hiện đang thống trị bối cảnh này."[115] Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Israel Younes & Soraya Nazarian tại UCLA là Dov Waxman nhận định: "Mặc dù AIPAC đã có mối quan hệ không chính thức với các PAC thân Israel trong nhiều thập kỷ, họ luôn kiềm chế việc thành lập PAC của riêng mình." Ông nói thêm: "Tôi nghĩ quyết định thành lập PAC và siêu PAC riêng của họ dựa trên nhận thức rằng việc tài trợ chiến dịch là một phương tiện quan trọng để gây ảnh hưởng chính trị tại Quốc hội, và AIPAC hiện cần công cụ này để duy trì vị thế của mình tại đây."[11]

Cựu giám đốc điều hành AIPAC Tom Dine cùng giám đốc lập pháp Douglas Bloomfield đã lên tiếng chỉ trích động thái này. Họ cho rằng nó có thể khiến tính trung lập của AIPAC bị đặt dấu hỏi.[116]

Vào tháng 3 năm 2022, PAC đã công bố đợt tán thành đầu tiên dành cho 130 ứng cử viên vào Hạ viện và Thượng viện.[117][118] Danh sách này bao gồm 37 nghị sĩ thuộc "nhóm ủng hộ bạo loạn", những người từng bỏ phiếu lật ngược kết quả bầu cử năm 2020 của Joe Biden.[119] Sự tán thành này đã vấp phải nhiều ý kiến chỉ trích từ nhiều nguồn khác nhau. Cựu đại sứ Hoa Kỳ tại Israel Daniel C. Kurtzer bày tỏ rằng thật "vô cùng đáng thất vọng khi AIPAC lại nhắm mắt làm ngơ trước những thiệt hại mà những cá nhân này đã gây ra cho nền dân chủ của chúng ta. Sự ủng hộ của họ đối với Israel không bao giờ có thể làm lu mờ những thiệt hại đó." Nhà báo chuyên mục bảo thủ thân Israel Jennifer Rubin đã gọi đây là điều "thực sự kinh hoàng".[120]

Bước đi tiến vào các chiến dịch chính trị của AIPAC diễn ra giữa bối cảnh sự ủng hộ lưỡng đảng dành cho Israel tại Mỹ đang bị xói mòn. Các cuộc thăm dò dư luận cho thấy sự chỉ trích ngày càng tăng đối với quốc gia này trong nhóm các đảng viên Dân chủ trẻ tuổi (bao gồm cả người Do Thái). Việc phá vỡ điều cấm kỵ khi tiến hành những so sánh mang tính tương quan giữa cách Israel đối xử với người Palestine và tình trạng phân biệt chủng tộc ở Nam Phi cùng với sự ủng hộ ngày càng tăng dành cho phong trào Tẩy chay, Thoái vốn và Trừng phạt (BDS) cũng đã góp phần vào xu hướng này.[56]

Hoạt động chi tiêu của United Democracy Project

UNITED DEMOCRACY PROJECT
Tên viết tắtUDP
Thành lập3 tháng 1 năm 2022; 4 năm trước (2022-01-03)
LoạiSiêu PAC
Số đăng kýC00799031
Vùng phục vụ
Hoa Kỳ
Doanh thu (Tháng 1 năm 2023 - Tháng 12 năm 2024)
87.176.557 USD

Vào tháng 5 năm 2022, các báo cáo tiết lộ rằng AIPAC đã và đang chi hàng triệu đô la (được chuyển qua United Democracy Project (UDP) – một tổ chức không hề đề cập đến việc AIPAC thành lập ra nó) nhằm đánh bại các đảng viên Dân chủ tiến bộ trong các cuộc bầu cử sơ bộ của Đảng Dân chủ. Họ đặc biệt nhắm mục tiêu vào những phụ nữ có khả năng liên minh với "The Squad" gồm các Nữ Hạ nghị sĩ Hoa Kỳ tiến bộ như Alexandria Ocasio-Cortez, Ilhan OmarRashida Tlaib.[56]

Trong chu kỳ đó, UDP đã chi 2,3 triệu USD để chống lại hạ nghị sĩ tiểu bang Summer Lee trong cuộc bầu cử sơ bộ cho khu vực bầu cử quốc hội thứ 12 của Pennsylvania. Lee từng ủng hộ việc đặt ra các điều kiện đối với viện trợ của Hoa Kỳ cho Israel và cáo buộc Israel thực hiện các hành động tàn bạo ở Gaza (so sánh hành động của quốc gia này với cách đối xử dành cho thanh niên da đen ở Hoa Kỳ).[56] UDP cũng chi 2 triệu USD trong cuộc bầu cử sơ bộ cho khu vực bầu cử quốc hội thứ 4 của Bắc Carolina nhằm hỗ trợ thượng nghị sĩ tiểu bang Valerie Foushee đối đầu với Nida Allam (người phụ nữ Mỹ gốc Hồi giáo đầu tiên giữ chức vụ dân cử ở Bắc Carolina đồng thời là giám đốc chính trị cho chiến dịch tranh cử tổng thống năm 2016 của Bernie Sanders). The Squad đã tán thành cả hai ứng cử viên.[56] UDP ước tính đã chi 280.000 USD để hỗ trợ hạ nghị sĩ đương nhiệm Shontel Brown tại khu vực bầu cử quốc hội thứ 11 của Ohio đánh bại đối thủ thách thức trong vòng sơ bộ của bà là chính trị gia tiến bộ Nina Turner.[121][122]

UDP đã chi 1,2 triệu USD để hỗ trợ hạ nghị sĩ đương nhiệm của khu vực bầu cử quốc hội thứ 28 của Texas là Henry Cuellar chống đỡ lời thách thức từ Jessica Cisneros (một luật sư nhập cư 28 tuổi được The Squad ủng hộ).[56] Sau khi Ân xá Quốc tế cùng Tổ chức Theo dõi Nhân quyền công bố một báo cáo cáo buộc Israel áp đặt chế độ phân biệt chủng tộc, Cuellar tuyên bố: "Những điểm không chính xác này kích động hành vi bài Do Thái" đồng thời lên án điều mà ông gọi là "những tác động nguy hiểm của việc vu khống bịa đặt".[56][123]

Chuyên gia kỳ cựu của AIPAC là Darius Jones đã thành lập "Quỹ Trao quyền cho Người da đen Quốc gia" (NBEAF). Quỹ này đã đóng góp tiền để đánh bại các ứng cử viên da đen ủng hộ Palestine như Jamaal Bowman[124] và Cori Bush.[125] Richard St. Paul (một thành viên thuộc Hội đồng Quốc gia của AIPAC) hiện đang lãnh đạo NBEAF. Một số tổ chức của người da đen lập luận rằng NBEAF ủng hộ Israel chứ không phải người da đen.[126]

Người phát ngôn của J Street là Logan Bayroff đã gọi AIPAC là "một tổ chức bình phong của Đảng Cộng hòa" luôn cố gắng "thuyết phục các cử tri Đảng Dân chủ xem họ nên ủng hộ ai". Ông nói thêm: "Tổ chức United Democracy Project nghe có vẻ vô hại ... nhưng lý do khiến họ liên kết với một số ứng cử viên nhất định là vì các ứng cử viên này có quan điểm diều hâu hơn đối với Israel giống họ".[56]

Vào tháng 3 năm 2024, trước các báo cáo về việc AIPAC cùng UDP lên kế hoạch chi 100 triệu USD cho các cuộc bầu cử sơ bộ của những thành viên Đảng Dân chủ tiến bộ đương nhiệm tại Hạ viện, các đối thủ đã thành lập liên minh Reject AIPAC (Từ chối AIPAC) "để bảo vệ nền dân chủ & quyền của người Palestine".[127][128] Các thành viên sáng lập bao gồm: Democratic Socialists of America (DSA), Gen-Z for Change, IfNotNow, Justice Democrats, Hội đồng Quốc gia Người Mỹ gốc Iran, Our Revolution, Đảng viên Dân chủ Tiến bộ Mỹ (PDA), RootsAction, Sunrise Movement và Đảng Gia đình Làm việc.[129][130]

Vào tháng 4 năm 2024, tờ The Guardian đưa tin rằng trước thềm cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ 2024, AIPAC đang dẫn dắt một nhóm các tổ chức thân Israel nhắm mục tiêu vào những ứng cử viên lên tiếng chỉ trích Israel (chủ yếu là đảng viên Dân chủ) và đã lên kế hoạch chi hàng chục triệu đô la.[18]

Vào năm 2026, AIPAC (thông qua UDP) đã trực tiếp chi tiêu ít nhất 5 triệu USD (cùng với việc một số nhà tài trợ cá nhân của AIPAC cung cấp thêm ít nhất 8,7 triệu USD) để tạo ảnh hưởng lên bốn cuộc bầu cử sơ bộ của Đảng Dân chủ tại Illinois diễn ra vào tháng 3. Số tiền này được rót qua các siêu PAC vỏ bọc bao gồm Elect Chicago Women, Affordable Chicago Now! và Chicago Progressive Partnership.[131][132] Trong số bốn ứng cử viên mà họ hậu thuẫn, Donna Miller cùng Melissa Bean đã giành chiến thắng trong các cuộc đua của mình, trong khi Melissa Conyears Ervin (người duy nhất trong số bốn người cũng nhận được nguồn tài trợ trực tiếp từ UDP) và Laura Fine đã thất bại. Họ đã tính toán thời điểm chi tiêu sao cho (mặc dù một số mối liên hệ giữa các PAC vỏ bọc và AIPAC đã tồn tại công khai)[132] danh tính của các nhà tài trợ (bao gồm cả nguồn tài trợ trực tiếp từ AIPAC) sẽ không phải tiết lộ cho đến khi các cuộc bầu cử kết thúc; AIPAC đã không xác nhận sự can dự của mình vào ba PAC vỏ bọc này cho đến sau khi các cuộc bầu cử ngã ngũ.[133][134]

Vào tháng trước, UDP đã chi 2 triệu USD để công kích cựu hạ nghị sĩ Tom Malinowski (người được coi là ứng cử viên hàng đầu trong cuộc bầu cử sơ bộ của Đảng Dân chủ cho cuộc bầu cử quốc hội đặc biệt ở New Jersey). Chiến dịch này diễn ra sau khi ông phản đối việc cung cấp viện trợ vô điều kiện cho Israel dù ông vẫn bày tỏ sự ủng hộ đối với Israel và từng được AIPAC tán thành trước đó. Nhà hoạt động tiến bộ Analilia Mejia (người chỉ trích Israel gay gắt hơn nhiều) đã giành được đề cử với cách biệt sít sao. Điều này dẫn đến phản ứng dữ dội nhằm vào AIPAC từ một số đảng viên Dân chủ ôn hòa hơn.[135]

