Rạn san hô vòng Midway
Rạn san hô vòng Midway (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “IPAc-en”.; còn gọi là đảo Midway hay quần đảo Midway; tiếng Hawaiian: Kuaihelani, n.đ. 'xương sống của bầu trời'; Pihemanu, 'tiếng ồn của chim chết chóc')[1][2] là một lãnh thổ chưa hợp nhất và chưa tổ chức của Hoa Kỳ, nằm ở Bắc Thái Bình Dương với diện tích khoảng 6,2 km² (2,4 dm²). Đúng như tên gọi "nửa đường", đảo nằm gần như cách đều Bắc Mỹ và châu Á, đồng thời đối diện với kinh tuyến Greenwich qua nửa vòng Trái Đất. Về vị trí địa lý, Midway nằm ở phía tây bắc quần đảo Hawaii, cách Honolulu khoảng 1/3 chặng đường đến Tokyo (Nhật Bản).
Đảo san hô Midway gồm ba đảo: Đảo Sand lớn nhất, có người ở và sở hữu đường băng. Ngay phía đông, qua kênh Brooks hẹp, là Đảo Eastern hoang vắng, không còn cơ sở vật chất. Bao quanh hai đảo này và tạo nên đầm phá Midway là Đảo Spit, một rạn san hô nhỏ hẹp.[3]
Nằm cách đều Bắc Mỹ và châu Á, các đảo thuộc đảo san hô Midway là ba hòn đảo duy nhất trong quần đảo Hawaii không thuộc tiểu bang Hawaii.[3] Khác với phần còn lại của quần đảo, Midway dùng Giờ Samoa (UTC−11:00), chậm hơn một giờ so với múi giờ Hawaii–Aleutian. Về mặt thống kê, đây là một phần của các đảo nhỏ xa bờ của Hoa Kỳ. Khu bảo tồn động vật hoang dã quốc gia tại đây do Cục Cá và Động vật hoang dã Hoa Kỳ (FWS) quản lý, đồng thời là một phần thuộc Đài tưởng niệm quốc gia biển Papahānaumokuākea.[4]
Từ năm 1941 đến năm 1993, đảo san hô Midway là Căn cứ Không quân Hải quân Hoa Kỳ. Tại đây, sân bay Henderson trên đảo Eastern đã cùng Hải quân Mỹ giáng đòn quyết định trong Trận Midway (4–7 tháng 6 năm 1942), đánh chìm 4 tàu sân bay và 1 tàu tuần dương hạng nặng của Nhật Bản. Chiến thắng này đã bảo vệ thành công đảo san hô, tạo nên bước ngoặt quan trọng cho phe Đồng minh ở chiến trường Thái Bình Dương trong Thế chiến II.
Đảo Sand có khoảng 50 người sinh sống, gồm nhân viên Cục Cá và Động vật Hoang dã Hoa Kỳ cùng công nhân hợp đồng.[5] Do chương trình du lịch đã dừng[khi nào?] từ năm 2012 vì thiếu kinh phí, hiện nay đảo chỉ đón cán bộ, nhà thầu và tình nguyện viên đến làm việc.[6][7][8][9][10] Nền kinh tế tại đây phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách nhà nước, nhu yếu phẩm chủ yếu được vận chuyển bằng đường biển hoặc đường hàng không, kết hợp một phần rau củ tươi tự trồng tại chỗ.
Vị trí
Đảo Midway nằm ở khoảng giữa Bắc Mỹ và Châu Á, đồng thời gần như trung điểm bán cầu theo kinh độ so với Greenwich, Anh. Nằm ở cực tây bắc quần đảo Hawaii, đảo cách Honolulu 2.110 km và nằm trên khoảng một phần ba đường từ Honolulu đến Tokyo. Khác với phần còn lại của quần đảo Tây Bắc Hawaii, Midway không thuộc tiểu bang Hawaii. Dù thuyền trưởng N.C. Brooks từng phát hiện đảo vào năm 1859, Hoa Kỳ được tính là đã tiếp quản độc lập Midway khi Thuyền trưởng William Reynolds (tàu USS Lackawanna) ghé thăm năm 1867. Vì vậy, Đạo luật Tổ chức Hawaii năm 1900 (sáp nhập Hawaii vào Mỹ theo Nghị quyết Newlands 1898) không bao gồm đảo Midway trong lãnh thổ Hawaii.
Đạo luật Gia nhập Hawaii năm 1959 đã loại trừ các đảo Midway, Palmyra, Johnston và rạn san hô Kingman khỏi quyền tài phán của tiểu bang.[11]
Đảo san hô Midway nằm ở phía đông đường đổi ngày quốc tế khoảng 140 hải lý (260 km), phía tây San Francisco chừng 2.800 hải lý (5.200 km) và phía đông Tokyo khoảng 2.200 hải lý (4.100 km).
Địa lý và địa chất
| Đảo | Mẫu anh | ha |
|---|---|---|
| Đảo Sand | 1,117 | 452 |
| Đảo Eastern | 336 | 136 |
| Đảo Spit | 15 | 6 |
| Tổng diện tích đất | 1,549 | 627 |
| Rạn san hô/mặt nước | 580,392 | 234,876 |
Đảo san hô Midway thuộc chuỗi núi ngầm Hawaii-Emperor, nằm giữa đảo san hô Pearl & Hermes và đảo Kure ở quần đảo Tây Bắc Hawaii. Nơi đây gồm một rạn san hô vòng đường kính khoảng 8,0 km cùng các đảo cát nhỏ.[12] Trong đó, hai đảo chính là đảo Sand và đảo Eastern hiện là môi trường sống của hàng triệu chim biển.
Khoảng 28 triệu năm trước, đảo Midway được hình thành từ cùng điểm nóng địa chất đang tạo ra đảo Hawaii ngày nay. Ban đầu, Midway là một núi lửa hình khiên có quy mô tương đương đảo Lanai. Quá trình phun trào dung nham đã bồi đắp nên hòn đảo, nhưng chính sức nặng của nó lại làm lún vỏ Trái Đất, khiến đảo từ từ sụt xuống qua hàng triệu năm theo cơ chế điều chỉnh đẳng tĩnh.
