Đá Én Đất
Trang Mô đun:Infobox/styles.css không có nội dung.
| Thực thể địa lý tranh chấp Đá Én Đất | |
|---|---|
| Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:InfoboxImage/data' not found. Ảnh vệ tinh chụp đá Én Đất | |
| Địa lý | |
| Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:InfoboxImage/data' not found. | |
| Vị trí | Biển Đông |
| Tọa độ | Trang Mô đun:Coordinates/styles.css không có nội dung.10°21′B 114°42′Đ / 10,35°B 114,7°Đ |
| Tranh chấp giữa | |
| Quốc gia | |
Quốc gia | |
Quốc gia | |
Quốc gia | |
Đá Én Đất (tiếng Anh: Eldad Reef; tiếng Filipino: Malvar; tiếng Trung: 安达礁/An Đạt tiêu) là rạn san hô có diện tích lớn nhất thuộc cụm Nam Yết (quần đảo Trường Sa).[1] Rạn san hô này nằm ở cực đông của cụm, cách đá Núi Thị khoảng 7 hải lý (13 km) về phía đông - đông nam,[2] cách đảo Ba Bình khoảng 36 km về phía đông và cách đá Ga Ven khoảng 54 km về phía đông nam. Trên thực địa của rạn san hô hiện đã hình thành các bãi cát. Hiện nay, Việt Nam, Đài Loan, Trung Quốc và Philippines đều tuyên bố chủ quyền đối với rạn san hô này.
Tên gọi
Việt Nam
Từ thế kỷ XVII - XVIII, ngư dân Việt Nam (đặc biệt là Đội Hoàng Sa, Bắc Hải thời chúa Nguyễn và nhà Nguyễn) đã khảo sát, khai thác thủy sản tại cụm Nam Yết. Dù chưa có bản đồ hành chính hiện đại ghi chính xác từ "Én Đất", các thực thể thuộc bãi san hô vòng Tizard (như đảo Nam Yết, Sơn Ca) đã được định danh dân gian và ghi nhận chủ quyền.[3] Đến năm 1868, tên gọi quốc tế của rạn san hô này là Eldad Reef, chính thức xuất hiện rộng rãi trong giới hàng hải khi Thuyền trưởng Eldad (người điều khiển tàu Anh Cacique) công bố dữ liệu khảo sát và đo đạc thực địa trong cuốn Sổ tay Biển Trung Hoa (China Sea Directory). Trong thập niên 1950 - 1970, trên cơ sở tiếp thu tài liệu hàng hải quốc tế cùng bản đồ do người Pháp bàn giao, các chuyên gia địa lý và chính quyền miền Nam Việt Nam đã tiến hành dịch nghĩa, phỏng âm các thực thể địa lý. Theo đó, từ gốc tiếng Anh "Eldad" được phỏng âm khéo léo sang ngôn ngữ thuần Việt thành "Én Đất", vừa giữ tính liên kết với lịch sử hàng hải thế giới, vừa tạo sự gần gũi với hệ sinh thái biển đảo tự nhiên (tương tự cách gọi đảo Sơn Ca, đá Núi Thị). Năm 1979, sau khi đất nước thống nhất, Cục Bản đồ Quân sự thuộc Bộ Tổng Tham mưu xuất bản hệ thống Hải đồ chuẩn hóa về Quần đảo Trường Sa, chính thức ghi nhận tên gọi Đá Én Đất trên văn bản hành chính pháp lý quốc gia với tọa độ 10°21' vĩ độ Bắc, 114°42' kinh độ Đông, khẳng định quyền đặt tên địa danh của quốc gia có chủ quyền lịch sử.[4]
Trung Quốc
Theo truyền thống trong bản ghi chép lịch sử Genglu Bu, ngư dân thường gọi rạn san hô Anda ở quần đảo Trường Sa là Yin Guo, nghĩa là bánh bạc, cát bánh bạc hoặc nồi bạc.[5] Về mặt quản lý hành chính, tên gọi của thực thể này đã trải qua nhiều thay đổi qua các thời kỳ lịch sử. Vào năm 1935, Ủy ban Rà soát Bản đồ Đất và Nước Quốc gia của Cộng hòa Trung Hoa ban đầu công bố tên tiêu chuẩn là rạn Irude hoặc rạn Irud.[6] Đến năm 1947, Cục Địa lý thuộc Bộ Nội vụ của chính quyền này đã điều chỉnh và chính thức đặt lại tên thành rạn Anda. Tên gọi rạn Anda tiếp tục được công nhận và công bố rộng rãi trong Công báo Quốc vụ viện cùng danh mục của Ủy ban Tên địa danh Trung Quốc vào năm 1983.[7]
Quốc tế
Đá Én Đất (tiếng Anh: Eldad Reef) được đặt theo tên một thuyền trưởng người Anh của tàu Cacique, người đã khảo sát và công bố dữ liệu hàng hải về thực thể này trong cuốn Sổ tay Biển Trung Hoa năm 1868.[8][9][10] Bản đồ quốc tế sau đó chuẩn hóa và sử dụng rộng rãi danh xưng này. Trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, quân đội Nhật Bản chiếm đóng và gọi đây là Rạn Đông (East Reef) do vị trí địa lý ở cực đông bãi ngầm Tizard. Philippines định danh thực thể này là Malvar (Bahura ng Malvar) nhằm vinh danh tướng Miguel Malvar, một nhân vật lịch sử trong cuộc Cách mạng Philippines và Chiến tranh Philippines - Mỹ.