Một bài báo trên tờ The New York Times vào tháng 6 năm 2026 đã đưa tin rằng UDP sở hữu một quỹ tài trợ trị giá gần 100 triệu USD cho chu kỳ bầu cử năm 2026. Bài báo đã trích lời ứng cử viên quốc hội của Đảng Dân chủ Daniel Biss khi ông cho biết các cuộc thăm dò tại khu vực của ông phát hiện ra rằng 51% cử tri Đảng Dân chủ có cái nhìn không thiện cảm về AIPAC trong khi 17% có cái nhìn thiện cảm. Sau khi UDP chi hàng triệu đô la để hậu thuẫn một trong những đối thủ của mình, Biss đã làm nổi bật vai trò của AIPAC trong cuộc đua thông qua một quảng cáo truyền hình và sau đó khẳng định chiến lược này đã giúp ông giành chiến thắng trong cuộc bầu cử sơ bộ.[136] UDP đã chi 2,9 triệu USD để hỗ trợ Adrian Boafo trở thành người đại diện cho khu vực bầu cử quốc hội thứ 5 của Maryland vào năm 2026.[137]

Tranh cãi và chỉ trích

Chỉ trích

Cựu hạ nghị sĩ Brian Baird (người từng chia sẻ rằng ông "đã ngưỡng mộ Israel từ khi còn là một đứa trẻ" nhưng dần trở nên xa lánh AIPAC) cho biết: "Khi các cuộc bỏ phiếu quan trọng diễn ra, câu hỏi trên sàn Hạ viện (thật rắc rối thay) thường không phải là 'Điều gì là đúng đắn cho Hợp chúng quốc Hoa Kỳ?' mà là 'AIPAC sẽ chấm điểm việc này như thế nào?'" Ông đã trích dẫn một nghị quyết của Hạ viện năm 2009 mà ông phản đối việc lên án báo cáo Goldstone về thương vong dân sự. "Khi chúng tôi tiến hành bỏ phiếu, tôi đã nói: 'Chúng ta có hết thành viên này đến thành viên khác bước ra sàn để bỏ phiếu cho một nghị quyết mà họ chưa từng đọc, về một báo cáo mà họ chưa từng xem, ở một nơi mà họ chưa từng đặt chân đến.'"[8] Baird lo ngại rằng các thành viên và những người ủng hộ AIPAC tin rằng họ đang "ủng hộ Israel" trong khi "thực chất họ đang hậu thuẫn cho các chính sách" (chẳng hạn như việc sát hại dân thường ở Gaza) "hoàn toàn trái ngược với những giá trị cao cả nhất của quốc gia này và rốt cuộc sẽ mang tính hủy hoại đối với đất nước".[8]

Một lời chỉ trích nhắm vào đề xuất của AIPAC về việc áp đặt các lệnh trừng phạt cứng rắn hơn đối với Iran là động cơ chính mà các nhà đàm phán P5+1 có thể trao cho Iran để ngừng chương trình hạt nhân của nước này là việc giảm bớt các lệnh trừng phạt vốn đã gây tổn hại cho nền kinh tế Iran. Bằng cách áp đặt các lệnh trừng phạt thậm chí còn khắc nghiệt hơn lên Iran, AIPAC đã lấy đi con bài thương lượng này. Theo lời một quan chức "cấp cao" trong chính quyền Obama, chính quyền đã thông báo với giới lãnh đạo AIPAC rằng các lệnh trừng phạt cứng rắn hơn của tổ chức đối với Iran "sẽ phá hỏng các cuộc đàm phán—người Iran sẽ bỏ đi khỏi bàn đàm phán". Quan chức này đã đặt câu hỏi với họ: "Tại sao các vị lại biết rõ hơn chúng tôi về những điều củng cố thế bài của chúng ta? Không một ai tham gia vào quá trình ngoại giao lại nghĩ như vậy cả."[8] Một cựu nhân viên quốc hội đã nói với nhà báo Connie Bruck rằng: "Điều đáng chú ý là thông điệp từ AIPAC vô cùng gay gắt." "Làm sao các ngài có thể không thông qua một nghị quyết chỉ đạo Tổng thống biết kết quả của các cuộc đàm phán phải là gì?"[8]:60

Tập tin:AIPAC Protest DC 2005-a.JPG
Người biểu tình tại hội nghị AIPAC ở Washington, D.C., tháng 5 năm 2005

AIPAC từng vấp phải nhiều lời chỉ trích vì không đại diện cho những người Mỹ gốc Do Thái ủng hộ Israel và chỉ hậu thuẫn cho các chính sách cùng quan điểm cánh hữu của Israel.[19] Một cuộc thăm dò do Trung tâm Pew thực hiện phát hiện ra rằng chỉ có 38% người Do Thái ở Hoa Kỳ tin rằng chính phủ Israel đang chân thành theo đuổi hòa bình và 44% tin rằng việc xây dựng các khu định cư mới gây tổn hại đến an ninh quốc gia của Israel.[138][8]:52

Trong số những tác phẩm mang tính phê phán nổi tiếng nhất về AIPAC là cuốn sách The Israel Lobby and U.S. Foreign Policy do giáo sư Đại học Chicago John Mearsheimer cùng giáo sư Harvard Kennedy School Stephen Walt chắp bút. Trong báo cáo nghiên cứu và cuốn sách xuất bản sau đó, họ cáo buộc AIPAC là thành phần "quyền lực nhất và được biết đến nhiều nhất" của một nhóm vận động hành lang thân Israel rộng lớn hơn chuyên bóp méo chính sách đối ngoại của Mỹ. Họ viết:[139]

Sự thành công [của AIPAC] bắt nguồn từ khả năng khen thưởng các nhà lập pháp và ứng cử viên quốc hội ủng hộ chương trình nghị sự của mình, đồng thời trừng phạt những ai thách thức nó. ... AIPAC đảm bảo rằng những người bạn của mình sẽ nhận được sự hỗ trợ tài chính vững chắc từ nhiều ủy ban hành động chính trị ủng hộ Israel. Bất kỳ ai bị coi là có quan điểm thù địch với Israel đều có thể chắc chắn rằng AIPAC sẽ chuyển hướng các khoản quyên góp chiến dịch cho đối thủ chính trị của họ. ... Tựu trung lại, AIPAC, một đặc vụ de facto cho một chính phủ nước ngoài, đang siết chặt vòng kim cô quanh Quốc hội, dẫn đến kết quả là chính sách của Mỹ đối với Israel không được mang ra tranh luận tại đây, mặc dù chính sách đó mang lại những hậu quả to lớn đối với toàn thế giới.

AIPAC cũng trở thành mục tiêu chỉ trích của nhiều chính trị gia nổi tiếng, bao gồm các đảng viên Dân chủ J. William Fulbright,[140] Dave Obey[141]Mike Gravel,[142] cùng các đảng viên Cộng hòa John Hostettler[143] và Thomas Massie.[144]

Hạ nghị sĩ Đảng Dân chủ Jim Moran luôn lên tiếng chỉ trích mạnh mẽ AIPAC. Ông từng gây ra tranh cãi ở tầm quốc gia vào năm 2007 và thu hút sự chỉ trích từ nhiều nhóm Do Thái sau khi ông khẳng định với tạp chí Tikkun rằng AIPAC đã "thúc đẩy [Chiến tranh Iraq] ngay từ đầu" và rằng "Tôi không nghĩ họ đại diện cho luồng tư tưởng chủ đạo của người Do Thái ở Mỹ, nhưng vì họ được tổ chức quá tốt và các thành viên của họ đặc biệt quyền lực (hầu hết đều khá giàu có) nên họ đã có thể sử dụng quyền lực của mình."[145][146] Nhà báo chuyên mục bảo thủ Jennifer Rubin đã gọi các thành viên của AIPAC là "áp đảo bởi đảng viên Dân chủ".[147]

Vào năm 2020, Hạ nghị sĩ Hoa Kỳ Betty McCollum đã cáo buộc AIPAC sử dụng phát ngôn thù hận đồng thời gọi nhóm này là một nhóm thù địch.[148][149]

Vào năm 2020, Thượng nghị sĩ Bernie Sanders cho biết AIPAC cung cấp một nền tảng cho sự cố chấp và sự phản đối quyền của người Palestine, đồng thời tuyên bố ông sẽ không tham dự hội nghị của tổ chức này.[148] Vào tháng 2 năm 2023, trên chương trình Face the Nation của đài CBS, Sanders nhận định rằng AIPAC (trước đây vốn mang tính lưỡng đảng) đã bắt đầu nỗ lực "hủy diệt" phong trào tiến bộ Mỹ.[150]

Cáo buộc đồng lõa với chủ nghĩa bài Do Thái

Những người chỉ trích đã cáo buộc AIPAC mắc phải chủ nghĩa bài Do Thái, đồng lõa với chủ nghĩa bài Do Thái hoặc giữ thái độ im lặng trước chủ nghĩa bài Do Thái từ Donald Trump và các chính trị gia cánh hữu khác.[151] Trên tờ The Nation, Eva Borgwardt đã chỉ trích AIPAC vì cáo buộc đồng lõa với chủ nghĩa bài Do Thái, viết rằng tổ chức "đã dang rộng vòng tay chào đón Trump—cùng các nhà tài trợ hàng đầu của ông—trong khi từ chối lên án những phát ngôn mang tính bài Do Thái trắng trợn của ông."[152]

Vào tháng 8 năm 2022, AIPAC đã đăng tải trên Twitter: "George Soros có một lịch sử lâu dài trong việc hậu thuẫn các nhóm chống Israel... Giờ đây ông ta đang quyên góp 1 triệu USD để giúp @jstreetdotorg hỗ trợ các ứng cử viên chống Israel và tấn công những đảng viên Dân chủ ủng hộ Israel. AIPAC nỗ lực củng cố các đảng viên Dân chủ dòng chính ủng hộ Israel. J Street & Soros đang nỗ lực phá hoại họ." Phản hồi lại động thái này, tổ chức Do Thái cánh tả IfNotNow đã lên án AIPAC vì chủ nghĩa bài Do Thái thông qua dòng tweet: "AIPAC là phe cực hữu mang tính bài Do Thái... Họ không phải là một tổ chức Do Thái, cũng không tuyên bố mình là một tổ chức như vậy."[153][154]