Khi đảo núi lửa cũ sụt lún, rạn san hô xung quanh vẫn phát triển hướng lên để giữ độ cao gần mực nước biển. Rạn san hô này hiện dày trên 157 m (ở đầm phá đạt 384 m),[13] thành phần chủ yếu là đá vôi hậu Miocen, lớp trầm tích Miocen thượng và đá vôi Miocen hạ phủ trên nền đá bazan. Hiện nay, nơi đây là một đảo san hô nước nông rộng khoảng 9,7 km, là đảo san hô cực bắc thứ hai trên thế giới (sau đảo Kure).
Cơ sở hạ tầng
Đảo Midway sở hữu khoảng 32 km đường bộ, 7,7 km đường ống, cảng biển trên đảo Sand (mã WPN 56328) và sân bay Henderson Field. Sân bay này có một đường băng 06/24 dài 2.400 m, từng được chỉ định làm điểm hạ cánh khẩn cấp theo chuẩn ETOPS từ năm 2004. Dù FWS từng ngừng hoạt động sân bay vào tháng 11 năm 2004, việc đón khách quay lại đảo đã được khôi phục từ tháng 3 năm 2008.[14]
Sân bay Đảo Eastern là căn cứ cũ của quân đội Mỹ trong Trận Midway, do lực lượng công binh hải quân (Seabees) xây dựng chủ yếu bằng thảm Marston. Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Toàn cảnh”.
Khí hậu
Nằm phía bắc chí tuyến Bắc (vĩ độ 28°12′ B), đảo san hô Midway sở hữu khí hậu xavan nhiệt đới (As),[15] giáp ranh cận nhiệt đới (Cfa) và rừng mưa nhiệt đới (Af). Thời tiết tại đây quanh năm ôn hòa, lượng mưa rải đều các tháng và chỉ riêng tháng 6 xuống dưới 60 mm. Bản mẫu:Weather box
Lịch sử
Bản mẫu:US Census population Đảo Midway không có cư dân bản địa và chỉ bắt đầu có người sinh sống từ thế kỷ 19.
Thế kỷ 19
Đảo san hô được Thuyền trưởng N.C. Brooks thuộc tàu săn hải cẩu Gambia[16][17] phát hiện vào ngày 5 tháng 7 năm 1859 và đặt tên là "Quần đảo Middlebrook".[16] Ông tuyên bố chủ quyền hòn đảo cho Hoa Kỳ theo Đạo luật đảo phân chim năm 1856, dù thực tế không diễn ra hoạt động khai thác phân chim nào.[18] Đến ngày 28 tháng 8 năm 1867, Thuyền trưởng William Reynolds trên tàu USS Lackawanna mới chính thức tiếp quản đảo san hô này cho Mỹ.[19] Sau đó, đảo được đổi tên thành "Midway", trở thành lãnh thổ Thái Bình Dương đầu tiên được Hoa Kỳ sáp nhập và do Hải quân Hoa Kỳ trực tiếp quản lý.[20][21]
Năm 1870, Công ty Tàu hơi nước Pacific Mail dùng ngân sách do Quốc hội Mỹ cấp để nổ mìn, nạo vét kênh qua rạn san hô vào đầm phá. Mục đích là lập trạm tiếp than giữa đại dương nhằm tránh thuế cao tại các cảng của Vương quốc Hawaii.[22] Tuy nhiên, dự án thất bại. Tháng 10 năm 1870, tàu USS Saginaw tới sơ tán công nhân nhưng mắc cạn tại đảo san hô Kure vào ngày 21 tháng 10, khiến 93 người kẹt lại. Ngày 18 tháng 11, một nhóm 5 người đi thuyền nhỏ tìm viện trợ. Ngày 19 tháng 12, thuyền lật ngoài khơi Kauai làm 4 người thiệt mạng. Người duy nhất sống sót tới Lãnh sự quán Mỹ tại Honolulu vào đêm Giáng sinh. Ngay sau đó, tàu cứu hộ được điều động và giải cứu toàn bộ lực lượng còn lại vào ngày 4 tháng 1 năm 1871, đưa họ về Honolulu an toàn vào ngày 14 tháng 1 năm 1871.[23]
Đầu thế kỷ 20
Năm 1903, nhân viên Công ty Cáp Thương mại Thái Bình Dương đến định cư tại Midway để lắp đặt đường cáp điện báo xuyên đại dương. Nhằm cải tạo cảnh quan, họ đã chuyển khoảng 9.000 tấn đất từ Oahu và Guam cùng nhiều loài thực vật, động vật ngoại nhập lên đảo. Quá trình này cũng vô tình đưa nhiều loài côn trùng và sinh vật lạ xâm nhập vào hệ sinh thái nơi đây.[24]
Ngày 20 tháng 1 năm 1903, Hải quân Mỹ thành lập trạm phát thanh tại Midway sau phản ánh từ nhân viên công ty cáp về tình trạng người Nhật xâm nhập, săn bắt trái phép. Từ năm 1904 đến 1908, Tổng thống Theodore Roosevelt đã cử 21 lính thủy đánh bộ đến đồn trú để bảo vệ trạm cáp, ngăn chặn nạn tàn sát chim biển và khẳng định chủ quyền của Mỹ trên đảo.[25]