Vị trí
Đá Én Đất nằm ở phía đông bắc của cụm Nam Yết thuộc quần đảo Trường Sa, tại tọa độ 10°21' vĩ Bắc và 114°42' kinh Đông. Về khoảng cách địa lý, thực thể này nằm cách đá Núi Thị khoảng 14 km về phía tây bắc, cách đảo Sơn Ca 24 km về phía tây và cách đảo Ba Bình 36 km về phía tây. Ngoài ra, rạn san hô này cách đảo Nam Yết khoảng 42 km và cách đá Ga Ven khoảng 54 km cùng về phía đông nam.
Địa lý
Thông tin chung
Đá Én Đất nằm tại tọa độ 10°21′N, 114°42′E, thuộc phía đông cụm Nam Yết. Với hình dáng giống gọng kìm hay con cá ngựa đứng, thực thể này trải dài khoảng 8 km (4,25 hải lý)[2] theo hướng đông bắc - tây nam, chiều rộng dao động từ 200 thước Anh đến 1 dặm. Cấu trúc địa hình tại đây là một đảo san hô không khép kín với tổng diện tích 7,95 km² (trong đó phần rạn chính chiếm 5,21 km²), kết hợp cùng đá Núi Thị tạo nên dạng địa hình nhánh rạn kép đặc trưng. Phần rìa phía trước kéo dài ra biển tạo thành một "sống rạn" hình lưỡi kiếm dài 1,9 km; hai bên dốc và hẹp với độ sâu sụt giảm mạnh từ 9,1 m xuống 91,4 m, gây nguy hiểm cho tàu thuyền qua lại. Trên rạn sở hữu nhiều tảng đá lớn nhô khỏi mặt nước từ 0,9 đến 1,2 m, lộ rõ hơn lúc thủy triều xuống. Khu vực rìa sau hình thành một đầm phá nhỏ (vịnh hình ách) sâu từ 18 đến 32 m, chứa nhiều bãi san hô phân mảnh và có kênh thủy triều ở phía tây nam cho phép tàu trọng tải hàng chục tấn ra vào.[1][11]
Sự phát triển của bãi cát
Các tài liệu địa lý trước đây chưa từng ghi nhận về đá Én Đất. Giai đoạn 2014–2015, một số nguồn tin truyền thông nghi vấn nơi này diễn ra hoạt động bồi đắp nhân tạo. Dù vậy, dữ liệu ảnh vệ tinh thương mại từ năm 2005 đến năm 2015 cho thấy cấu trúc này thay đổi hoàn toàn do tự nhiên. Từ một rạn san hô cạn ban đầu, khu vực này đã tích tụ thành một bãi cát nhỏ với diện tích khoảng 2.883 m².[12]
Nơi neo đậu
Đá Én Đất có hai khu vực neo đậu chính.[13] Vị trí đầu tiên gồm hai mỏm đá ngầm ở phía đông. Mỏm đông bắc có độ dốc đáy biển thoai thoải từ 3° đến 4°, đường ranh giới độ sâu 100 m cách rìa rạn khoảng 1,8 km, tạo ra vùng neo đậu rộng khoảng 500 m ở độ sâu 10-80 m. Mỏm đông nam dốc hơn với góc 11°, cung cấp phạm vi neo đậu đường kính 400 m ở độ sâu 10-100 m. Tuy nhiên, cả hai mỏm này đều hướng về phía đông bắc nên khả năng chắn gió từ hướng này rất hạn chế. Vị trí thứ hai nằm tại cửa vào phía nam - tây nam, cách rạn san hô cao 1,7 m ở phía nam rạn chính khoảng 2 hải lý về phía tây nam. Nơi đây có độ sâu từ 10 đến 20 m trên nền đáy san hô, đường kính khoảng 100 m, thuộc vùng nước nông của cửa vào cụm Nam Yết và có lợi thế tránh được gió đông bắc mạnh.
Lịch sử
Trung Quốc đổ bộ lên Én Đất vào tháng 5 năm 1989.[14] Ngày 28 tháng 4 năm 1990, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gửi công hàm phản đối hành động cho quân chiếm đá Én Đất của phía Trung Quốc.[15]
Hình ảnh
| ||
Tham khảo
Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.
- ^ a ă Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ a ă Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ 广东地名委员会 .南海诸岛地名资料汇编 .广州 :广东省地图出版社 ,1987 :197 .
- ^ 水陆地图审查委员会 .水陆地图审查委员会会刊 第一期 :缺 ,1935 :122 .
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ 曾昭璇等 .中国珊瑚礁地貌研究 .广州 :广东人民出版社 ,1997 :174-179 .
- ^ Reported Dangers to Navigation in the Pacific Ocean: List of Reported Dangers in the North Pacific Ocean.
- ^ RESPONSES OF THE PHILIPPINES TO THE TRIBUNAL’S 1 APRIL 2016 REQUEST FOR COMMENTS ON MATERIALS FROM THE ARCHIVES OF THE UNITED KINGDOM HYDROGRAPHIC OFFICE, p. 8
- ^ 高俊国,刘宝银 .南沙群岛空间融合信息分析与示警 群礁发育 军事区位 警示系统 .北京 :海洋出版社 ,2009 :52-53 .
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ 中国科学院南沙综合科学考察队宋朝景,赵焕庭,陈欣树等 .南沙群岛水道锚地与港口选址研究 .北京 :科学出版社 ,1996 :79 .
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Navbox/configuration' not found.
Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:Navbar/configuration' not found.