Các vụ tranh cãi

Cựu Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ J. William Fulbright (vào thập niên 1970) và cựu quan chức cấp cao của CIA Victor Marchetti (vào thập niên 1980) đã lập luận rằng AIPAC nên đăng ký theo Đạo luật Đăng ký Đặc vụ Nước ngoài (FARA).[140] FARA yêu cầu những cá nhân nhận tiền hoặc hành động thay mặt cho một chính phủ nước ngoài phải đăng ký làm đặc vụ nước ngoài. AIPAC khẳng định họ là một nhóm vận động hành lang đã đăng ký tại Hoa Kỳ, được tài trợ bằng các khoản quyên góp tư nhân và họ "không nhận được sự hỗ trợ tài chính" từ Israel hay bất kỳ nhóm nước ngoài nào khác.[155]

Năm 2006, Hạ nghị sĩ Hoa Kỳ Betty McCollum đã yêu cầu AIPAC gửi lời xin lỗi, khẳng định một đại diện của AIPAC đã gọi việc bà bỏ phiếu chống lại Đạo luật Chống khủng bố Palestine năm 2006 là "hỗ trợ cho những kẻ khủng bố". McCollum tuyên bố bà sẽ không cho phép các đại diện của AIPAC bước vào văn phòng của mình cho đến khi nhận được văn bản xin lỗi về bình luận này.[156] AIPAC đã phản bác lại tuyên bố của McCollum, và bản thân bà kể từ đó cũng tuyên bố sự việc đã kết thúc.[157]

Vụ từ chức của Steiner

Năm 1992, chủ tịch AIPAC David Steiner đã buộc phải từ chức sau khi một đoạn ghi âm ghi lại cảnh ông khoe khoang về sức ảnh hưởng chính trị của mình trong việc đảm bảo viện trợ cho Israel bị rò rỉ. Steiner cũng cho biết ông đã "gặp gỡ [khi đó là Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ] Jim Baker và tôi đã thỏa thuận với ông ấy. Bên cạnh 3 tỷ USD, bạn biết đấy, họ đang tìm kiếm lá phiếu của người Do Thái, và tôi sẽ nói với ông ấy bất cứ điều gì ông ấy muốn nghe [...] Ngoài 10 tỷ USD bảo lãnh khoản vay (đó là một điều tuyệt vời) cùng 3 tỷ USD tiền nước ngoài, tiền viện trợ quân sự, tôi còn nhận được gần một tỷ đô la tiền đãi ngộ khác mà mọi người thậm chí còn không biết."[158] Steiner cũng cho biết ông đang "đàm phán" với chính quyền Clinton sắp nhậm chức về việc Clinton sẽ bổ nhiệm ai làm ngoại trưởng và thư ký của Cơ quan An ninh Quốc gia. Ông nói AIPAC có "hàng chục người trong chiến dịch [của Clinton], ở trụ sở... tại Little Rock, và tất cả họ đều sẽ nhận được những công việc lớn."[158]

Nhà phát triển bất động sản ở New York Haim Katz đã chia sẻ với tờ The Washington Times rằng ông đã ghi âm lại cuộc trò chuyện vì "với tư cách là một người Do Thái, tôi quan ngại khi một nhóm nhỏ lại sở hữu quyền lực không cân xứng. Tôi nghĩ điều đó gây tổn hại cho tất cả mọi người (kể cả người Do Thái). Nếu David Steiner muốn thảo luận về sức ảnh hưởng khổng lồ và không cân xứng mà AIPAC nắm giữ, công chúng nên biết về điều đó."[159]

Các cáo buộc gián điệp

Vào tháng 4 năm 2005, AIPAC đã sa thải giám đốc chính sách Steve J. Rosen và nhà phân tích cấp cao về Iran Keith Weissman giữa bối cảnh cuộc điều tra của FBI về việc liệu họ có chuyển giao thông tin mật của Hoa Kỳ nhận được từ Lawrence Franklin cho chính phủ Israel hay không. Hai người này sau đó đã bị truy tố vì âm mưu thu thập và tiết lộ thông tin tình báo phòng thủ quốc gia được bảo mật cho Israel một cách bất hợp pháp.[160][161] AIPAC đã đồng ý thanh toán các khoản phí pháp lý cho hoạt động bào chữa của Weissman thông qua kháng cáo nếu cần thiết.[162]

Vào tháng 5 năm 2005, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ thông báo rằng Lawrence Anthony Franklin (một đại tá Lực lượng Dự bị Không quân Hoa Kỳ làm nhà phân tích của Bộ Quốc phòng tại Lầu Năm Góc trong văn phòng của Douglas Feith) đã bị FBI bắt giữ và buộc tội cung cấp thông tin phòng thủ quốc gia được bảo mật cho Israel. Bản cáo trạng hình sự gồm sáu tội danh đã chỉ đích danh AIPAC và mô tả một cuộc họp ăn trưa trong đó Franklin được cho là đã tiết lộ thông tin tối mật cho hai quan chức của tổ chức này.[163][164]

Franklin đã nhận tội tiết lộ bí mật chính phủ cho Rosen cùng Weissman và lần đầu tiên phơi bày rằng ông cũng đã trực tiếp cung cấp thông tin mật cho một quan chức chính phủ Israel ở Washington. Vào ngày 20 tháng 1 năm 2006, ông bị kết án 151 tháng (gần 13 năm) tù giam và bị phạt 10.000 USD. Như một phần của thỏa thuận nhận tội, Franklin đồng ý hợp tác trong cuộc điều tra liên bang quy mô lớn hơn. Toàn bộ các cáo buộc chống lại những cựu nhân viên của AIPAC đã bị bãi bỏ vào năm 2009.[165]

Hỗ trợ cho những người phủ nhận cuộc bầu cử năm 2020

Sau khi thành lập ủy ban hành động chính trị (PAC) đầu tiên vào tháng 3 năm 2022, AIPAC đã vấp phải nhiều chỉ trích vì hậu thuẫn chiến dịch tranh cử của 37 thành viên Đảng Cộng hòa tại Quốc hội. Đây là những cá nhân đã bỏ phiếu chống lại việc chứng nhận chiến thắng của Biden trong cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ 2020 sau sự kiện bạo loạn tại Điện Capitol Hoa Kỳ 2021.[166][167][168] Chủ tịch Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (CFR) Richard Haass đã gọi những sự ủng hộ này là "băng hoại đạo đức và thiển cận". Cựu giám đốc Liên đoàn Chống phỉ báng Abe Foxman gọi đó là một "sai lầm đáng buồn". Cựu đại sứ Hoa Kỳ tại Israel Daniel C. Kurtzer đã thúc giục AIPAC xem xét lại động thái này.[166] Halie Soifer thuộc tổ chức Hội đồng Dân chủ Do Thái Hoa Kỳ cho biết động thái này ám chỉ rằng "người ta phải thỏa hiệp việc ủng hộ nền dân chủ của Mỹ để ủng hộ Israel". Trong một bài viết quan điểm xuất bản trên tờ Haaretz, bà khẳng định điều này tạo ra "một sự phân đôi rõ ràng sai lầm bị đại đa số người Mỹ gốc Do Thái bác bỏ."[166][169]

AIPAC đã lên tiếng bảo vệ các quyết định tán thành này và khẳng định đây "không phải là lúc để phong trào thân Israel trở nên kén chọn bạn bè".[166][167][168] Trong một lời "khiển trách hiếm hoi" sau đó nhằm vào nhóm vận động hành lang từ trong nội bộ chính phủ Israel, Alon Tal (một thành viên của Knesset) đã gọi các quyết định tán thành của AIPAC là "thái quá", lưu ý rằng sự chỉ trích đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì điều mà Tal gọi là "một mối quan hệ lành mạnh giữa Israel và cộng đồng Do Thái Mỹ".[170]

Tài trợ cho các đảng viên Dân chủ thân Israel vào năm 2022

Sau khi hậu thuẫn hơn 100 thành viên Đảng Cộng hòa tại Quốc hội từng bỏ phiếu chống lại việc chứng nhận cuộc bầu cử của Biden, AIPAC đã chi 24 triệu USD thông qua PAC của mình (tức UDP) nhằm đánh bại các ứng cử viên bị coi là chưa đủ thân Israel trong các cuộc bầu cử sơ bộ của Đảng Dân chủ năm 2022. Họ đã thu hút được các khoản đóng góp đáng kể từ những nhà tài trợ tài chính cho chiến dịch tranh cử của Trump như Paul Singer, Bernie Marcus[171] và Haim Saban.[172] Nhóm đã chi 4 triệu USD để hỗ trợ Haley Stevens và đánh bại Hạ nghị sĩ Andy Levin (người từng chỉ trích sự hậu thuẫn của AIPAC đối với các chính sách cứng rắn của Israel).[171] Họ tiếp tục chi 7 triệu USD để đánh bại ứng cử viên được yêu thích trong cuộc bầu cử sơ bộ ở Maryland vào tháng 7 là Donna Edwards. Bà từng từ chối ủng hộ các nghị quyết ủng hộ Israel trong cuộc chiến tranh Gaza năm 2012.[172][171] Một số người ủng hộ AIPAC đã gọi các báo cáo về việc AIPAC chi tiền để chống lại các ứng cử viên chỉ trích chính sách của Israel là hành động "mang tính bài Do Thái".[171]

AIPAC trên phim ảnh

Bộ phim tài liệu Israel The Kings of Capitol Hill (Những vị vua của Đồi Capitol) bao gồm các cuộc phỏng vấn với những nhân vật từng và đang hoạt động tại AIPAC. Tác phẩm mô tả cách AIPAC đã chuyển dịch về phía cánh hữu chính trị và rời xa các lập trường chính trị mà hầu hết người Do Thái tại Mỹ đang nắm giữ.[173]

