Trang Mô đun:Infobox/styles.css không có nội dung.

3M11 / 9M17
AT-2 Swatter
Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:InfoboxImage/data' not found.
3M11 Fleyta
LoạiTên lửa chống tăng
Nơi chế tạoLiên Xô
Lược sử hoạt động
Phục vụ1964–nay
Lược sử chế tạo
Người thiết kếCục thiết kế Nudelman OKB-16
Thông số
Khối lượng27 kilôgam (60 lb)
Chiều dài1.160 mm (46 in)
Đường kính148 mm (5,8 in)
Đầu nổĐầu đạn nổ lõm (HEAT)
Trọng lượng đầu nổ5,4 kg (12 lb)

Động cơLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Separated entries”.
Sải cánh680 mm (27 in)
Tầm hoạt động0,5 đến 2,5 kilômét (0,31 đến 1,55 mi)
Tốc độ160 m/s (360 mph)
Hệ thống chỉ đạoĐiều khiển qua vô tuyến lệnh
Hệ thống láiDẫn đường thủ công (MCLOS)
Nền phóngMi-4, Mi-8, Mi-24, Mi-25, BRDM-1, BRDM-2

3M11 Fleyta (Cây sáo, Tên định danh NATOAT-2 Swatter) là một loại tên lửa chống tăng điều khiển qua vô tuyến lệnh theo hệ thống dẫn đường thủ công (MCLOS) của Liên Xô. Các phiên bản cải tiến khác nhau sau này được định danh là 9M17 Falanga.

Phát triển

Tên lửa được phát triển bởi cục thiết kế Nudelman OKB-16. Nó được phát triển cùng thời điểm với 3M6 Shmel như một loại tên lửa chống tăng có điều khiển (ATGM) hạng nặng để sử dụng trên cả bệ phóng mặt đất và trực thăng. Nó đã giải quyết được một số vấn đề của 3M6; tốc độ nhanh hơn nhiều và có tầm bắn xa hơn một chút. Những cải tiến này đạt được bằng cách gửi các lệnh điều khiển thông qua liên kết vô tuyến thay vì dây dẫn điều khiển kéo theo, cho phép tên lửa bay nhanh hơn. Tuy nhiên, điều này lại khiến nó dễ bị gây nhiễu. Hệ thống tên lửa đã được giới thiệu cho nhà lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev vào tháng 9 năm 1964 và được chấp nhận vào biên chế ngay sau đó.

Lịch sử

 
Tên lửa 9M17 Falanga

3M11 là loại ATGM đầu tiên của Liên Xô được triển khai từ trực thăng. Một số lượng nhỏ đã được lắp đặt trên trực thăng Mi-4AV. Tên lửa này cũng được triển khai trên dòng trực thăng Mil Mi-8 cũng như Mi-24 và Mi-25. Ngoài ra, nó còn được trang bị cho các xe chiến đấu bộ binh BRDM-1BRDM-2.

Phiên bản 3M11 Fleyta ban đầu gặp khá nhiều vấn đề; một nguồn tin Nga mô tả loại tên lửa này là "đáng chú ý vì sự phức tạp và độ tin cậy thấp". Ngoài ra, tầm bắn của tên lửa cũng bị coi là chưa thỏa đáng. Một phiên bản cải tiến của tên lửa đã được phát triển: 9M17 Falanga (tên định danh NATO là AT-2B). Về ngoại hình, các tên lửa này rất giống nhau, tuy nhiên tầm bắn của 9M17 được tăng lên 3,5 km. Phiên bản sản xuất tiêu chuẩn là 9M17M Falanga-M, được đưa vào biên chế năm 1968.

Bước phát triển tiếp theo là tích hợp hệ thống dẫn đường bán tự động (SACLOS), tạo ra phiên bản 9M17P Falanga-P (tên định danh NATO là AT-2 Swatter-C). Nó đi vào hoạt động từ năm 1969. Một phiên bản cải tiến sản phẩm khác là 9M17MP đã được phát triển với động cơ và đèn tín hiệu được nâng cấp.

Tên lửa đã được sử dụng rộng rãi trong các cuộc chiến sau đây trên nền tảng Mi-24:

Nó đã được thay thế trong biên chế quân đội Liên Xô bởi ATGM 9K114 Shturm.

Đặc tính kỹ thuật chung (3M11 Fleyta)

 
Tên lửa 3M11 Fleyta
  • Chiều dài: 1.160 mm
  • Sải cánh: 680 mm
  • Đường kính: 148 mm
  • Trọng lượng phóng: 27,0 kg
  • Tốc độ: 150–170 m/s
  • Tầm bắn: 500 m - 2,5 km
  • Thời gian bay đến tầm tối đa: 17 giây
  • Hệ thống dẫn đường: Vô tuyến lệnh MCLOS
  • Đầu đạn: 5,4 kg đầu đạn nổ lõm (HEAT) xuyên 500 mm thép cán đồng nhất (RHA);tối đa 650 mm thép RHA đối với biến thể cải tiến.[1]

Các biến thể

  • 3M11 Fleyta MCLOS (Tên định danh NATOAT-2A Swatter A)
  • 9M17 Falanga (Tên định danh NATO là AT-2B Swatter B): Tầm bắn tăng lên 3,5 km.
    • 9M17DB: Hệ thống sửa đổi để hoạt động với trực thăng Mi-8TB.
  • 9M17M Falanga-M MCLOS: Trọng lượng phóng 29 kg (64 lb), tầm bắn tối đa 3.500 m. Xuất hiện lần đầu tại cuộc Duyệt binh Moscow năm 1973.
  • 9M17P Falanga-P (Tên định danh NATO là AT-2C Swatter C): Phiên bản SACLOS đầu tiên. Trọng lượng phóng 29 kg.
    • 9M17MP: Cải tiến động cơ và đèn dẫn đường. Tầm bắn tối đa 4.000 m.
    • 9M17N

Quốc gia sử dụng

 
Quốc gia sử dụng:Trang Bản mẫu:Legend/styles.css không có nội dung.
  Đang sử dụng
Trang Bản mẫu:Legend/styles.css không có nội dung.
  Từng sử dụng

Các quốc gia đang sử dụng

Các quốc gia từng sử dụng

Tham khảo

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  2. ^ a ă â Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  3. ^ a ă â Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  4. ^ a ă â b Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  5. ^ a ă â b c d Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  6. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).

Liên kết ngoài

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Side box”.

Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Navbox/configuration' not found.