Ý Túc Quý phi
Ý Túc Quý phi Vương thị (chữ Hán: 意肃贵妃王氏; ? – 1117), cũng được gọi là Vương Quý phi (王贵妃). Là một phi tần của Tống Huy Tông Triệu Cát trong lịch sử Trung Quốc.
| Ý Túc Quý phi 意肃贵妃 | |||||
|---|---|---|---|---|---|
| Tống Huy Tông Quý phi | |||||
| Quý phi Đại Tống | |||||
| Tại vị | 2 tháng 3 năm 1115 – Tháng 9 năm 1117 | ||||
| Thông tin chung | |||||
| Mất | Tháng 9 năm 1117 | ||||
| Phối ngẫu | Tống Huy Tông Triệu Cát | ||||
| Hậu duệ | Sân vương Triệu Thực Ôn Quốc công Triệu Cơ Huệ Thục Đế cơ Triệu thị Khang Thục Đế cơ Triệu thị Thuận Đức Đế cơ Triệu Anh Lạc Nhu Phúc Đế cơ Triệu Hoàn Hoàn Hiền Phúc Đế cơ Triệu Kim Nhân | ||||
| |||||
| Tước hiệu | Bình Xương Quận quân (平昌郡君) Tài nhân (才人) Mỹ nhân (美人) Tiệp dư (婕妤) Tu dung (修容) Uyển Dung (婉容) Hiền phi (贤妃) Đức phi (德妃) Thục phi (淑妃) Quý phi (贵妃) | ||||
| Hoàng tộc | Nhà Tống | ||||
| Thân phụ | Vương Công[1] | ||||
Tiểu sử
Ghi chép thiếu sót
Ý Túc Quý phi Vương thị (王氏), sử sách không có ghi chép về ngày tháng năm sinh, gia thế cũng như cha mẹ của Vương thị. Theo ghi chép trong Tống sử phần Hậu phi truyện, Hiển Túc Hoàng hậu Trịnh thị và Vương Quý phi thời trẻ đều là thị nữ của Hướng Thái hậu là đích mẫu của Tống Huy Tông. Khi Tống Huy Tông còn là Đoan vương, mỗi ngày đến chầu đích mẫu, Hướng Thái hậu đều sai hai người Trịnh thị và Vương thị hầu hạ.[2]
Năm Nguyên Phù thứ 3 (1100), Tống Huy Tông lên ngôi, Hướng Thái hậu đem hai người ban cho Huy Tông. Tống sử phần Hậu phi truyện lại chép rằng Vương Quý phi sinh ra Vận vương Triệu Khải, Sân vương Triệu Thực cùng các con khác. Ghi chép ở đoạn này đã nhầm lẫn bà với một Vương Quý phi khác (người sinh ra Vận Vương Triệu Khải). Do đó, người từng cùng Trịnh thị làm thị nữ là bà hay là Vương Quý phi kia thì vẫn chưa thể khẳng định chắc chắn.
Nhập cung
Tháng 9 năm Sùng Ninh thứ 3 (1104), Vương thị được phong làm Bình Xương Quận quân (平昌郡君), tháng 2 nhuận năm Sùng Ninh thứ 4 (1105), bà được tấn phong làm Tài nhân (才人). Ngày 28 tháng 2 nhuận, bà sinh Huệ Thục Đế cơ. Tháng 3 cùng năm, Vương Tài nhân tiến phong làm Mỹ nhân (美人), rồi trong tháng đó tiếp tục tiến phong làm Tiệp dư (婕妤).[3]
Tháng 8 năm Sùng Ninh thứ 5 (1106), Vương Tiệp dư được tấn phong làm Tu dung (修容), cùng năm hạ sinh Khang Thục Đế cơ. Năm Đại Quán thứ 2 (1108), Vương Tu dung được tấn phong làm Uyển Dung (婉容). Tháng 6 cùng năm, Vương Uyển dung sinh hạ Hoàng tử thứ 12 là Triệu Thực, tháng 7 lại tấn phong làm Hiền phi (贤妃).