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ a b c Rossinow, Doug (2018). ""The Edge of the Abyss": The Origins of the Israel Lobby, 1949–1954" ["Rìa vực thẳm": Nguồn gốc của các nhóm vận động hành lang Israel, 1949–1954]. Modern American History (bằng tiếng Anh). 1 (1). Cambridge University Press (CUP): 23–43. doi:10.1017/mah.2017.17. ISSN 2515-0456. This organization's original name had been the American Zionist Committee for Public Affairs (AZCPA), and it had begun operations in 1954....The new name acknowledged ostensibly non-Zionist participants in the committee....
  2. ^ a b c d e f g h i j "Form 990: Return of Organization Exempt from Income Tax". American Israel Public Affairs Committee. ProPublica. Year ending September 30, 2024.
  3. ^ a b "AIPAC names Elliot Brandt as next CEO amid uncertain future for US-Israel relations" [AIPAC bổ nhiệm Elliot Brandt làm CEO tiếp theo giữa bối cảnh tương lai quan hệ Mỹ-Israel không chắc chắn]. The Times of Israel (bằng tiếng Anh). ngày 5 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2025. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; tên "ToI-2024-06-05" được định nghĩa nhiều lần với nội dung khác nhau
  4. ^ "AIPAC". Merriam-Webster Dictionary. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2026.
  5. ^ "What We've Accomplished" [Những thành tựu chúng tôi đã đạt được] (bằng tiếng Anh). AIPAC. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2018.
  6. ^ Bennis, Phyllis (ngày 15 tháng 7 năm 2014). "Why Opposing the Israel Lobby Is No Longer Political Suicide" [Tại sao việc chống lại các nhóm vận động hành lang cho Israel không còn là hành động tự sát chính trị]. The Nation (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2022.
  7. ^ Hussain, Murtaza (ngày 18 tháng 11 năm 2023). "Meet the Secret Donors Who Fund AIPAC's Israel Trips for Congress" [Gặp gỡ những nhà tài trợ bí mật tài trợ cho các chuyến đi đến Israel của AIPAC dành cho Quốc hội]. The Intercept (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2024.
  8. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u v w x y z Bruck, Connie (ngày 1 tháng 9 năm 2014). "Friends of Israel" [Những người bạn của Israel]. The New Yorker (bằng tiếng Anh). tr. 50–63. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2014. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; tên "bruck" được định nghĩa nhiều lần với nội dung khác nhau
  9. ^ a b c "American Israel Public Affairs Committee Political Action Committee" [Ủy ban Hành động Chính trị của Ủy ban Quan hệ Công chúng Mỹ–Israel] (bằng tiếng Anh). Federal Election Commission. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2022.
  10. ^ a b Kampeas, Ron (ngày 16 tháng 12 năm 2021). "After 70 years on the sidelines, AIPAC will now officially fundraise for politicians" [Sau 70 năm đứng ngoài lề, AIPAC giờ đây sẽ chính thức gây quỹ cho các chính trị gia]. The Times of Israel (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2022.
  11. ^ a b c Nahmias, Omri (ngày 21 tháng 12 năm 2021). "What's behind the AIPAC strategy shift?" [Điều gì ẩn sau sự thay đổi chiến lược của AIPAC?]. The Jerusalem Post (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2022.
  12. ^ Mearsheimer, John (ngày 23 tháng 3 năm 2006). "The Israel Lobby" [Nhóm vận động hành lang Israel]. The Israel Lobby and the US Foreign Policy (bằng tiếng Anh). Quyển 28 số 6. London Review of Books. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2013.
  13. ^ Terris, Ben (ngày 26 tháng 3 năm 2015). "Jeremy Ben-Ami, winning a place at the table for J Street" [Jeremy Ben-Ami, giành được một chỗ trên bàn đàm phán cho J Street]. The Washington Post (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2022.
  14. ^ Sampath, G. (ngày 4 tháng 11 năm 2023). "AIPAC | The vehicle of America's pro-Israel lobby" [AIPAC: Phương tiện của nhóm vận động hành lang thân Israel tại Mỹ]. The Hindu (bằng tiếng Anh). ISSN 0971-751X. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2026.
  15. ^ "About AIPAC" [Giới thiệu về AIPAC] (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2011.
  16. ^ "Biden Tells AIPAC Two-state Solution the 'Only Way' to Security" [Biden nói với AIPAC Giải pháp hai nhà nước là 'Cách duy nhất' để đảm bảo an ninh]. VOA News (bằng tiếng Anh). ngày 21 tháng 3 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2021.
  17. ^ Sen. Kamala Harris, Sen. Bob Menendez (ngày 28 tháng 3 năm 2017). AIPAC Policy Conference, Senators Harris and Menendez [Hội nghị Chính sách AIPAC, Thượng nghị sĩ Harris và Menendez]. C-SPAN (bằng tiếng Anh). AIPAC Policy Conference, Washington D.C. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2021.
  18. ^ a b McGreal, Chris (ngày 22 tháng 4 năm 2024). "The pro-Israel groups planning to spend millions in US elections" [Các nhóm thân Israel lên kế hoạch chi hàng triệu đô la cho bầu cử Mỹ]. The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2026.
  19. ^ a b Greenwald, Glenn (ngày 12 tháng 12 năm 2007). "New poll reveals how unrepresentative neocon Jewish groups are" [Cuộc thăm dò mới tiết lộ mức độ thiếu tính đại diện của các nhóm Do Thái tân bảo thủ]. Salon (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2017. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; tên "SAIP" được định nghĩa nhiều lần với nội dung khác nhau
  20. ^ Kornbluh, Jacob (ngày 8 tháng 4 năm 2025). "AIPAC attacks Democrats who voted to stop arms sales to Israel" [AIPAC tấn công các thành viên Đảng Dân chủ bỏ phiếu ngừng bán vũ khí cho Israel]. The Forward (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2025. But most American Jews vote for Democrats, and AIPAC has been criticized for backing the Israeli government's right-wing policies on the Israeli-Palestinian conflict and for engaging in an aggressive campaign — led by Israeli Prime Minister Benjamin Netanyahu — against the 2015 nuclear deal with Iran. AIPAC spent nearly $30 million to try to defeat the deal negotiated by former President Barack Obama, only to see the Senate approve it. The group also came under fire in recent years for featuring digital ads that defamed progressive members of Congress critical of Israel.
  21. ^ "AIPAC - AIPAC and Israel: Myths and Facts" [AIPAC - AIPAC và Israel: Những lầm tưởng và sự thật]. AIPAC (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2025.
  22. ^ "About Us" [Giới thiệu về chúng tôi]. AIPAC (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2025.
  23. ^ Nelson, Nancy Jo (1980) The Zionist Organizational Structure, Journal of Palestine Studies, 10:1, 80–93, doi:10.2307/2536485. p.84.
  24. ^ "The pro-Israel groups planning to spend millions in US elections" [Các nhóm thân Israel lên kế hoạch chi hàng triệu đô la trong cuộc bầu cử Mỹ]. The Guardian (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2024.
  25. ^ Wertheimer, Jack (1995). "Jewish Organizational Life in the United States Since 1945" [Đời sống tổ chức Do Thái tại Hoa Kỳ kể từ năm 1945]. The American Jewish Year Book (bằng tiếng Anh). 95: 3–98.
  26. ^ Berger, Matthew E. (ngày 13 tháng 9 năm 2002). "Jewish Groups Laud Bush's Words in Clearest Statement Yet on Iraq" [Các nhóm Do Thái tán dương lời lẽ của Bush trong tuyên bố rõ ràng nhất từ trước đến nay về Iraq]. Jewish Telegraphic Agency (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2024.
  27. ^ Milbank, Dana (ngày 1 tháng 4 năm 2003). "For Israel Lobby Group, War Is Topic A, Quietly" [Đối với nhóm vận động hành lang Israel, chiến tranh là chủ đề hàng đầu một cách âm thầm]. The Washington Post (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2024.
  28. ^ Frankel, Glenn (ngày 16 tháng 7 năm 2006). "A Beautiful Friendship?" [Một tình bạn đẹp?]. The Washington Post (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2024.
  29. ^ Kampeas, Ron (ngày 16 tháng 3 năm 2007). "AIPAC meeting wasn't supposed to be partisan, but" [Cuộc họp của AIPAC đáng lẽ không mang tính đảng phái, nhưng]. J. The Jewish News of Northern California (bằng tiếng Anh). Jewish Telegraphic Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2024.
  30. ^ "Guilty plea entered in Pentagon Spy Case" [Nhận tội trong vụ án điệp viên Lầu Năm Góc]. Ynetnews (bằng tiếng Anh). Associated Press. ngày 10 tháng 6 năm 2005. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2022.
  31. ^ Raider, Mark A.; Sarna, Jonathan D.; Zweig, Ronald W., biên tập (1997). Abba Hillel Silver and American Zionism [Abba Hillel Silver và Chủ nghĩa Zion tại Mỹ] (bằng tiếng Anh). London; Portland, Or: Frank Cass. ISBN 978-0-7146-4824-8.
  32. ^ a b c d e Tivnan, Edward (1988). The Lobby: Jewish political power and American foreign policy [Nhóm vận động hành lang: Quyền lực chính trị Do Thái và chính sách đối ngoại của Mỹ]. A Touchstone book (bằng tiếng Anh) . New York u.a: Simon & Schuster. tr. 38, 39. ISBN 978-0-671-50153-2.
  33. ^ "The pro-Israel groups planning to spend millions in US elections" [Các nhóm thân Israel lên kế hoạch chi hàng triệu đô la trong cuộc bầu cử Mỹ]. The Guardian (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2024.
