Bước tới nội dung

Acid boric

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Trang Mô đun:Infobox/styles.css không có nội dung.

Acid boric
Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Module:InfoboxImage/data' not found.
Tinh thể acid boric
Danh pháp IUPACAcid boric
Trihydroxidoboron
Tên khácOrthoboric acid
Boracic acid
Sassolite
Optibor
Borofax
Nhận dạng
Số CAS10043-35-3
PubChem7628
Số EINECS233-139-2
KEGGD01089
ChEMBL42403
Ảnh Jmol-3Dảnh
ảnh 2
SMILESBản mẫu:Collapsible list
InChIBản mẫu:Collapsible list
ChemSpider7346
UNIIR57ZHV85D4
Thuộc tính
Công thức phân tửH3BO3
Khối lượng mol61,83302 g/mol
Bề ngoàiChất rắn kết tinh màu trắng
Khối lượng riêng1,435 g/cm³
Điểm nóng chảyBản mẫu:Thông tin hoá chất/tính toán nhiệt độ
Điểm sôiBản mẫu:Thông tin hoá chất/tính toán nhiệt độ
Độ hòa tan trong nước2,52 g/100 mL (0 ℃)
4,72 g/100 mL (20 ℃)
5,7 g/100 mL (25 ℃)
19,10 g/100 mL (80 ℃)
27,53 g/100 mL (100 ℃)
Độ hòa tan trong các dung môi khácTan trong rượu mạch ngắn
tan vừa phải trong pyridin
ít tan trong axeton
Độ axit (pKa)9,24 (xem văn bản)
Cấu trúc
Hình dạng phân tửPhẳng ba cạnh
Mômen lưỡng cực0
Các nguy hiểm
Phân loại của EUCó hại (Xn)
Repr. Cat. 2
NFPA 704

0
1
0
 
Chỉ dẫn RBản mẫu:R60 Bản mẫu:R61
Chỉ dẫn SBản mẫu:S53 S45
Điểm bắt lửaKhông bắt lửa.
LD502660 mg/kg, miệng (chuột cống)
Các hợp chất liên quan
Hợp chất liên quanBo trioxide
Borax
Trừ khi có ghi chú khác, dữ liệu được cung cấp cho các vật liệu trong trạng thái tiêu chuẩn của chúng (ở 25 °C [77 °F], 100 kPa).

Acid boric, cụ thể hơn là axit orthoboric, là hợp chất của các nguyên tố hóa học gồm bo, oxyhydro với công thức Bản mẫu:Chem2. Nó cũng có thể được gọi là hydro orthoborat, trihydroxidoboron hoặc axit boracic.[1] Nó thường được tìm thấy dưới dạng tinh thể không màu hoặc bột trắng, hòa tan trong nước và tồn tại trong tự nhiên dưới dạng khoáng chất sassolite. Đây là một axit yếu tạo ra nhiều anion borat và muối khác nhau và có thể phản ứng với cồn để tạo thành este borat.

Axit boric thường được sử dụng như một chất khử trùng, thuốc trừ sâu, chất chống cháy, chất hấp thụ neutron hoặc tiền chất của các hợp chất bo khác.

Thuật ngữ "axit boric" cũng được sử dụng rộng rãi cho bất kỳ axit oxo nào của Bo, chẳng hạn như axit metaboric Bản mẫu:Chem2 và axit tetraboric Bản mẫu:Chem2.

Phân bố

Acid dạng tự do được tìm thấy trong các vùng có núi lửa nhất định như ở Tuscany, quần đảo LipariNevada, trộn lẫn với hơi nước trong các khe nứt trong đất; nó cũng được tìm thấy ở dạng thành phần cấu tạo trong một số khoáng vật (borax, boracit, boronatrocaicitcolemanit). Acid boric và các muối của nó cũng được ghi nhận trong nước biển. Nó cũng tồn tại trong thực vật và đặc biệt là trong hầu hết trái cây.[2]

Acid boric được Wilhelm Homberg (1652–1715) điều chế lần đầu tiên từ borax, từ phản ứng của các acid vô cơ, và được đặt theo tên sal sedativum Hombergi ("muối giảm đau của Homberg"). Tuy nhiên, các borat, bao gồm cả acid boric, đã được sử dụng vào thời kỳ Ai Cập cổ đại để lau chùi, bản quản thực phẩm, và các ứng dụng khác.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Category handler/data' not found.Lỗi Lua trong package.lua tại dòng 80: module 'Mô đun:Category handler/data' not found.[<span title="Tuyên bố này cần tham khảo đến các nguồn đáng tin cậy. (Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Ngày chuẩn”.)">cần dẫn nguồn]

Điều chế

Acid boric có thể được điều chế khi cho borax (natri tetraborat decahydrat) phản ứng với acid vô cơ, như acid chlorhydric:

Na2B4O7·10H2O + 2HCl → 4B(OH)3 [hay H3BO3] + 2NaCl + 5H2O

Tính chất

Acid boric có thể tan trong nước sôi. Khi nung trên 170 ℃, nó tách nước tạo thành acid metaboric (HBO2):

H3BO3 → HBO2 + H2O

Acid metaboric là chất rắn kết tinh theo hệ lập phương, có màu trắng và chỉ hòa tan ít trong nước. Acid metaboric nóng chảy ở 236 ℃, và khi nung trên 300 ℃ nó tiếp tục tách nước tạo thành acid tetraboric hay acid pyroboric (H2B4O7):

4HBO2 → H2B4O7 + H2O

Thuật ngữ acid boric đôi khi cũng được dùng để chỉ các hợp chất này. Nếu tiếp tục tách nước, nó sẽ tạo ra đibo trioxide:

H2B4O7 → 2B2O3 + H2O

Acid boric không phân ly trong dung môi gốc nước như acid Brønsted, nhưng là một acid Lewis phản ứng với các phân tử nước để tạo thành ion tetrahydroxyborat, và được quan sát dưới quang phổ Raman:[3]

B(OH)3 + H2O ⇌ B(OH)Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Su”. + H+ (Ka = 5.8x10−10 mol/l; pKa = 9.24)

Các anion polyborat được tạo ra tạo thành dung dịch có pH 7–10 nếu nồng độ bo lớn hơn 0,025 mol/L. Ion phổ biến nhất là tetraborat được tìm thấy trong borax khoáng:

4B(OH)Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Su”. + 2 H+ ⇌ B4OLỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Su”. + 9H2O

Acid boric có vai trò quan trọng trong việc hấp thụ các sóng âm tần số thấp trong nước biển.[4]

Cấu trúc tinh thể

Acid boric tinh thể bao gồm các lớp phân tử B(OH)3 liên kết với nhau bởi liên kiết hydro. Khoảng cách giữa hai lớp cạnh nhau là 318 pm.

Ô cơ sở của acid boric
Liên kết hydro (đường đứt nét)
cho phép các phân tử acid boric hình thành
các lớp song song ở trạng thái rắn

Tham khảo

Trang Bản mẫu:Tham khảo/styles.css không có nội dung.

  1. ^ Entry "boracic acid" in the online Merriamm-Webster Dictionary. Gives the first use as 1790. Retrieved 2022-06-24.
  2. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  3. ^ Jolly, William L. "Modern Inorganic Chemistry" (McGraw-Hill 1984, tr. 198)
  4. ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).

Đọc thêm

  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
  • Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Hợp chất bor Bản mẫu:Thuốc tác động lên tai