Năm 1935, hãng Pan American Airways đưa thủy phi cơ Martin M-130 vào khai thác tuyến San Francisco – Trung Hoa.[26] Đây là hành trình sang trọng, đắt đỏ nhất tới Viễn Đông với giá vé gấp ba lần thu nhập trung bình cả năm của người Mỹ thời đó. Trên đường từ Honolulu đến đảo Wake, máy bay đáp xuống đầm phá Midway và neo tại phao nổi.[27] Du khách sau đó di chuyển vào Khách sạn Pan Am (hay "Gooneyville Lodge" được đặt theo tên loài hải âu địa phương) để nghỉ ngơi.[28]
Thế chiến II
Các bể chứa dầu bốc cháy trong trận Midway. | |
| Vị trí | Đảo Sand, Đảo Midway, Các tiểu đảo xa của Hoa Kỳ |
|---|---|
| Xây/Thành lập | 1941 |
| Kiến trúc sư | Hải quân Hoa Kỳ |
| Số NRHP # | 87001302 |
| Những ngày quan trọng | |
| Đưa vào NRHP | 28 tháng 5 năm 1987[29][30] |
| Công nhận NHLD | 28 tháng 5 năm 1987[31] |
Vị trí chiến lược của Midway tại Thái Bình Dương mang tầm quan trọng quân sự đặc biệt, vừa là điểm tiếp nhiên liệu cho tàu chiến và máy bay xuyên đại dương, vừa là căn cứ tàu ngầm chủ lực. Từ năm 1940, trước nguy cơ xung đột với Nhật Bản, đảo san hô này trở thành tuyến phòng thủ Bờ Tây Hoa Kỳ quan trọng chỉ sau Trân Châu Cảng.[32] Do đó, Mỹ đã nhanh chóng nâng cấp luồng tàu, hoàn thiện Căn cứ Không quân Hải quân cùng hệ thống đường băng và trận địa pháo tại đây.[32]
Ngày 14 tháng 2 năm 1941, Tổng thống Franklin D. Roosevelt ban hành Sắc lệnh hành pháp 8682 nhằm thiết lập khu vực phòng thủ hải quân tại các lãnh thổ trung tâm Thái Bình Dương. Theo đó, "Khu vực biển phòng thủ hải quân đảo Midway" được thành lập trong phạm vi 3 dặm (4,8 km) tính từ mép nước cao nhất quanh đảo. Đồng thời, "Khu vực không phận hải quân đảo Midway" cũng ra đời nhằm kiểm soát không phận tương ứng. Ngoại trừ tàu thuyền và máy bay của chính phủ Mỹ, mọi phương tiện khác muốn đi vào các khu vực này đều phải có sự cho phép của Bộ trưởng Hải quân.
Tầm quan trọng của đảo Midway với Hoa Kỳ thể hiện rõ vào ngày 7 tháng 12 năm 1941, khi Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng. Cùng ngày, hai tàu khu trục Nhật bắn phá Midway lần đầu tiên.[32] Một thủy phi cơ của hãng Pan-Am, khi đó đang trên lịch trình tới Guam, đã kịp thời sơ tán hành khách cùng nhân viên từ đảo Wake (vừa bị tấn công) về Midway, rồi bay tiếp qua Honolulu để trở về Hoa Kỳ.[33]
Tàu ngầm Nhật Bản đã bắn phá Midway vào ngày 10 tháng 2 năm 1942.[34] Trước đó, nơi đây từng bị tấn công bốn lần tính từ ngày 7 tháng 12 năm 1941.[34]
Ngày 4 tháng 6 năm 1942, Trận Midway bùng nổ, đánh dấu đòn chấn động của Hải quân Hoa Kỳ vào Hải quân Đế quốc Nhật Bản. Nhật Bản mất bốn tàu sân bay hạm đội (Akagi, Kaga, Hiryū, Sōryū) cùng hàng trăm phi cơ tổn thất không thể phục hồi. Phía Mỹ mất tàu sân bay Yorktown và một số máy bay. Trận chiến này được xem là bước ngoặt chấm dứt sự thống trị của Hải quân Nhật tại Thái Bình Dương.[35]
Từ tháng 7 năm 1942, một tàu tiếp tế tàu ngầm thường trực tại đảo san hô để hỗ trợ các tàu tuần tra vùng biển Nhật Bản. Đến năm 1944, có thêm một ụ nổi cùng hoạt động.[36] Sau Trận Midway, sân bay thứ hai được xây dựng trên đảo Sand, đòi hỏi phải san lấp biển để mở rộng và làm tăng hơn gấp đôi diện tích hòn đảo khi hoàn thành.
Chiến tranh Triều Tiên và Cuộc kháng chiến chống Mỹ
Từ ngày 1 tháng 8 năm 1941 đến năm 1945, quân đội Mỹ chiếm đóng Midway. Năm 1950, Hải quân tạm dừng rồi lại tái kích hoạt Căn cứ Không quân Hải quân Midway để phục vụ Chiến tranh Triều Tiên, tiếp tế nhiên liệu và sửa chữa cho hàng nghìn lượt tàu, máy bay quân sự. Nơi đây duy trì vai trò căn cứ không quân hải quân từ năm 1968 đến ngày 10 tháng 9 năm 1993.