  34. ^ a b c Rossinow, Doug (2018). ""The Edge of the Abyss": The Origins of the Israel Lobby, 1949–1954" ["Rìa vực thẳm": Nguồn gốc của các nhóm vận động hành lang Israel, 1949–1954]. Modern American History (bằng tiếng Anh). 1 (1). Cambridge University Press (CUP): 23–43. doi:10.1017/mah.2017.17. ISSN 2515-0456. This organization's original name had been the American Zionist Committee for Public Affairs (AZCPA), and it had begun operations in 1954....The new name acknowledged ostensibly non-Zionist participants in the committee....
  35. ^ Rossinow, Doug (2018). ""The Edge of the Abyss": The Origins of the Israel Lobby, 1949–1954" ["Rìa vực thẳm": Nguồn gốc của các nhóm vận động hành lang Israel, 1949–1954]. Modern American History (bằng tiếng Anh). 1 (1): 23–43. doi:10.1017/mah.2017.17. ISSN 2515-0456. In 1959, the AZCPA was renamed AIPAC, 'Israel' replacing 'Zionist.' The new name acknowledged ostensibly non-Zionist participants in the committee.... American Jews redefined Zionism to mean providing staunch and generally unquestioning support for the State of Israel, so long as the leaders of Jewish Israel maintained respect for the legitimacy and integrity of American Jewry as a Jewish community.
  36. ^ a b c Wertheimer, Jack (1995). "Jewish Organizational Life in the United States Since 1945" [Đời sống tổ chức Do Thái tại Hoa Kỳ kể từ năm 1945]. The American Jewish Year Book (bằng tiếng Anh). 95: 3–98.
  37. ^ Langer, Emily (ngày 13 tháng 2 năm 2023). "Morris Amitay, ardent advocate for Israel, dies at 86" [Morris Amitay, người ủng hộ nhiệt thành cho Israel, qua đời ở tuổi 86]. The Washington Post (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2023.
  38. ^ a b Michael Oren (2007). Power, Faith, and Fantasy: America in the Middle East 1776 to the Present (New York: W.W. Norton & Company) p. 536. "The infelicitous combination of Ford and Rabin produced the direst crisis in US-Israeli relations since Suez, with Ford pronouncing a "reassessment" of American support for the Jewish state. Rabin responded by mobilizing the American Israel Public Affairs Committee—AIPAC, the pro-Israel lobby—against the president. Though founded in 1953, AIPAC had only now in the mid-70s, achieved the financial and political clout necessary to sway congressional opinion. Confronted with opposition from both houses of Congress, Ford rescinded his 'reassessment'."
  39. ^ Lenczowski, George (1990). American Presidents and the Middle East [Các tổng thống Mỹ và Trung Đông] (bằng tiếng Anh). Duke University Press. tr. 157. ISBN 978-0-8223-0972-7.
  40. ^ a b c Stolberg, Sheryl Gay (ngày 4 tháng 3 năm 2019). "Ilhan Omar's Criticism Raises the Question: Is Aipac Too Powerful?" [Lời chỉ trích của Ilhan Omar đặt ra câu hỏi: Có phải Aipac quá quyền lực?]. The New York Times (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2019.
  41. ^ a b Halimi, Serge (ngày 1 tháng 12 năm 2025). "Is the United States' patience with Israel running out?" [Sự kiên nhẫn của Hoa Kỳ đối với Israel có đang cạn kiệt không?]. Le Monde diplomatique (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2025.
  42. ^ "Guilty plea entered in Pentagon Spy Case" [Nhận tội trong vụ án điệp viên Lầu Năm Góc]. Ynetnews (bằng tiếng Anh). Associated Press. ngày 10 tháng 6 năm 2005. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2022.
  43. ^ Lewis, Neil A.; Johnston, David (ngày 2 tháng 5 năm 2009). "U.S. to Drop Spy Case Against Pro-Israel Lobbyists" [Mỹ bãi bỏ vụ án điệp viên chống lại các nhà vận động hành lang thân Israel]. The New York Times (bằng tiếng Anh).
  44. ^ Reznik, Ethan (ngày 27 tháng 4 năm 2016). "Special Report: AIPAC Policy Conference strengthens American-Israel alliance" [Báo cáo Đặc biệt: Hội nghị Chính sách AIPAC củng cố liên minh Mỹ-Israel]. Webb Canyon Chronicle (bằng tiếng Anh). Quyển VIII. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2016.
  45. ^ Bade, Rachael; Phillips, Kristine; DeBonis, Mike; Flynn, Meagan (ngày 11 tháng 2 năm 2019). "Democratic leaders call Ilhan Omar's Israel tweets 'deeply offensive'" [Các nhà lãnh đạo Dân chủ gọi những dòng tweet về Israel của Ilhan Omar là 'xúc phạm sâu sắc']. The Washington Post (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2019.
  46. ^ a b Yglesias, Matthew (ngày 6 tháng 3 năm 2019). "The controversy over Ilhan Omar and AIPAC money, explained" [Sự tranh cãi về Ilhan Omar và tiền của AIPAC, được giải thích]. Vox (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2019.
  47. ^ Stolberg, Sheryl Gay (ngày 7 tháng 3 năm 2019). "House Votes to Condemn All Hate as Anti-Semitism Debate Overshadows Congress" [Hạ viện bỏ phiếu lên án mọi hình thức thù ghét khi cuộc tranh luận về chủ nghĩa bài Do Thái làm lu mờ Quốc hội]. The New York Times (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2019.
  48. ^ Friedman, Thomas L. (ngày 6 tháng 3 năm 2019). "Ilhan Omar, Aipac and Me" [Ilhan Omar, Aipac và Tôi]. The New York Times (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2019.
  49. ^ Starr, Michael (ngày 27 tháng 8 năm 2024). "AIPAC headquarters vandalized by anti-Israel activists" [Trụ sở AIPAC bị các nhà hoạt động chống Israel phá hoại]. Jerusalem Post (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2024.
  50. ^ Strack, Haley (ngày 7 tháng 8 năm 2024). "Anti-Israel Radicals Vandalize AIPAC Headquarters in Washington" [Những kẻ cực đoan chống Israel phá hoại Trụ sở AIPAC ở Washington]. National Review (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2024.
  51. ^ a b Al-Sheikh, Y. L. (ngày 23 tháng 10 năm 2025). "Democrats Are Getting a Brutal Lesson in How Much the Politics on Israel Have Changed" [Đảng Dân chủ đang nhận một bài học tàn khốc về mức độ thay đổi của nền chính trị đối với Israel]. The Nation (bằng tiếng Anh). ISSN 0027-8378. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2025.
  52. ^ Anderson, Brooke (ngày 4 tháng 12 năm 2025). "No more fear: 'Track AIPAC' website, a sign of rapidly changing US public positions on Palestine and Israel" [Không còn sợ hãi: trang web 'Track AIPAC', một dấu hiệu cho thấy lập trường công chúng Mỹ đối với Palestine và Israel đang thay đổi nhanh chóng]. The New Arab (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2025.
  53. ^ a b c Stolberg, Sheryl Gay (ngày 4 tháng 3 năm 2019). "Ilhan Omar's Criticism Raises the Question: Is Aipac Too Powerful?" [Lời chỉ trích của Ilhan Omar đặt ra câu hỏi: Có phải Aipac quá quyền lực?]. The New York Times (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2019.
  54. ^ a b Yglesias, Matthew (ngày 6 tháng 3 năm 2019). "The controversy over Ilhan Omar and AIPAC money, explained" [Sự tranh cãi về Ilhan Omar và tiền của AIPAC, được giải thích]. Vox (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2019.
  55. ^ a b Rosen, Armin (ngày 6 tháng 3 năm 2019). "How Influential Is AIPAC? Less Than Beer Sellers, Public Accountants, and Toyota" [AIPAC có mức độ ảnh hưởng như thế nào? Kém hơn cả những người bán bia, kế toán viên công chúng và Toyota] (bằng tiếng Anh). Tablet Magazine.
  56. ^ a b c d e f g h McGreal, Chris (ngày 17 tháng 5 năm 2022). "Pro-Israel lobbying group Aipac secretly pouring millions into defeating progressive Democrats" [Nhóm vận động hành lang thân Israel Aipac bí mật đổ hàng triệu đô la để đánh bại các đảng viên Dân chủ tiến bộ]. The Guardian (bằng tiếng Anh).
  57. ^ Zamora, Karen; Woods, Jeanette; Chang, Ailsa (ngày 7 tháng 8 năm 2024). "Why Pro-Israel PACs are helping oust Democrats in their primaries" [Tại sao các PAC ủng hộ Israel đang giúp lật đổ các đảng viên Dân chủ trong những cuộc bầu cử sơ bộ của họ]. NPR News (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2024.
  58. ^ Rosenberg, M. J. (ngày 14 tháng 2 năm 2019). "This Is How AIPAC Really Works" [Đây là cách AIPAC thực sự hoạt động]. The Nation (bằng tiếng Anh). ISSN 0027-8378. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2019.
  59. ^ The Wall Street Journal, 24 tháng 6 năm 1987, tr. 1
  60. ^ Thomas, Michael (2007). American Policy Toward Israel: The Power and Limits of Beliefs [Chính sách của Mỹ đối với Israel: Sức mạnh và những giới hạn của niềm tin] (bằng tiếng Anh). Routledge. tr. 100. ISBN 978-1-135-98345-1.
  61. ^ a b c Frankel, Glenn (ngày 16 tháng 7 năm 2006). "A Beautiful Friendship?" [Một tình bạn đẹp?]. The Washington Post (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2024.
  62. ^ Jewish Telegraphic Agency, ngày 13 tháng 1 năm 2006
  63. ^ a b Usa, Ibp (ngày 2 tháng 6 năm 2019). Jewish Lobby in the United States Handbook: Organization, Operations ... [Sổ tay về nhóm vận động hành lang Do Thái tại Hoa Kỳ: Tổ chức, Hoạt động ...] (bằng tiếng Anh). International Business Publications. tr. 26. ISBN 978-1-4387-2611-3.
  64. ^ Lãnh đạo AIPAC làm chứng về viện trợ cho Israel bài viết của Eric Fingerhut, Jewish Telegraphic Agency (JTA), ngày 27 tháng 3 năm 2009.
  65. ^ Berger, Matthew E. (ngày 13 tháng 9 năm 2002). "Jewish Groups Laud Bush's Words in Clearest Statement Yet on Iraq" [Các nhóm Do Thái tán dương lời lẽ của Bush trong tuyên bố rõ ràng nhất từ trước đến nay về Iraq]. Jewish Telegraphic Agency (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2024.