Cuối đời
Ngày 4 tháng 1 năm Chính Hòa thứ 1 (1111), Vương Hiền phi tấn phong làm Đức phi (德妃).[4] Ngày 13 tháng 2 năm Chính Hòa thứ 2 (1114), Vương Đức phi được đặc cách tiến phong làm Thục phi (淑妃),[5] tháng 2 năm Chính Hòa thứ 4 (1115), Vương Thục phi sinh hạ Hoàng tử thứ 22 là Triệu Cơ. Ngày 2 tháng 3, Vương Thục phi tấn phong làm Quý phi (贵妃).[6] Tháng 9 năm Chính Hòa thứ 7 (1117), Vương Quý phi qua đời, được truy thuỵ là Ý Túc Quý phi (意肃贵妃).[2][3]
Chiếu văn tấn phong
Chiếu văn tấn phong Đức phi
Chiếu văn viết:
| “ | (Nguyên văn tiếng Trung)
门下。朕祇若诒谋,聿脩内治。厘尔女士,欲归厚于人伦;宜其室家,用始基于王化。眷惟硕媛,久集丛厘。继生嗣贤,来侈昌绪。盖举褒隆之典,诞彰蕃衍之休。敷告大廷,以扬显册。 贤妃王氏,柔明淑慎,端懿诚庄。遵图史以懋躬,谨佩环而率履。簟莞考室,已符穜稑之祥;弓韣祠禖,嗣启熊罴之兆。迺涓嘉旦,茂进宠名。焕褕翟以增华,炳轩龙而动色。载崇礼命,兼腆情文。匪出朕私,实由邦庆。惟谦恭所以自牧,警戒所以相成。往服训言,永绥寿祉。可。 (Phiên âm Hán Việt) Môn hạ. Trẫm kỳ nhược đãi mưu, duật tu nội trị. Li nhĩ nữ sĩ, dục quy hậu vu nhân lun; nghi kỳ thất gia, dụng thủy cơ vu vương hóa. Quyến duy thạc viện, cửu tập tùng ly. Kế sinh tự hiền, lai xỉ xương tự. Cái cử bao long chi điển, đản chương phồn diễn chi hưu. Phu cáo đại đình, dĩ dương hiển sách. Hiền phi Vương thị, nhu minh thục thận, đoan ý thành trang. Tuân đồ sử dĩ mậu cung, cẩn bội hoàn nhi suất lý. Điệm hoàn khảo thất, dĩ phù chủng lục chi tường; cung độc từ môi, tự khải hùng bi chi triệu. Nãi quyên gia đán, mậu tiến sủng danh. Hoán dao địch dĩ tăng hoa, bỉnh hiên long nhi động sắc. Tái sùng lễ mệnh, kiêm điển tình văn. Phỉ xuất trẫm tư, thực do bang khánh. Duy khiêm cung sở dĩ tự mục, cảnh giới sở dĩ tương thành. Vãng phục huấn ngôn, vĩnh tuy thọ chỉ. Khả. (Giải nghĩa) Môn Hạ [Sảnh]. Trẫm kính theo mưu đồ tốt đẹp do người trước truyền lại, lo việc chỉnh đốn phép trị nơi hậu cung. Sắp xếp chu toàn cho các nữ sĩ, là muốn đưa đạo đức nhân luân trở nên thuần hậu; làm cho nhà cửa êm ấm hòa thuận, ấy là nền tảng khởi đầu cho sự giáo hóa của vương triều. Đoái tưởng tới bậc nữ tử tài đức hiền vinh, đã lâu tích tụ muôn vàn điều phúc lành. Tiếp tục sinh hạ người nối dõi hiền tài, đến để làm rộng mở thêm dòng dõi thịnh vượng. Cho nên cử hành điển lễ khen thưởng tôn sùng, làm sáng tỏ thêm cái phúc con cháu đông đúc dồi dào. Ban bố khắp triều đình lớn, để làm rạng rỡ sách phong cao quý. Hiền phi Vương thị, dịu dàng sáng suốt, thục nhã cẩn trọng, đoan trang tốt đẹp, chân thành uy