Với khoảng 3.500 dân trên đảo Sand, Midway từng là căn cứ hỗ trợ quân đội Mỹ trong Kháng chiến chống Mỹ. Tháng 6 năm 1969, Tổng thống Richard Nixon đã gặp Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tại "Nhà Midway" (dinh Sĩ quan Chỉ huy).[37]
Đài phát thanh nghiệp dư
Do vị trí biệt lập và thuộc quản lý của Căn cứ Hải quân Mỹ (không thuộc bang Hawaii), Midway từng được tính là một vùng lãnh thổ riêng cho hoạt động phát thanh nghiệp dư. Các trạm chính như KM6BI (đảo Sand) và KM6CE (đảo Eastern), cùng nhiều trạm cá nhân khác, đã đóng vai trò cầu nối quan trọng giúp kết nối liên lạc và gửi tin nhắn về gia đình.[38][39][40]
Năm 2009, Cục Cá và Động vật hoang dã Hoa Kỳ (USFWS) đã cấp phép cho hoạt động vô tuyến nghiệp dư tại đảo san hô Midway sau 7 năm gián đoạn. Đây là một phần trong nỗ lực thu hút du khách tới trải nghiệm thiên nhiên và lịch sử nơi đây.[38][41] Trong sự kiện mang mật hiệu K4M này, nhóm 19 nhà vận hành đã lên sóng liên tục suốt 10 ngày, kết nối với cộng đồng vô tuyến nghiệp dư toàn cầu trên nhiều băng tần.[41]
Hệ thống định vị va chạm tên lửa
Từ năm 1958 đến 1960, Mỹ đã lắp đặt Hệ thống Định vị Tác động Tên lửa (MILS) tại Trường bắn Tên lửa Thái Bình Dương (sau thuộc Trường bắn phía Tây) để xác định điểm rơi của đầu mũi tên lửa thử nghiệm. Hệ thống này do các đơn vị từng xây dựng SOSUS ở Đại Tây Dương và Bờ Tây triển khai. Trong đó, trạm MILS tại Midway gồm mảng mục tiêu định vị chính xác và hệ thống diện rộng hỗ trợ thử nghiệm ICBM. Các căn cứ khác như Vịnh Kaneohe hỗ trợ thử nghiệm tên lửa tầm trung, còn Đảo Wake và Eniwetok hỗ trợ thử nghiệm ICBM.[42][43][44]
Đảo Eastern
Đảo Eastern (thuộc đảo san hô Midway) từng là căn cứ tình báo hải quân quan trọng của Mỹ trong Chiến tranh Lạnh. Từ tháng 7 năm 1954 đến tháng 2 năm 1971, nơi đây đặt trụ sở Nhóm Hoạt động An ninh Hải quân (NSGA) Midway, vận hành hệ thống định hướng vô tuyến HFDF AN/GRD-6. Hệ thống này thuộc mạng lưới HFDF Thái Bình Dương, đóng vai trò then chốt trong việc giám sát và theo dõi các tín hiệu vô tuyến tần số cao.
Hệ thống định hướng vô tuyến tần số cao AN/GRD-6 tự động xác định phương vị tín hiệu trong dải tần từ 2 đến 32 MHz. Thiết bị sử dụng hai mảng anten vòng đặt trên lưới đồng nối đất: mảng tần số thấp (2–8 MHz) và mảng tần số cao (8–32 MHz).[45] Mỗi mảng gồm các anten đơn cực xếp quanh một anten cảm biến trung tâm.[46][45] Hệ thống tích hợp bộ thu siêu phách cùng màn hình ống tia katốt để hiển thị chính xác hướng tín hiệu đến.[45]
Vị trí chiến lược của đảo Eastern giúp NSGA giám sát vùng biển rộng lớn ở Thái Bình Dương, phục vụ công tác tình báo tín hiệu và trinh sát hàng hải của Hải quân Mỹ trong thời kỳ căng thẳng địa chính trị. Dữ liệu từ hệ thống AN/GRD-6 đã hỗ trợ các hoạt động quân sự và nâng cao năng lực nắm bắt tình hình khu vực của Mỹ.
Căn cứ hải quân Midway
Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Hoa Kỳ vận hành một trạm bờ thuộc Hệ thống giám sát âm thanh (SOSUS) tại Cơ sở Hải quân (NAVFAC) đảo Midway nhằm theo dõi tàu ngầm Liên Xô. Trạm sử dụng Máy phân tích và ghi tần số thấp (LOFAR) để xử lý và hiển thị tín hiệu thu từ mảng cảm biến dưới biển. Cơ sở đi vào hoạt động năm 1968, chính thức biên chế ngày 13 tháng 1 năm 1969 và giữ bí mật hoàn toàn. Năm 1981, dữ liệu từ mảng này được chuyển về NAVFAC Barbers Point và sau đó dẫn trực tiếp đến Cơ sở Xử lý Đại dương Hải quân (NOPF) tại đảo Ford, Hawaii. Trạm Midway chính thức ngừng hoạt động ngày 30 tháng 9 năm 1983.[42][47]
Chuyển giao dân sự
Năm 1978, Hải quân Hạ cấp Midway thành Cơ sở Không quân, khiến lực lượng đồn trú và người thân dần rút đi. Khi Kháng chiến chống Mỹ kết thúc, cùng sự xuất hiện của vệ tinh trinh sát và tàu ngầm hạt nhân, vai trò chiến lược của Midway giảm mạnh. Đến ngày 28 tháng 5 năm 1987, các căn cứ Thế chiến II trên đảo Sand và đảo Eastern chính thức được công nhận là Di tích Lịch sử Quốc gia Hoa Kỳ.[31]
Theo quy trình BRAC, căn cứ Hải quân tại Midway đã đóng cửa từ ngày 10 tháng 9 năm 1993, nhưng Hải quân vẫn chịu trách nhiệm xử lý ô nhiễm môi trường.
Sóng thần năm 2011
Trận động đất và sóng thần Tōhoku ngày 11 tháng 3 năm 2011 đã làm ngập rạn san hô và đảo Spit thuộc Khu bảo tồn quốc gia Midway[48] bởi đợt sóng cao 1,5 m, khiến hơn 110.000 con chim biển làm tổ bị thiệt mạng.[49] Mặc dù vậy, giới khoa học tại đây nhận định sự cố này không gây ảnh hưởng tiêu cực lâu dài đến quần thể chim.[50]
Một nghiên cứu của Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ cho thấy đảo Midway, Laysan và các đảo Thái Bình Dương tương tự có thể bị ngập lụt, không thể sinh sống trong thế kỷ này do sóng bão và mực nước biển dâng.[51][52]
Khu bảo tồn động vật hoang dã quốc gia và di tích quốc gia
Ngày 22 tháng 4 năm 1988, Midway trở thành Khu bảo tồn động vật hoang dã quốc gia chồng lấn, dưới quyền quản lý chính của Hải quân.