  66. ^ Judis, John B. (ngày 1 tháng 10 năm 2007). "Moran Down" [Hạ bệ Moran]. The New Republic (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2024.
  67. ^ Milbank, Dana (ngày 1 tháng 4 năm 2003). "For Israel Lobby Group, War Is Topic A, Quietly" [Đối với nhóm vận động hành lang Israel, chiến tranh là chủ đề hàng đầu một cách âm thầm]. The Washington Post (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2024.
  68. ^ Goldberg, Jeffrey (ngày 4 tháng 7 năm 2005). "Real Insiders" [Những người trong cuộc thực sự]. The New Yorker (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2024.
  69. ^ Kampeas, Ron (ngày 16 tháng 3 năm 2007). "AIPAC meeting wasn't supposed to be partisan, but" [Cuộc họp của AIPAC đáng lẽ không mang tính đảng phái, nhưng]. J. The Jewish News of Northern California (bằng tiếng Anh). Jewish Telegraphic Agency. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2024.
  70. ^ Nhóm Mỹ-Israel yêu cầu các lệnh trừng phạt "tàn khốc" lên Iran ngày 10 tháng 3 năm 2010 | AFP
  71. ^ "What We've Accomplished" [Những thành tựu chúng tôi đã đạt được] (bằng tiếng Anh). AIPAC. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2018.
  72. ^ a b Landler, Mark (ngày 3 tháng 2 năm 2014). "Potent Pro-Israel Group Finds Its Momentum Blunted" [Nhóm thân Israel quyền lực nhận thấy đà phát triển của mình bị chững lại]. The New York Times (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2014.
  73. ^ "AIPAC Clarifies Position on Iran Sanctions Bill in Letter to Supporters" [AIPAC làm rõ lập trường về dự luật trừng phạt Iran trong thư gửi những người ủng hộ]. www.algemeiner.com (bằng tiếng Anh). algemeiner.com. ngày 7 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2014.
  74. ^ "AIPAC forms new group to oppose Iran deal" [AIPAC thành lập nhóm mới để phản đối thỏa thuận hạt nhân Iran]. POLITICO (bằng tiếng Anh). ngày 20 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2026.
  75. ^ a b Chang, Ailsa (ngày 6 tháng 8 năm 2015). "Lobbyists Spending Millions To Sway The Undecided On Iran Deal" [Các nhà vận động hành lang chi hàng triệu đô la để lung lay những người chưa đưa ra quyết định về thỏa thuận hạt nhân Iran]. NPR (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2026.
  76. ^ Rosenberg, M. J. (ngày 11 tháng 9 năm 2015). "AIPAC Spent Millions of Dollars to Defeat the Iran Deal. Instead, It May Have Destroyed Itself" [AIPAC đã chi hàng triệu đô la để đánh bại thỏa thuận hạt nhân Iran. Thay vào đó, nó có thể đã tự hủy hoại chính mình.] (bằng tiếng Anh). ISSN 0027-8378. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2026.
  77. ^ Kampeas, Ron (ngày 17 tháng 3 năm 2022). "AIPAC hates the Iran deal, but it's backing 27 Democrats who supported the agreement in 2015" [AIPAC căm ghét thỏa thuận hạt nhân Iran nhưng lại đang hỗ trợ 27 đảng viên Dân chủ đã ủng hộ thỏa thuận này vào năm 2015]. Jewish Telegraphic Agency (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2026.
  78. ^ Matters, IDN-InDepthNews | Analysis That (ngày 26 tháng 3 năm 2026). "How AIPAC's Betrayal of Its Own Cause Fueled the Iran War" [Sự phản bội lý tưởng của chính mình từ AIPAC đã châm ngòi cho cuộc chiến tranh Iran như thế nào]. IDN-InDepthNews (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2026.
  79. ^ a b Heiberger, Richard (2022). "Capturing the Changing Nature of the "Jewish Enterprise"" [Ghi lại bản chất đang thay đổi của "Doanh nghiệp Do Thái"]. Contemporary Jewry (bằng tiếng Anh). 42 (3–4). Springer Nature Switzerland AG: 385–411. doi:10.1007/s12397-022-09456-9. eISSN 1876-5165. ISSN 0147-1694. S2CID 254658652.
  80. ^ Shipler, David K. (ngày 6 tháng 7 năm 1987). "On Middle East Policy, A Major Influence" [Về chính sách Trung Đông, Một tầm ảnh hưởng lớn]. The New York Times (bằng tiếng Anh).
  81. ^ "House Vote On Passage: H. Res. 867: Calling on the President and the Secretary of State to" [Hạ viện bỏ phiếu thông qua: Nghị quyết H. 867: Kêu gọi Tổng thống và Bộ trưởng Ngoại giao]. GovTrack (bằng tiếng Anh). ngày 3 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2009.
  82. ^ Kurtzman, D (ngày 11 tháng 11 năm 1998). "AIPAC listed 2nd most powerful group on Fortune list" [AIPAC được xếp hạng là nhóm quyền lực thứ 2 trên danh sách của Fortune]. Jewish News of Greater Phoenix (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2001. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2023.
  83. ^ Sharp, Jeremy M.: "U.S. Foreign Aid to Israel", Introduction, "CRS Report for Congress", Order Code RL33222
  84. ^ Migdalovitz, Carol: "Israel: Background and Relations with the United States", page 29. "CRS Report for Congress", Order Code RL33476
  85. ^ Sharon, Jeremy (ngày 9 tháng 9 năm 2018). "32. Howard Kohr" [32. Howard Kohr]. The Jerusalem Post. The Jerusalem Post's 50 Most Influential Jews of 2021 (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2022.
  86. ^ a b c "Khashoggi-founded group exposes Aipac leadership in US" [Nhóm do Khashoggi sáng lập vạch trần ban lãnh đạo Aipac tại Mỹ]. Middle East Eye (bằng tiếng Anh). ngày 18 tháng 12 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2026.
  87. ^ "The Faces of AIPAC" [Những gương mặt của AIPAC]. DAWN (bằng tiếng Anh). ngày 29 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2026.
  88. ^ "U.S.: New Data Highlights AIPAC Ties to the U.S., Israeli Governments" [Hoa Kỳ: Dữ liệu mới làm nổi bật mối liên hệ của AIPAC với chính phủ Hoa Kỳ, chính phủ Israel]. DAWN (bằng tiếng Anh). ngày 20 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2026.
  89. ^ Harb, Ali (ngày 20 tháng 5 năm 2026). "The layered PAC strategy behind pro-Israel election spending in the US" [Chiến lược PAC đa tầng đằng sau hoạt động chi tiêu bầu cử ủng hộ Israel tại Mỹ]. Al Jazeera (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2026.
  90. ^ "In Memoriam: AIPAC Trailblazer Larry Weinberg" [Tưởng nhớ: Người tiên phong của AIPAC Larry Weinberg] (Thông cáo báo chí) (bằng tiếng Anh). AIPAC.
  91. ^ Rosenberg, Howard (ngày 22 tháng 12 năm 1988). "Reported Shake-ups at Aipac Put Lobby Back in the Headlines" [Những xáo trộn được báo cáo tại Aipac đưa nhóm vận động hành lang trở lại các trang nhất]. Jewish Telegraphic Agency (bằng tiếng Anh).
  92. ^ Hoffman, Roy (ngày 27 tháng 9 năm 2007). "Mitchell 'lived the American dream'" [Mitchell 'đã sống giấc mơ Mỹ']. Alabama.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2021.
  93. ^ Mann, Cynthia (ngày 5 tháng 11 năm 1992). "Aipac President Quits After Boasting of Influence over Baker and Clinton" [Chủ tịch Aipac từ chức sau khi khoe khoang về tầm ảnh hưởng đối với Baker và Clinton]. Jewish Telegraphic Agency (bằng tiếng Anh).
  94. ^ "AIPACs Steve Grossman takes Democratic Party post" [Steve Grossman của AIPAC đảm nhận chức vụ tại Đảng Dân chủ]. jweekly (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 1 năm 1997.
  95. ^ Lewis, Neil A. (ngày 10 tháng 12 năm 1996). "Court Again Casts Doubt On Status of Israeli Lobby" [Tòa án lại một lần nữa nghi ngờ về tư cách của nhóm vận động hành lang Israel]. The New York Times (bằng tiếng Anh).
  96. ^ Orland, Max (ngày 3 tháng 6 năm 2017). "Lionel (Lonny) Kaplan" [Lionel (Lonny) Kaplan] (bằng tiếng Anh). Funeral Home Orlands Memorial Chapel Ewing New Jersey.
  97. ^ "Arafat, intifada giving AIPAC new direction" [Arafat, cuộc intifada mang đến cho AIPAC hướng đi mới]. jweekly (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 3 năm 2001.
  98. ^ "An Interview with Amy Friedkin" [Phỏng vấn Amy Friedkin] (bằng tiếng Anh). The iCenter. ngày 1 tháng 3 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 4 năm 2017.
  99. ^ a b c "AIPAC To Appoint First Woman President in Over a Decade" [AIPAC dự kiến bổ nhiệm nữ chủ tịch đầu tiên sau hơn một thập kỷ]. JTA (bằng tiếng Anh). The Forward. ngày 20 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2021.
  100. ^ "Howard E. Friedman Director Biography" [Tiểu sử Giám đốc Howard E. Friedman]. Sinclair Broadcast Group (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2021.
  101. ^ Kampeas, Ron (ngày 25 tháng 3 năm 2019). "AIPAC names 'female football fan' entrepreneur next president of lobby" [AIPAC chỉ định một nữ doanh nhân 'hâm mộ bóng bầu dục' làm chủ tịch tiếp theo của tổ chức]. The Times of Israel (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2022.
  102. ^ Tabachnick, Toby; Kampeas, Ron (ngày 4 tháng 3 năm 2020). "Question of bipartisanship dominated AIPAC Policy Conference" [Vấn đề lưỡng đảng thống trị Hội nghị Chính sách AIPAC]. Pittsburgh Jewish Chronicle (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2022. Betsy Berns Korn, the newly installed president of AIPAC, took the podium Sunday night....
  103. ^ Milbank, Dana (ngày 24 tháng 5 năm 2005). "AIPAC's Big, Bigger, Biggest Moment" [Khoảnh khắc lớn, lớn hơn, lớn nhất của AIPAC]. The Washington Post (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2016.
  104. ^ a b c d e f Form 990: Return of Organization Exempt from Income Tax". American Israel Education Foundation. ProPublica. Year ending September 30, 2023.