nghi. Vâng theo sách vở sử thư để tu dưỡng bản thân, giữ gìn ngọc bội ngọc hoàn mà đúng mực trong hành vi cử chỉ. Nơi chiếu trải phòng buồng, đã ứng hợp với điềm lành gặt hái bội thu; nơi cúng tế thần Cầu Tự, đã tiếp nối mở ra điềm báo sinh được con trai. Nay chọn ngày lành tháng tốt, tiến thăng danh xưng sủng ái lớn lao. Làm rực rỡ thêm lễ phục Dao Địch để tăng phần lộng lẫy, làm sáng rỡ xe rồng mà đổi sắc vẻ uy nghiêm. Bày ra lễ mệnh tôn kính, vẹn toàn cả tình cảm lẫn văn cống. Việc này không phải xuất phát từ sự thiên vị riêng của Trẫm, mà thực sự xuất phát từ niềm vui chung của đất nước. Hãy lấy sự khiêm cung làm phương chước tự tu dưỡng bản thân, lấy sự cẩn trọng cảnh giác làm điều giúp nhau hoàn thiện. Hãy đi và vâng theo những lời huấn thị này, mãi mãi hưởng bình an và phúc thọ. Đồng ý ban hành. |
” |
| — Chiếu văn tấn phong Hiền phi Vương thị làm Đức phi | ||
Chiếu văn tấn phong Thục phi
Chiếu văn viết:
| “ | (Nguyên văn tiếng Trung)
门下。隆化基而正始,必资内德之求;弼阴教以齐家,莫重列妃之选。若时硕媛,克茂徽声。备宣夙夜之勤,兹袭簟莞之庆。肆畴厥位,敷告在廷。 德妃王氏,温惠柔嘉,齐庄静一。昔钟英于甲族,蚤登御于宸闱。率礼称诗,匪俟箴图之训;进规退矩,靡愆环佩之音。绥燕御以宅躬,集善祥而锡类。禖祠应祝,以诞降于天材;星婺储辉,式载生于帝子。协邦彝而懋宠,昭阃则以升华。荣跻懿淑之崇,秩峻公台之右。腾芳褕翟,增耀轩龙。 于戏。警戒相成,有鸡鸣之陈古;寤寐思服,乐关雎之进贤。迪惟令猷,岂愧前躅。钦予时命,其尔之休。可。 (Phiên âm Hán Việt) Môn hạ. Long hóa cơ nhi chính thủy, tất tư nội đức chi cầu; bật âm giáo dĩ tề gia, mạc trọng liệt phi chi tuyển. Nhược thời thạc viện, khắc mậu huy thanh. Bị tuyên túc dạ chi cần, tư tập điệm hoàn chi khánh. Tứ trù quyết vị, phu cáo tại đình. Đức phi Vương thị, ôn huệ nhu gia, tề trang tĩnh nhất. Tích chung anh vu giáp tộc, tảo đăng ngự vu thần vi. Suất lễ xưng thi, phỉ sĩ châm đồ chi huấn; tiến quy thoái củ, mị khiên hoàn bội chi âm. Tuy yến ngự dĩ trạch cung, tập thiện tường nhi tích loại. Môi từ ứng chúc, dĩ đản giáng vu thiên tài; tinh vụ trứ huy, thức tái sinh vu đế tử. Hiệp bang di nhi mậu sủng, chiêu khổn tắc dĩ thăng hoa. Vinh tế ý thục chi sùng, trật tuấn công đài chi hữu. Thằng phương dao dịch, tăng diệu hiên long. Ô hý. Cảnh giới tương thành, hữu kê minh chi trần cổ; ngộ mị tư phục, lạc quan thư chi tiến hiền. Địch duy lệnh du, khởi quý tiền trục. Khâm dư thời mệnh, kỳ nhĩ chi hưu. Khả. (Giải nghĩa) Môn Hạ [Sảnh]. Hưng thịnh nền tảng giáo hóa và chỉnh đốn sự khởi đầu, tất phải dựa vào việc tìm kiếm đức hạnh nơi hậu cung; giúp