Công chúng từng được tham quan đảo san hô qua các tour du lịch sinh thái nghiên cứu (tháng 8 năm 1996 – 2002).[55][56] Một chương trình mới tiếp tục được triển khai từ tháng 3 năm 2008 đến năm 2012,[14][57] trước khi bị dừng vào năm 2013 do cắt giảm ngân sách.[8]
Ngày 31 tháng 10 năm 1996, Tổng thống Bill Clinton ký Sắc lệnh 13022, chuyển giao Đảo Midway cho Bộ Nội vụ Hoa Kỳ quản lý dưới dạng Khu bảo tồn động vật hoang dã quốc gia. Sau khi hoàn tất dọn dẹp môi trường, lực lượng Hải quân cuối cùng đã rút khỏi đây vào ngày 30 tháng 6 năm 1997.
Ngày 13 tháng 9 năm 2000, Bộ trưởng Nội vụ Bruce Babbitt chỉ định Khu bảo tồn động vật hoang dã làm Đài tưởng niệm quốc gia Trận Midway.[58] Tên gọi hiện tại là "Khu bảo tồn động vật hoang dã quốc gia đảo Midway và Đài tưởng niệm quốc gia Trận Midway".
Ngày 15 tháng 6 năm 2006, Tổng thống George W. Bush đã thành lập Di tích Quốc gia Biển Quần đảo Tây Bắc Hawaii. Với diện tích 362.074 km², di tích này sở hữu 13.411 km² rạn san hô,[59] đồng thời bao gồm hai Khu bảo tồn Động vật hoang dã Quốc gia là Quần đảo Hawaii và Đảo Midway.
Năm 2007, đài tưởng niệm được đổi tên thành Đài tưởng niệm Quốc gia Biển Papahānaumokuākea (phát âm tiếng Hawaiian: [ˈpɐpəˈhaːnɔuˈmokuˈaːkeə])[60][61][62], do Cục Cá và Động vật hoang dã Hoa Kỳ, NOAA và tiểu bang Hawaii đồng quản lý. Đến năm 2016, Tổng thống Barack Obama mở rộng khu vực này và bổ sung Văn phòng Các vấn đề Hawaii làm đồng quản lý thứ tư.
Tượng đài Gooney
Tượng đài chim Gooney được tạc từ cây gỗ gụ dài 9,1 m bởi một nha sĩ Hải quân Mỹ trên đảo, khởi công năm 1949. Tác phẩm cao 3,4 m này tồn tại 40 năm trước khi bị mối phá hủy và được thay bằng một quả trứng giả.[63]
Môi trường
Đảo Midway thuộc Vùng Chim quan trọng (IBA) Quần đảo Tây Bắc Hawaii do BirdLife International công nhận nhờ sở hữu nhiều loài chim biển và chim đất đặc hữu.[64] Hòn đảo này là môi trường sinh sản quan trọng của 17 loài chim biển, trong đó có khoảng 67–70% quần thể hải âu Laysan và 34–39% quần thể hải âu chân đen trên toàn cầu.[65] Bên cạnh đó, một số ít hải âu đuôi ngắn cực kỳ quý hiếm, loài từng bị đe dọa nghiêm trọng do nạn săn bắt lông vũ cuối thế kỷ XIX cũng xuất hiện tại đây.[66] Nhằm bảo tồn giống loài, Cục Cá và Động vật hoang dã Hoa Kỳ từng di dời 42 cá thể vịt Laysan đến sinh sống trên đảo.
Hơn 250 loài sinh vật biển cư trú tại khoảng 120.000 ha đầm phá và vùng nước lân cận. Nơi đây cung cấp nguồn cá rạn, mực, bạch tuộc cùng động vật giáp xác cho loài hải cẩu thầy tu Hawaii đang nguy cấp sinh sống và nuôi con. Ngoài ra, đồi mồi dứa cũng từng ghi nhận làm tổ tại đảo Spit (2006) và đảo Sand (2007), bên cạnh đàn cá heo spinner khoảng 300 con thường xuyên sinh sống ở khu vực ven bờ.[67]
Sự xuất hiện của con người đã thay đổi sâu sắc quần đảo Midway, khởi đầu bằng việc phá rạn san hô xây cảng trên đảo Sand năm 1869.
Một số loài xâm lấn được du nhập vào Midway, như bạch đàn từ Úc dùng làm hàng rào chắn gió. 75% trong 200 loài thực vật trên đảo là loài ngoại lai. Hiện nay, các nỗ lực đang tập trung diệt trừ thực vật ngoại lai và phục hồi cây bản địa.
Sơn chứa chì trên các tòa nhà từng gây ngộ độc và đe dọa quần thể hải âu trên đảo. Tình trạng này đã được khắc phục sau khi dự án loại bỏ lớp sơn hoàn thành vào năm 2018.[68]
Sự ô nhiễm
Đảo san hô Midway và quần đảo Hawaii hứng chịu lượng lớn rác thải biển từ Bãi rác Thái Bình Dương. Mỗi năm, khoảng 20 tấn rác, trong đó 90% là nhựa tích tụ trên các bãi biển Midway, tương đương ít nhất 45 kg nhựa dạt vào bờ hằng tuần theo ước tính của Cục Cá và Động vật hoang dã Hoa Kỳ.[69] Lượng rác này đe dọa nghiêm trọng đàn chim trên đảo, khi chim hải âu bố mẹ vô tình nhặt rác trên biển và mớm khoảng 5 tấn rác thải cho chim con.[70]
Hầu như toàn bộ 1,5 triệu hải âu Laysan sinh sản vào mùa đông tại Midway đều mang nhựa trong hệ tiêu hóa.[71] [72] Khoảng một phần ba chim non đã tử vong do ăn phải nhựa có màu sắc bắt mắt vốn bị chúng nhầm là cá hay mực.[73] Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng nhựa đại dương tích tụ mùi hóa học đặc trưng, vô tình thu hút hải âu tìm đến kiếm ăn.[74]
Chim non hải âu dưới bốn tháng tuổi chưa có phản xạ nôn nên không thể tống nhựa ra ngoài.[73] Không chỉ hải âu với nhiều con ở Midway chứa nhựa tới 50% đường ruột, mà rùa biển và hải cẩu thầy tu cũng thường ăn phải rác nhựa từ đồ gia dụng trôi dạt vào bờ.[70]
Vận tải
Phương pháp phổ biến để đến đảo Sand (thuộc rạn san hô vòng Midway) là đi chuyên cơ riêng hạ cánh xuống sân bay Henderson. Đây cũng là đường băng dự phòng khẩn cấp cho các chuyến bay qua Thái Bình Dương. Chẳng hạn năm 2011, chuyến bay 277 của Delta Air Lines (Boeing 747-400) từ Honolulu đi Osaka đã phải hạ cánh khẩn cấp tại đây vì nứt kính chắn gió. Nhân viên Khu bảo tồn Động vật hoang dã Quốc gia Mỹ trên đảo đã hỗ trợ đón tiếp, chăm sóc an toàn cho gần 380 người trong 8 giờ trước khi máy bay thay thế tới.[75][76]
Tham khảo
- ^ "Ua paʻa na inoa kahiko: Ancient Names Remembered" (PDF). Expand Papahānaumokuākea. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 27 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2021.