  105. ^ a b Abourezk, Jim (ngày 26 tháng 1 năm 2007). "The hidden cost of free congressional trips to Israel" [Cái giá tiềm ẩn của những chuyến đi miễn phí đến Israel dành cho quốc hội] (bằng tiếng Anh). csmonitor.com. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2014.
  106. ^ "AIEF Israel Seminar: Motley Rice member travels with other leaders interested in U.S.-Israel relations" [Hội thảo AIEF Israel: Thành viên Motley Rice đi cùng các nhà lãnh đạo khác quan tâm đến quan hệ Mỹ-Israel]. Motley Rice (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2020.
  107. ^ "American Israel Education Foundation" [Quỹ Giáo dục Mỹ-Israel] (bằng tiếng Anh). Charles and Lynn Schusterman Family Foundation. Bản gốc lưu trữ tháng 11 18, 2011. Truy cập tháng 11 27, 2011.
  108. ^ Becker, Amanda; Bade, Rachael (ngày 9 tháng 9 năm 2011). "Members Flock to Israel With Travel Loophole" [Các thành viên đổ xô đến Israel với lỗ hổng du lịch]. Roll Call (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2011.
  109. ^ Traiman, Alex (ngày 11 tháng 8 năm 2019). "72 representatives don't #skipthetrip, join largest-ever delegation to Israel" [72 hạ nghị sĩ không #skipthetrip, tham gia phái đoàn lớn nhất từ trước đến nay tới Israel]. JNS.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2020.
  110. ^ Keinon, Herb (ngày 8 tháng 8 năm 2011). "81 Congressmen to Visit Israel in Coming Weeks" [81 Nghị sĩ Quốc hội đến thăm Israel trong những tuần tới]. The Jerusalem Post (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2011.
  111. ^ Steinhauer, Jennifer (ngày 15 tháng 8 năm 2011). "A Recess Destination With Bipartisan Support: Israel and the West Bank" [Điểm đến trong kỳ nghỉ với sự ủng hộ của Lưỡng đảng: Israel và Bờ Tây]. The New York Times (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2011.
  112. ^ "Hill Staff" [Nhân viên Đồi Capitol] (bằng tiếng Anh). AIPAC. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2011.
  113. ^ Bowden, John (ngày 14 tháng 8 năm 2019). "Activist group files ethics complaint against AIPAC over congressional Israel trips" [Nhóm hoạt động đệ trình đơn khiếu nại đạo đức chống lại AIPAC về các chuyến đi Israel của quốc hội]. The Hill (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2020. Antiwar activist group Codepink has filed a claim with the Office of Congressional Ethics (OCE) arguing that yearly trips to Israel for freshman lawmakers hosted by the lobbying group American Israel Public Affairs Committee (AIPAC) are unconstitutional.
  114. ^ Goldsberry, Jenny (ngày 10 tháng 8 năm 2025). "Matt Gaetz claims he found AIPAC 'dude' in hotel room on congressional trip to Israel" [Matt Gaetz khẳng định ông đã tìm thấy 'gã' của AIPAC trong phòng khách sạn ở chuyến đi Israel của quốc hội]. Colorado Springs Gazette (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2025.
  115. ^ a b Shapiro, Dimitriy (ngày 19 tháng 12 năm 2021). "AIPAC joins political finance arena with launch of 2 PACs" [AIPAC tham gia vũ đài tài chính chính trị bằng việc ra mắt 2 PAC]. Israel Hayom (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2022.
  116. ^ Samuels, Ben (ngày 10 tháng 1 năm 2022). "Former AIPAC Officials Warn Against Organization's New Political Moves" [Các cựu quan chức AIPAC cảnh báo về những động thái chính trị mới của tổ chức]. Haaretz (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2022.
  117. ^ "America's Pro-Israel PAC, First Wave of Candidates, March 2022" [PAC thân Israel của Mỹ, Làn sóng Ứng cử viên đầu tiên, tháng 3 năm 2022]. AIPAC PAC (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2022.
  118. ^ "AIPAC PAC release first slate of endorsements" [AIPAC PAC công bố danh sách tán thành đầu tiên]. Jewish News Syndicate (bằng tiếng Anh). ngày 3 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2022.
  119. ^ Samuels, Ben (ngày 6 tháng 3 năm 2022). "AIPAC's Endorsement List: Dozens of Republicans Who Deny Biden's Election Win" [Danh sách tán thành của AIPAC: Hàng tá đảng viên Cộng hòa phủ nhận chiến thắng bầu cử của Biden]. Haaretz (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2022.
  120. ^ Samuels, Ben (ngày 8 tháng 3 năm 2022). "'Truly Horrifying': AIPAC Criticized for Endorsing GOP 'Election Deniers'" ['Thực sự kinh hoàng': AIPAC bị chỉ trích vì tán thành 'những người phủ nhận bầu cử' thuộc Đảng Cộng hòa]. Haaretz (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2022.
  121. ^ "Progressive Champion Nina Turner Falls to Establishment Incumbent Shontel Brown" [Nhà vô địch tiến bộ Nina Turner thất bại trước thành viên đương nhiệm thuộc phe kiến thiết Shontel Brown]. www.commondreams.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2024. [Vermont Sen. Bernie] Sanders tweeted earlier this week. "AIPAC and their billionaire friends are spending some $10 million to defeat Nina Turner, Summer Lee, Nida Allam, and Jessica Cisneros.
  122. ^ "Pro-Israel groups wade into Dem primary fights" [Các nhóm thân Israel can dự vào những cuộc đấu sơ bộ của Đảng Dân chủ]. Axios (bằng tiếng Anh). ngày 27 tháng 4 năm 2022. United Democracy Project has reported spending more than $1.4 million on ads in four House races in Pennsylvania, North Carolina and Ohio... United Democracy Project is spending against former Bernie Sanders campaign leader Nina Turner in her rematch against Rep. Shontel Brown (D-Ohio).
  123. ^ Klein, Zivka (ngày 6 tháng 6 năm 2022). ""Calling Israel 'apartheid' is plain antisemitic" - VP of European Parliament" ["Gọi Israel là 'apartheid' rõ ràng mang tính bài Do Thái" - Phó Chủ tịch Nghị viện châu Âu]. The Jerusalem Post (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2024.
  124. ^ "Jamaal Bowman finds himself in the crosshairs of a Black voter group" [Jamaal Bowman nhận ra mình nằm trong tầm ngắm của một nhóm cử tri da đen] (bằng tiếng Anh). POLITICO.
  125. ^ Cheeseman, Abbie; Sotomayor, Marianna (ngày 5 tháng 8 năm 2024). "Pro-Israel interests pour millions into defeating a second 'Squad' member" [Các lợi ích thân Israel rót hàng triệu đô la để đánh bại thành viên 'Squad' thứ hai]. Washington Post (bằng tiếng Anh).
  126. ^ Jones, Damon (ngày 4 tháng 6 năm 2024). "WBPC responds to NBEAF: 'You can't speak for Black people in CD 16 when you have done No Work for Black people in CD16" [WBPC phản hồi NBEAF: 'Bạn không thể lên tiếng cho người da đen ở CD 16 khi bạn chưa từng làm việc gì cho người da đen ở CD16']. Black Westchester (bằng tiếng Anh).
  127. ^ Herman, Alice (ngày 11 tháng 3 năm 2024). "Progressive campaign launched to counter Aipac's influence in US politics" [Chiến dịch tiến bộ được phát động để chống lại tầm ảnh hưởng của Aipac trong nền chính trị Mỹ]. The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2024.
  128. ^ Dayen, David (ngày 11 tháng 3 năm 2024). "Progressive Groups Form Counterweight to AIPAC's Electoral Push" [Các nhóm tiến bộ tạo thành đối trọng đối với sức ép bầu cử của AIPAC]. The American Prospect (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2024.
  129. ^ Harb, Ali. "'Reject AIPAC': US progressives join forces against pro-Israel lobby group" ['Từ chối AIPAC': Phe tiến bộ Mỹ hợp lực chống lại nhóm vận động hành lang thân Israel]. Al Jazeera (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2024.
  130. ^ "Groups Form 'Reject AIPAC' Coalition to Fight Israel Lobby's Attacks on Progressives" [Các nhóm thành lập Liên minh 'Từ chối AIPAC' để chống lại các cuộc tấn công của nhóm vận động hành lang Israel nhằm vào phe tiến bộ]. www.commondreams.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2024.
  131. ^ "AIPAC makes a $22M gamble in Illinois" [AIPAC đặt cược 22 triệu USD ở Illinois]. Politico (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 3 năm 2026. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2026.
  132. ^ a b Gedeon, Joseph (ngày 16 tháng 3 năm 2026). "Aipac: toxicity of pro-Israel Super Pac's money to be tested in US primaries" [Aipac: sự độc hại từ tiền của Siêu Pac thân Israel sẽ được kiểm chứng trong các cuộc bầu cử sơ bộ ở Mỹ]. The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2026.
  133. ^ "Super PAC spending passes $200M, with some groups hiding their cause" [Chi tiêu của siêu PAC vượt mốc 200 triệu USD, một số nhóm che giấu mục đích của họ]. The Washington Post (bằng tiếng Anh). ngày 21 tháng 3 năm 2026. ISSN 0190-8286. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2026.
  134. ^ Harrison, Alex (ngày 21 tháng 3 năm 2026). "Filings confirm AIPAC funded millions in outside spending on congressional primary" [Các tài liệu xác nhận AIPAC tài trợ hàng triệu đô la cho chi tiêu bên ngoài vào cuộc bầu cử sơ bộ quốc hội]. Evanston RoundTable (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2026.
  135. ^ "'It's pissing people off': Centrist Democrats are livid with AIPAC after primary fiasco" ['Nó đang làm mọi người nổi giận': Các đảng viên Dân chủ ôn hòa tức giận với AIPAC sau thất bại ở cuộc bầu cử sơ bộ]. POLITICO (bằng tiếng Anh). ngày 6 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2026.
  136. ^ "AIPAC Wants Democrats to Back Israel. Instead, They're Turning on AIPAC" [AIPAC muốn Đảng Dân chủ ủng hộ Israel. Thay vào đó, họ đang quay lưng lại với AIPAC.]. The New York Times (bằng tiếng Anh). ngày 12 tháng 6 năm 2026. ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2026.