sức giáo hóa chốn khuê khuê để yên ổn gia đình, không gì quan trọng bằng việc tuyển lựa các hàng Phi. Như vị nữ tử tài đức kia, đã làm nẩy nở thêm tiếng tốt lừng lẫy. Bày tỏ hết sự siêng năng từ sớm đến tối, nay tiếp nối nhận lấy niềm vui nơi chăn chiếu hậu cung. Cho nên thăng thưởng phẩm vị ấy, ban bố rộng rãi khắp triều đình. Đức phi Vương thị, ôn hòa nhân huệ, dịu dàng tốt đẹp, trang nghiêm tề chỉnh, thanh tĩnh một lòng. Xưa kia gom tụ khí tinh anh của chốn thế gia danh tộc, sớm được tuyển đưa vào chốn cung đình. Theo đúng lễ nghi, hay như lời ca trong Kinh Thi, chẳng cần đợi đến lời răn dạy từ tranh vẽ sách vở; tiến lùi đúng quy củ, tiếng ngọc bội va chạm không chút lỗi lầm. Giữ lòng hòa hợp nơi chốn nghỉ ngơi của vua để an thân, tích tụ điềm lành mà lan tỏa cho muôn người. Tế lễ thần Cầu Tự đã ứng nghiệm lời cầu chúc, để sinh hạ người có thiên tài; sao Vụ chiếu sáng rực rỡ, là biểu hiện sinh ra hoàng tử cho vua. Phù hợp với pháp độ quốc gia mà nhận được sủng ái lớn lao, làm rạng rỡ phép tắc chốn hậu cung mà thăng tiến vị thế. Vinh hiển bước lên địa vị cao quý tốt đẹp (Thục phi), phẩm trật vượt trên cả hàng Tam công Tể phó. Làm nức hương thơm cho lễ phục Dao Địch, tăng thêm vẻ rực rỡ cho xe rồng. Than ôi! Cùng nhắc nhở cảnh giác lẫn nhau để hoàn thiện, như thơ Kê Minh thời xưa đã kể; trằn trọc thao thức đêm ngày, vui vẻ tiến cử người hiền như ý thơ Quan Thư. Hãy noi theo đạo lý tốt đẹp ấy, há lại thẹn thùng với bước chân người trước. Hãy kính nhận mệnh lệnh này của Trẫm, ấy là niềm hạnh phúc của ngươi. Đồng ý ban hành. |
” |
| — Chiếu văn tấn phong Đức phi Vương thị làm Thục phi | ||
Chiếu văn tấn phong Quý phi
Chiếu văn viết:
| “ | (Nguyên văn tiếng Trung)
门下。佑民而作之君,齐家以治其国。观天极四星之象,实亚轩辉;考王宫六寝之名,盖参坤厚。时惟邦媛,夙备妇官,申锡赞书之华,载褒彤管之炜。肆涓谷旦,敷告路朝。 淑妃王氏,性质惠明,德容婉嫕,柔嘉维则,淑慎其身。履顺体和,居阅图书之戒,发祥降嘏,屡陪弓韣之祠。秩已视于三公,教素行于九御。谦以自牧,贵而不骄。兹符莞簟之占,益广本支之庆。冠列妃而进位,贰中壸以开荣。旧典有稽,师言惟穆。 于戏。既受帝祉,叶螽斯多子之诗;以承天休,膺褕翟成章之礼。益思誉庆,仰称龙光。可。 (Phiên âm Hán Việt) Môn hạ. Hữu dân nhi tác chi quân, tề gia dĩ trị kỳ quốc. Quan thiên cực tứ tinh chi tượng, thực á hiên huy; khảo vương cung lục tẩm chi danh, cái tham khôn hậu. Thời duy bang viện, túc bị phụ quan, thân tích tán thư chi hoa, tái bao đồng quản chi vĩ. Tứ quyên cốc đán, phu cáo lộ triều. Thục phi Vương thị, tính chất huệ minh, đức dung