- ^ "A visit to Pihemanu". BirdWatching. ngày 3 tháng 10 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2021.
- ^ a ă "MODIS Web: Home >> Images >> Midway Islands". modis.gsfc.nasa.gov. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2021.
- ^ System, National Wildlife Refuge. "Lands Report – National Wildlife Refuge System". fws.gov. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2016.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tênCIA 2023 - ^ Visiting Midway Atoll National Wildlife Refuge. FWS Website.
- ^ Volunteer at Midway Atoll NWR. FWS Website.
- ^ a ă "Bản mẫu:Deprecated archive". Honolulu Star-Advertiser, November 16, 2012
- ^ [1] Lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2010 tại Wayback Machine. Galápagos Travel Website, November 16, 2012.
- ^ [2] Lưu trữ ngày 24 tháng 11 năm 2012 tại Wayback Machine. Photo Safaris Website, November 16, 2012.
- ^ Lowenthal, Ben (ngày 10 tháng 8 năm 2018). "The State of Aloha". The Maui News (bằng tiếng Anh). Wailuku, Maui, Hawaii. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2021.
- ^ a ă U.S. Fish & Wildlife Service. "More About Midway". Midway Atoll National Wildlife Refuge and Battle of Midway National Memorial. U.S. Fish & Wildlife Service. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2018.
- ^ Ladd, H. S.; Tracey, J. I. Jr. & Gross, M. G. (1967). "Drilling on Midway Atoll, Hawaii". Science. 156 (3778): 1088–1095. Bibcode:1967Sci...156.1088L. doi:10.1126/science.156.3778.1088. PMID 17774053. S2CID 45853811. Also reprinted here [3] Lưu trữ ngày 13 tháng 4 năm 2016 tại Wayback Machine.
- ^ a ă "Midway Atoll Program to Reopen in March" (PDF). United States Fish and Wildlife Service. ngày 11 tháng 1 năm 2008. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 16 tháng 2 năm 2008.
- ^ "Midway Island Climate Midway Island Temperatures Midway Island Weather Averages". www.midway.climatemps.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2017.
- ^ a ă U.S. Fish & Wildlife Service. "Chronology of Events". Midway Atoll National Wildlife Refuge and Battle of Midway National Memorial. U.S. Fish & Wildlife Service. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2020.
- ^ Hawaii. Dept. of the Attorney General (1925). Opinions of the Attorney General of Hawaii. Paradise of the Pacific Press. tr. 244. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2021.
- ^ Hanlon, David (2023), "The USA and the Pacific since 1800: Manifestly Facing West", trong Hattori, Anne Perez; Samson, Jane (biên tập), The Cambridge History of the Pacific Ocean, Cambridge University Press, tr. 563–587, doi:10.1017/9781108226875.030, ISBN 978-1-316-51040-7
- ^ "GAO/OGC-98-5 – U.S. Insular Areas: Application of the U.S. Constitution". U.S. Government Printing Office. ngày 7 tháng 11 năm 1997. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2013.
- ^ US Department of Commerce, National Oceanic and Atmospheric Administration. "Exploring the Sunken Heritage of Midway Atoll: Honoring the Legacy of the 75th Anniversary of the Battle of Midway: Background: NOAA Office of Ocean Exploration and Research". oceanexplorer.noaa.gov (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2025.
- ^ "Papahānaumokuākea Marine National Monument". www.papahanaumokuakea.gov. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2025.
- ^ Tempest, Mark. "Midway Island Claimed for U.S. in 1867" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2025.
- ^ The Pacific Commercial Advertiser, 28 January 1871
- ^ "Preserving the Past: Cable Company". Midway Atoll National Wildlife Refuge and Battle of Midway National Memorial. U.S. Fish & Wildlife Service. ngày 23 tháng 11 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 10 năm 2017.
- ^ The Editors of Encyclopaedia Britannica. "Midway Islands." Encyclopedia Britannica, December 6, 2024. https://www.britannica.com/place/Midway-Islands
- ^ "Pan Am Era". Midway Island (bằng tiếng Anh). ngày 24 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2025.
- ^ "Pan American Airlines". timuseum (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2025.
- ^ "Pan American Airways on the Home Front in the Pacific (U.S. National Park Service)". www.nps.gov (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2025.
- ^ "Hệ thống Thông tin Sổ bộ Quốc gia". Sổ bộ Địa danh Lịch sử Quốc gia Hoa Kỳ. Cục Công viên Quốc gia Hoa Kỳ. ngày 15 tháng 4 năm 2008.
- ^ "List of NHLs by state". National Historic Landmarks. National Park Service. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2022.
- ^ a ă "National Register Database and Research (search term: Midway)". National Register of Historic Places. National Park Service. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2022.
- ^ a ă â Preparing for War Lưu trữ ngày 20 tháng 5 năm 2015 tại Wayback Machine Midway Atoll National Wildlife Refuge and Battle of Midway National Memorial.
- ^ "Clippers At War @ flyingclippers.com". www.flyingclippers.com. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2023.