  137. ^ McIntire, Mary Ellen (ngày 16 tháng 6 năm 2026). "Maryland Democrats slam crypto, AIPAC-linked spending in race for Hoyer's seat" [Các đảng viên Dân chủ ở Maryland chỉ trích chi tiêu liên quan đến tiền điện tử, AIPAC trong cuộc đua giành ghế của Hoyer]. Roll Call (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2026.
  138. ^ "A PORTRAIT OF JEWISH AMERICANS Chapter 5: Connection With and Attitudes Toward Israel" [BỨC CHÂN DUNG NGƯỜI MỸ GỐC DO THÁI Chương 5: Mối liên hệ và Thái độ đối với Israel]. Pew Research, Religion and Public Life Project (bằng tiếng Anh). Pew. ngày 1 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2014.
  139. ^ Mearsheimer, John; Walt, Stephen (ngày 23 tháng 3 năm 2006). "The Israel Lobby" [Thế lực vận động hành lang Israel]. London Review of Books (bằng tiếng Anh). Quyển 28 số 6. ISSN 0260-9592. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2022.
  140. ^ a b Ori Nir, Leaders Fear Probe Will Force Pro-Israel Lobby To File as 'Foreign Agent' Lưu trữ ngày 27 tháng 1 năm 2012 tại Wayback Machine, The Forward, December 31, 2004.
  141. ^ Edsall, Thomas B.; Moore, Molly (ngày 5 tháng 9 năm 2004). "Pro-Israel Lobby Has Strong Voice" [Nhóm vận động hành lang thân Israel có tiếng nói mạnh mẽ]. The Washington Post (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2008.
  142. ^ "Gravel Discusses Campaign Funding, Relations with Iran" [Gravel thảo luận về Tài trợ chiến dịch, Quan hệ với Iran]. The NewsHour with Jim Lehrer (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 10 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2017.
  143. ^ Marans, Daniel (ngày 6 tháng 5 năm 2024). "Why Pro-Israel Groups Are Targeting An Indiana Republican" [Tại sao các Nhóm thân Israel lại nhắm mục tiêu vào một đảng viên Cộng hòa ở Indiana]. Huffington Post (bằng tiếng Anh).
  144. ^ Magid, Jacob (ngày 28 tháng 9 năm 2021). "GOP Rep. lashes AIPAC for 'foreign interference' after Iron Dome vote attack ad" [Hạ nghị sĩ Đảng Cộng hòa đả kích AIPAC vì 'sự can thiệp của nước ngoài' sau quảng cáo công kích về cuộc bỏ phiếu Vòm Sắt]. Times of Israel (bằng tiếng Anh).
  145. ^ Hearn, Josephine (ngày 19 tháng 9 năm 2007). "Dems slam Moran's tying AIPAC to Iraq war" [Đảng viên Dân chủ chỉ trích gay gắt việc Moran gắn kết AIPAC với chiến tranh Iraq]. Politico (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2010.
  146. ^ Gardner, Amy (ngày 15 tháng 9 năm 2007). "Moran Upsets Jewish Groups Again" [Moran Lại Làm Mất Lòng Các Nhóm Do Thái]. The Washington Post (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2010.
  147. ^ Rubin, Jennifer (ngày 15 tháng 6 năm 2011). "AIPAC weighs in: All is not well with the U.S. approach to Israel" [AIPAC lên tiếng: Mọi chuyện không ổn với cách tiếp cận của Hoa Kỳ đối với Israel]. The Washington Post (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2013.
  148. ^ a b Siddiqui, Usaid (ngày 24 tháng 2 năm 2020). "Sanders accuses pro-Israel group of giving platform to 'bigotry'" [Sanders cáo buộc nhóm thân Israel tạo nền tảng cho 'sự cố chấp']. Al Jazeera (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2022.
  149. ^ "McCollum Statement: Hate Speech Makes AIPAC a Hate Group" [Tuyên bố của McCollum: Phát ngôn Thù hận Khiến AIPAC trở thành một Nhóm Thù địch]. Congresswoman Betty McCollum (bằng tiếng Anh). ngày 12 tháng 2 năm 2020.
  150. ^ Sanders, Bernie, phỏng vấn bởi Margaret Brennan, ngày 19 tháng 2 năm 2023, Face the Nation, CBS, truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2023
  151. ^ Friedman, Gabe; Kampeas, Ron (ngày 25 tháng 10 năm 2022). "AIPAC, GOP silent on Trump warning US Jews to 'get their act together' on Israel" [AIPAC, Đảng Cộng hòa im lặng trước lời cảnh báo của Trump yêu cầu người Do Thái ở Mỹ 'hãy chấn chỉnh lại' về Israel]. The Times of Israel (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2025.
  152. ^ Borgwardt, Eva (ngày 1 tháng 11 năm 2024). "Let's Call the ADL What It Is: an Ally of Fascists" [Hãy Gọi ADL Bằng Đúng Bản Chất Của Nó: Một Đồng Minh Của Những Kẻ Phát Xít]. The Nation (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2025.
  153. ^ Tamkin, Emily (ngày 29 tháng 8 năm 2022). "AIPAC accused George Soros of undermining American politics. Is that antisemitic?" [AIPAC cáo buộc George Soros phá hoại nền chính trị Mỹ. Điều đó có mang tính bài Do Thái không?] (bằng tiếng Anh). The Forward. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2023.
  154. ^ Starr, Michael (ngày 26 tháng 8 năm 2022). "In ridiculous claim, left-wing Jewish group calls AIPAC 'antisemitic'" [Trong một tuyên bố nực cười, nhóm Do Thái cánh tả gọi AIPAC là 'bài Do Thái'] (bằng tiếng Anh). The Jerusalem Post. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2023.
  155. ^ "What is AIPAC? A Voice for the U.S.-Israel Relationship" [AIPAC là gì? Tiếng nói cho Mối quan hệ Mỹ-Israel] (bằng tiếng Anh). aipac.org. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2008.
  156. ^ McCollum, Betty (ngày 8 tháng 6 năm 2006). "A Letter to AIPAC" [Một bức thư gửi AIPAC]. New York Review of Books (bằng tiếng Anh). Quyển 53 số 10. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2008.
  157. ^ Forward Staff (ngày 26 tháng 5 năm 2006). "Lawmaker, Aipac Feud After Fight Over Hamas Bill" [Nhà lập pháp, Aipac thù hằn sau cuộc chiến về dự luật Hamas] (bằng tiếng Anh). The Jewish Daily Forward. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2008.
  158. ^ a b "The Complete Unexpurgated AIPAC Tape" [Cuộn băng AIPAC hoàn chỉnh chưa bị kiểm duyệt] (bằng tiếng Anh). WRMEA. ngày 24 tháng 11 năm 2009.
  159. ^ AIPAC President Resigns (Chủ tịch AIPAC từ chức), Sheldon L. Richman, tháng 12/tháng 1 năm 1992/93, trang 69.
  160. ^ "2 Senior AIPAC Employees Ousted" (2 Nhân viên Cấp cao của AIPAC Bị Sa thải), The Washington Post, ngày 21 tháng 4 năm 2005
  161. ^ Ticker, Bruce. AIPAC Charges Offer Opportunity (Các Cáo buộc AIPAC Mang đến Cơ hội), Philadelphia Jewish Voice, tháng 9 năm 2005. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2006.
  162. ^ "U.S. to drop Israel lobbyist spy case." [Mỹ bãi bỏ vụ án điệp viên vận động hành lang cho Israel..]. Daily Kos (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2024.
  163. ^ Rozen, Laura và Vest, Jason. Cloak and Swagger Lưu trữ ngày 15 tháng 4 năm 2007 tại Wayback Machine, The American Prospect, ngày 2 tháng 11 năm 2004. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2006.
  164. ^ "United States District Court for the Eastern District of Virginia, Alexandria Division, U.S. v. Lawrence Anthony Franklin",
  165. ^ "U.S. to drop Israel lobbyist spy case" [Mỹ bãi bỏ vụ án điệp viên vận động hành lang cho Israel]. Reuters (bằng tiếng Anh). tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2024.
  166. ^ a b c d McGreal, Chris (ngày 23 tháng 3 năm 2022). "'Morally bankrupt': outrage after pro-Israel group backs insurrectionist Republicans" ['Băng hoại đạo đức': phẫn nộ sau khi nhóm thân Israel hậu thuẫn các đảng viên Cộng hòa nổi loạn]. The Guardian (bằng tiếng Anh).
  167. ^ a b Kampeas, Ron (ngày 19 tháng 3 năm 2022). "AIPAC defends its endorsees, including those who questioned Biden's election" [AIPAC bảo vệ những người được họ tán thành, bao gồm cả những người đặt câu hỏi về cuộc bầu cử của Biden] (bằng tiếng Anh). The Jerusalem Post.
  168. ^ a b Magid, Jacob (ngày 18 tháng 3 năm 2022). "AIPAC defends endorsement of Republicans who questioned 2020 election" [AIPAC bảo vệ sự tán thành dành cho các đảng viên Cộng hòa đặt câu hỏi về cuộc bầu cử năm 2020]. The Times of Israel (bằng tiếng Anh).
  169. ^ Soifer, Halie (ngày 13 tháng 3 năm 2022). "AIPAC's Latest 'pro-Israel' Political Stunt Endangers America" [Trò lố chính trị 'thân Israel' mới nhất của AIPAC gây nguy hiểm cho nước Mỹ]. Haaretz (bằng tiếng Anh).
  170. ^ Judah Ari Gross (ngày 28 tháng 3 năm 2022). "In rare rebuke, MK pans AIPAC endorsement of Republicans who disputed 2020 election" [Trong một lời khiển trách hiếm hoi, Thành viên Knesset chỉ trích gay gắt sự tán thành của AIPAC dành cho các đảng viên Cộng hòa tranh cãi về cuộc bầu cử năm 2020]. The Times of Israel (bằng tiếng Anh).
  171. ^ a b c d McGreal, Chris (ngày 4 tháng 8 năm 2022). "Pro-Israel groups denounced after pouring funds into primary race" [Các nhóm thân Israel bị lên án sau khi rót tiền vào cuộc đua sơ bộ]. The Guardian (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2022.
  172. ^ a b McGreal, Chris (ngày 23 tháng 3 năm 2022). "'Morally bankrupt': outrage after pro-Israel group backs insurrectionist Republicans" ['Băng hoại đạo đức': phẫn nộ sau khi nhóm thân Israel hậu thuẫn các đảng viên Cộng hòa nổi loạn]. The Guardian (bằng tiếng Anh).
  173. ^ Hoffman, Jordan (ngày 7 tháng 9 năm 2020). "New Israeli film projects AIPAC's steady drift from idealistic bipartisan roots" [Bộ phim mới của Israel phản ánh sự trôi dạt vững chắc của AIPAC khỏi cội rễ lưỡng đảng lý tưởng]. The Times of Israel (bằng tiếng Anh).

Đọc thêm

Liên kết ngoài

Lỗi Lua trong Mô_đun:Authority_control tại dòng 152: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).