uyển ế, nhu gia duy tắc, thục thận kỳ thân. Lý thuận thể hòa, cư duyệt đồ thư chi giới, phát tường giáng khả, lũ bồi cung độc chi từ. Trật dĩ thị vu tam công, giáo tố hành vu cửu ngự. Khiêm dĩ tự mục, quý nhi bất kiêu. Tư phù hoàn điệm chi chiêm, ích quảng bản chi chi khánh. Quán liệt phi nhi tiến vị, nhị trung khổn dĩ khai vinh. Cựu điển hữu khê, sư ngôn duy mục. Ô hý. Ký thụ đế chỉ, diệp chung tư đa tử chi thi; dĩ thừa thiên hưu, ưng dao dịch thành chương chi lễ. Ích tư dự khánh, ngưỡng xưng long quang. Khả. (Giải nghĩa) Môn Hạ [Sảnh]. Trợ giúp nhân dân mà làm bậc vua chúa, chỉnh đốn gia đình để cai trị đất nước. Ngắm xem hình tượng bốn ngôi sao nơi cực trời, thực sự chiếu sáng bổ trợ cho sao Hiên Viên (Hoàng đế); khảo xét tên gọi sáu điện tẩm chốn vương cung, vốn sánh ngang với đức dày của đất (Quẻ Khôn). Bấy giờ có người nữ tử tài đức của đất nước, từ sớm đã vẹn toàn đạo làm phụ nữ nơi cung đình, nay lại được ban tặng thêm sự rạng rỡ của sắc thư tán tụng, làm sáng bừng nét đẹp của bút đỏ khen ngợi. Cho nên chọn ngày lành tháng tốt, ban bố rộng rãi nơi đại triều. Thục phi Vương thị, bản tính hiền trí sáng suốt, đức hạnh dung mạo dịu dàng êm đẹp, lấy sự mềm mỏng tốt lành làm khuôn mẫu, giữ gìn bản thân cẩn trọng nết na. Cư xử thuận hòa êm đẹp, lúc rảnh rỗi đọc xem lời răn trong sách vở; đem lại điềm lành nhận lấy phúc lớn, nhiều lần cùng tham gia lễ tế thần Cầu Tự. Phẩm trật vốn đã ngang hàng Tam công, sự giáo hóa vốn đã thực hành khắp chín hàng phi tần. Lấy sự khiêm tốn để tự tu dưỡng bản thân, ở vị trí cao quý mà không hề kiêu ngạo. Nay ứng hợp với điềm mộng chăn chiếu sinh con, làm rộng mở thêm niềm vui nối dõi của dòng tộc. Đứng đầu hàng ngũ các vị Phi mà tiến thăng phẩm vị, phò trợ nơi chốn hậu cung để mở ra sự vinh hiển. Điển cũ có thể tra xét, lời khen dạy thật ôn hòa êm đẹp. Than ôi! Đã nhận phúc lành của Thượng đế, ứng hợp với ý thơ Chung Tư chúc mừng sinh nhiều con cháu; để nhận ân huệ của trời, đón nhận nghi lễ khoác gấm vóc Dao Địch hoàn mỹ. Hãy càng thêm suy nghĩ về danh xưng và niềm vui này, kính ngưỡng sao cho xứng đáng với ánh sáng vinh quang của rồng. Đồng ý ban hành. |
” |
| — Chiếu văn tấn phong Thục phi Vương thị làm Quý phi | ||
Xem thêm
Chú thích
- ^ Trong tiếng Trung "Công" là chỉ người đàn ông, thường dùng cho những người đàn ông không rõ tên