- ^ a ă Polmar, Norman; Allen, Thomas B. (ngày 15 tháng 8 năm 2012). World War II: the Encyclopedia of the War Years, 1941–1945. Courier Corporation. ISBN 978-0-486-47962-0. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2016 – qua Google Books.
- ^ Taylor, Alan. "World War II: Battle of Midway and the Aleutian Campaign - The Atlantic". www.theatlantic.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2021.
- ^ "After the Battle of Midway". Midway Atoll National Wildlife Refuge. Fish & Wildlife Service. ngày 23 tháng 11 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2017.
- ^ "President Nixon and President Thieu Meet at Midway Island, June 8, 1969". Richard Nixon Foundation. ngày 8 tháng 6 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2024.
- ^ a ă "Amateur Radio Operations to Begin Again on Midway Atoll". www.arrl.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2025.
- ^ "Midway Island Ham Radio QSL Cards – Midway Island" (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2025.
- ^ "Chronology". Midway Island (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2025.
- ^ a ă "Hams to Activate Midway Atoll as K4M in October 2009". www.arrl.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2025.
- ^ a ă "Integrated Undersea Surveillance System (IUSS) History 1950 - 2010". IUSS/CAESAR Alumni Association. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2020.
- ^ Subcommittee on Military Construction (March–April) (ngày 29 tháng 4 năm 1959). Military Construction Appropriations for 1960: Hearings. tr. 169–170. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2020.
- ^ Subcommittee on Military Construction (May) (ngày 20 tháng 5 năm 1959). Military Construction Appropriations for 1960: Hearings. tr. 818, 824. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2020.
- ^ a ă â "AN/GRD-6 DF Set". jproc.ca. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2025.
- ^ "AN/GRD-6 HF Direction Finding System (HFDF)". navy-radio.com. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2025.
- ^ Commander Undersea Surveillance. "Naval Facility Midway Island January 1969 - September 1983". U.S. Navy. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2020.
- ^ "Tsunami washes away feathered victims west of Hawaii". CNN. ngày 19 tháng 3 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2011.
- ^ Brandon Keim (ngày 15 tháng 3 năm 2011). "Midway's Albatrosses Survive the Tsunami". Wired. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2011.
- ^ Hiraishi, Tetsuya; Yoneyama, N.; Baba, Y.; Azuma, R. (ngày 10 tháng 7 năm 2013), "Field Survey of the Damage Caused by the 2011 Off the Pacific Coast of Tohoku Earthquake Tsunami", Natural Disaster Science and Mitigation Engineering: DPRI reports, Springer Japan, tr. 37–48, doi:10.1007/978-4-431-54418-0_4, ISBN 978-4-431-54417-3
- ^ "Storm Surges, Rising Seas Could Doom Pacific Islands This Century Lưu trữ ngày 14 tháng 4 năm 2013 tại Wayback Machine: Atolls and other low-lying islands in the Pacific Ocean may not slip under the waves but they will likely become uninhabitable due to overwashing waves" ClimateWire and Scientific American April 12, 2013
- ^ Storlazzi, Curt D.; Berkowitz, Paul; Reynolds, Michelle H.; Logan, Joshua B. (2013). "Forecasting the Impact of Storm Waves and Sea-Level Rise on Midway Atoll and Laysan Island within the Papa hānaumokuākea Marine National Monument — A Comparison of Passive Versus Dynamic Inundation Models" (PDF). U.S. Geological Survey. U.S. Department of the Interior. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 15 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2018.
- ^ Wheeler, Skip (tháng 3 năm 2000). "New Flag for Midway" (PDF). NAVA News. 33. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 6 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2021.
- ^ Klimeš, Roman (July–September 2010). "Lesser-Known Symbols of Minor U.S. Possessions: Part 2. Pacific Ocean—Midway" (PDF). NAVA News (207): 8. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 6 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2021.
- ^ "Study Tours of Midway Island". The New York Times. ngày 7 tháng 7 năm 1996. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2007.
- ^ Pandion Systems, Inc. (ngày 12 tháng 4 năm 2005). "Midway Atoll National Wildlife Refuge: Visitor program market analysis and feasibility study" (PDF). United States Fish and Wildlife Service. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2007.
- ^ "Interim Visitor Services Plan Approved". United States Fish and Wildlife Service. ngày 8 tháng 12 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2007.
- ^ "Battle of Midway National Memorial". U.S. Fish and Wildlife Service. ngày 22 tháng 3 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2012.
- ^ "Papahānaumokuākea Marine National Monument". noaa.gov. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2016.
- ^ "Papahānaumokuākea: A Sacred Name, A Sacred Place". Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2008.;
"Archived copy". Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2012.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết) Quản lý CS1: bản lưu trữ là tiêu đề (liên kết) - ^ "Fact Sheet: President Obama to Create the World's Largest Marine Protected Area". whitehouse.gov. ngày 26 tháng 8 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2016 – qua National Archives.
- ^ "Secretaries Pritzker, Jewell Applaud President's Expansion of the Papahānaumokuākea Marine National Monument". commerce.gov. ngày 26 tháng 8 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2016.
- ^ "Midway Island". midwayisland.com. ngày 15 tháng 12 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2024. (includes a transcription of a 1972 Navy Times article about the statue and a later photo of the monument with the mock egg)
- ^ "Northwestern Hawaiian Islands". BirdLife Data Zone. BirdLife International. 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2020.
- ^ "Midway's albatross population stable – The Honolulu Advertiser – Hawaii's Newspaper". honoluluadvertiser.com. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2016.
- ^ "U.S. Fish & Wildlife Service — Birds of Midway Atoll". ngày 19 tháng 8 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2009.
- ^ "U.S. Fish & Wildlife Service — Marine Life of Midway Atoll". ngày 19 tháng 8 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2009.
- ^ "Millions of Albatrosses Now Lead-free on Midway". American Bird Conservancy (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 8 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2020.