- ^ a b 《Tống Sử - Quyển 243 - Liệt truyện 2 - Hậu Phi Hạ》. Trịnh Hoàng hậu, người Khai Phong [...] Hậu vốn là Áp ban ở điện Khâm Thánh, Huy Tông khi còn là Đoan Vương, mỗi ngày vào triều bái ở cung Từ Đức, Khâm Thánh sai hai Áp ban là Trịnh thị, Vương thị cung phụng hầu hạ. Đến khi [Huy Tông] tức vị, bèn đem hai người ban thưởng cho [Huy Tông]. Hậu từ khi vào cung [...] Vương Quý phi, cùng với Trịnh Hậu đều làm Áp ban. Huy Tông lên ngôi, phong làm Bình Xương Quận quân, tiến vị đến Quý phi. Sinh ra Vận Vương Khải, Sân Vương Thực, Trần Vương Cơ, Huệ Thục, Khang Thục, Thuận Đức, Nhu Phúc, Trùng Ý Đế Cơ. Tháng Chín năm Chính Hòa thứ bảy hoăng, thụy hiệu là Ý Túc. Vi Hiền phi [...] (Gốc) 《宋史·卷二百四十三·列傳第二·后妃下》鄭皇后,開封人也[……]后本欽聖殿押班,徽宗為端王,每日朝慈德宮,欽聖命鄭、王二押班供侍。及即位,遂以二人賜之。后自入宮[……]王貴妃,與鄭后俱為押班。徽宗立,封平昌郡君,進位至貴妃。生鄆王楷、莘王植、陳王機、惠淑康淑順德柔福沖懿帝姬。政和七年九月薨,諡曰懿肅。韋賢妃[……]
- ^ a b 《Tống Hội Yếu Tập Cáo - Hậu Phi Tam》, phần phê chú ở đầu trang (thiên đầu) về Huy Tông Quý phi Vương thị viết: "《Tống Sử》: Huy Tông Quý phi Vương thị.", ban đầu phong Thọ Xương Quận quân [...] sinh Vận Vương Khải, Kinh Vương Trập [...] Phần phê chú ở đầu trang về Quý phi Vương thị: "Huy Tông Quý phi Vương thị.", tháng Chín năm Sùng Ninh thứ ba (1104) phong Bình Xương Quận quân, tháng Nhuận hai năm thứ tư (1105) tiến phong Tài nhân, tháng Ba tiến phong Mỹ nhân, trong tháng ấy tiến phong Tiệp dư, tháng Tám năm thứ năm (1106) tiến phong Tu dung, năm Đại Quan thứ hai (1108) tiến phong Uyển dung, tháng Bảy tiến phong Hiền phi, tháng Bảy năm Chính Hòa thứ nhất (1111) tiến phong Đức phi, tháng Hai năm thứ ba (1113) tiến phong Thục phi, tháng Ba năm thứ tư (1114) tiến phong Quý phi, tháng Chín năm thứ bảy (1117) hoăng chữ "nguyệt": bản gốc chép là "bách", nhầm, dựa theo 《Tống Sử - Hậu Phi Truyện Hạ》 mà sửa., thụy hiệu là Ý Túc. Sinh ra Sân Vương Thực, Trần Vương Cơ, Huệ Thục Công chúa, Khang Thục Công chúa, Nhu Phúc Công chúa, Trùng Ý Công chúa. [...] (Gốc) 《宋会要辑稿·后妃三》徽宗贵妃王氏天头原批云:「《宋史》:徽宗贵妃王氏。」,初封寿昌郡君[……]生郓王楷、荆王楫[……]贵妃王氏天头原批:「徽宗贵妃王氏。」,崇宁三年九月封平昌郡君,四年闰二月进才人,三月进美人,是月进婕妤,五年八月进修容,大观二年进婉容,七月进贤妃,政和元年七月进德妃,三年二月进淑妃,四年三月进贵妃,七年九月薨月:原作「百」,误,据《宋史 后妃传下》改。,谥曰懿肃。生莘王植、陈王机、惠淑公主、康淑公主、柔福公主、冲懿公主。[……]
- ^ Chiếu văn tấn phong Đức phi
- ^ Chiếu văn tấn phong Thục phi
- ^ Chiếu văn tấn phong Quý phi