- ^ Plastic-Filled Albatrosses Are Pollution Canaries in New Doc Lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2014 tại Wayback Machine Wired. June 29, 2012. Accessed 6-11-13
- ^ a ă "U.S. Fish & Wildlife Service — Marine Debris: Cigarette Lighters and the Plastic Problem on Midway Atoll" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 21 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2013.
- ^ Chris Jordan (ngày 11 tháng 11 năm 2009). "Midway: Message from the Gyre". Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2009.
- ^ "Q&A: Your Midway questions answered". BBC News. ngày 28 tháng 3 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2010.
- ^ a ă McDonald, Mark (ngày 23 tháng 8 năm 2012). "The Fatal Shore Awash in Plastic". Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2013.
- ^ Savoca, M. S.; Wohlfeil, M. E.; Ebeler, S. E.; Nevitt, G. A. (tháng 11 năm 2016). "Marine plastic debris emits a keystone infochemical for olfactory foraging seabirds". Science Advances. 2 (11) e1600395. Bibcode:2016SciA....2E0395S. doi:10.1126/sciadv.1600395. PMC 5569953. PMID 28861463.
- ^ Delta Airlines Emergency landing at Midway island (bằng tiếng Anh), ngày 21 tháng 6 năm 2011, lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 5 năm 2023, truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2023
- ^ "Incident: Delta B744 over Pacific on Jun 16th 2011, cracked windshield". avherald.com. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2023.
Đọc thêm
Lịch sử tự nhiên
- Kellogg, P. P. (tháng 7 năm 1961). "Sounds of Midway: Calls of Albatrosses of Midway Mabel Hubert Carl Frings H. Franklin". The Auk. 78 (3): 453–454. doi:10.2307/4082302. JSTOR 4082302.
- Mearns, Edgar Alexander (1909). "A list of birds collected by Dr. Paul Bartsch in the Philippine Islands, Borneo, Guam, and Midway Island, with descriptions of three new forms". Proceedings of the United States National Museum. 36 (1683): 463–478. doi:10.5479/si.00963801.36-1683.463.
- Fisher, Mildred L. (1970). The albatross of Midway Island: a natural history of the Laysan Albatross. Carbondale: Southern Illinois University Press. ISBN 978-0-8093-0426-4.
- Rauzon, Mark J. (2001). Isles of refuge: wildlife and history of the northwestern Hawaiian Islands. Honolulu: University of Hawaiʻi Press. ISBN 978-0-8248-2209-5.
Lịch sử quân sự
- Fuchida, Mitsuo; Okumiya, Masatake (1955). Midway: the battle that doomed Japan, the Japanese navy story (ấn bản thứ 13). Shrewsbury: Airlife Publishing. ISBN 978-0-87021-372-4.
- Morison, Samuel Eliot (1950). Coral Sea, Midway and Submarine Actions: May 1942-August 1942 . Boston: Little, Brown and Company. ISBN 978-0-316-58304-6.
- Frank, Pat; Harrington, Joseph D. (1967). Rendezvous at Midway: U. S. S. Yorktown and the Japanese Carrier Fleet. New York: John Day Company. OCLC 172985985.
- Parshall, Jonathan B.; Tully, Anthony (2005). Shattered sword: the untold story of the Battle of Midway. Washington, DC: Potomac Books. ISBN 978-1-57488-923-9.
- Prange, Gordon W.; Goldstein, Donald M.; Dillon, Katherine V. (1982). Miracle at Midway. New York: McGraw-Hill. ISBN 978-0-07-050672-5.
- Smith, Myron J. (1991). The battles of Coral Sea and Midway, 1942: a selected bibliography. Bibliographies of battles and leaders. New York: Greenwood Press. ISBN 978-0-313-28120-4.
- Toland, John (2016). But Not in Shame: The Six Months After Pearl Harbor. New York: Random House. ISBN 978-1-101-96929-8.
- Tuleja, Thaddeus V. (1983). Climax at Midway. New York: Berkley Books. ISBN 978-0-515-07403-1.
- Wildenberg, Thomas (1998). Destined for glory: dive bombing, Midway, and the evolution of carrier airpower. Annapolis, Md: Naval Institute Press. ISBN 978-1-55750-947-5.
Liên kết ngoài
- Welcome to Midway Island dot com
- AirNav - Henderson Field Airport: Airport facilities and navigational aids.
- Midway Atoll National Wildlife Refuge Lưu trữ ngày 18 tháng 6 năm 2005 tại Wayback Machine (this article incorporated some content from this public domain site)
- Where the Gooney Birds Are
- Quick Facts on the Midway Atoll from the PBS Ocean Adventures site
- WorldStatesmen
- NPR story on funding of Midway Island lead paint-chip cleanup
- NOAA Midway Island Hawaiian Monk Seal Captive Care & Release Project
- U.S. Fish & Wildlife Service Midway Atoll National Wildlife Refuge and Battle of Midway National Memorial Lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2016 tại Wayback Machine (this article incorporated some content from this public domain site)
- Papahānaumokuākea Marine National Monument – Midway Lưu trữ ngày 23 tháng 8 năm 2022 tại Wayback Machine
- Diary from the middle of nowhere Lưu trữ ngày 30 tháng 3 năm 2008 tại Wayback Machine BBC's environment correspondent David Shukman reports on the threat of plastic rubbish drifting in the North Pacific Gyre to Midway. Accessed 2008-03-26.
- The Battle of Midway: Turning the Tide in the Pacific, a National Park Service Teaching with Historic Places (TwHP) lesson plan Lưu trữ ngày 31 tháng 12 năm 2021 tại Wayback Machine
- Marines at Midway: by Lieutenant Colonel R.D. Heinl, Jr., USMC Historical Section, Division of Public Information Headquarters, U.S. Marine Corps 1948, Lưu trữ ngày 23 tháng 6 năm 2011 tại Wayback Machine
- Past residents of Midway Lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2014 tại Wayback Machine Discussion of Midway related topics by former residents and those interested in Midway.
- Bản mẫu:Usurped
- Island Conservation: Midway Atoll Restoration Project Lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2020 tại Wayback Machine
Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:Portal/images/u' not found.