Albrecht Alcibiades xứ Brandenburg-Kulmbach
| Albert Alcibiades | |
|---|---|
| Phiên hầu xứ Brandenburg-Kulmbach | |
| Tập tin:Andreas Riehl (I) - Bildnis des Markgrafen Albrecht Alcibiades von Brandenburg-Kulmbach.jpg Chân dung của Andreas Riehl the Elder, 1557 | |
| Phiên hầu xứ Brandenburg-Kulmbach | |
| Tại vị | 1527–1553 |
| Tiền nhiệm | Phiên hầu tước Casimir |
| Kế nhiệm | Phiên hầu tước Georg Friedrich |
| Thông tin chung | |
| Sinh | Ngày 28 tháng 3 năm 1522 Ansbach |
| Mất | 8 tháng 1 năm 1557 (34 tuổi) Pforzheim |
| Hoàng tộc | Vương tộc Hohenzollern |
| Thân phụ | Casimir xứ Brandenburg-Bayreuth |
| Thân mẫu | Susanna xứ Bayern |
Albrecht Alcibiades (28 tháng 3 năm 1522 – 8 tháng 1 năm 1557) còn được biết đến là Albrecht II, ông là Phiên hầu tước xứ Brandenburg-Kulmbach (Brandenburg-Bayreuth) từ năm 1527 đến năm 1553. Ông là thành viên của nhánh Franconia thuộc Nhà Hohenzollern. Do bản tính hiếu chiến của mình, Albrecht được đặt biệt danh là Bellator ("Người hiếu chiến") khi còn sống. Sau khi mất, ông được biết đến với tên Alcibiades.
Cuộc sống đầu đời
Phần này không có nguồn tham khảo nào. |
Albrecht sinh ra ở Ansbach và, sau khi cha của ông là Phiên hầu Casimir qua đời vào năm 1527, ông sống dưới sự nhiếp chính của chú mình là Phiên hầu Georg xứ Brandenburg-Ansbach, một người theo Tin Lành mạnh mẽ.
Năm 1541, ông nhận được Bayreuth như phần đất đai thừa kế, nhưng vì đô thị chính của phiên hầu của ông là Kulmbach, nên ông vẫn được gọi là Phiên hầu xứ Brandenburg-Kulmbach.
Tính hiếu chiến và sự nghiệp quân sự
Bản chất bồn chồn và nổi loạn của ông đã định hình ông cho một sự nghiệp quân sự; và sau khi tập hợp một nhóm nhỏ binh lính, ông đã hỗ trợ Hoàng đế Karl V của Thánh chế La Mã trong Chiến tranh Ý giai đoạn 1542–1546 chống lại Vương quốc Pháp của Vương tộc Valois.[1]
Hoà ước Crépy vào tháng 9 năm 1544 đã loại ông ra khỏi cuộc chiến, nhưng ông đã giành được một danh tiếng đáng kể, và khi Hoàng đế Karl V chuẩn bị tấn công Liên minh Schmalkaldic, Hoàng đế đã cố gắng hết sức để giành được sự giúp đỡ của Albrecht.[1]
Tham gia vào cuộc tấn công Tuyển hầu xứ Sachsen của Dòng Ernestine của Wettin, Albrecht bị bắt làm tù binh tại Rochlitz vào tháng 3 năm 1547 bởi Tuyển đế quốc Johann Friedrich I xứ Sachsen, nhưng được thả sau chiến thắng của Hoàng đế tại Trận Mühlberg vào tháng 4 năm sau.[1]
Sau đó, ông theo chân người bạn của mình là Tuyển đế hầu Moritz xứ Sachsen (người mới được phong sau khi tuyển đế hầu trước đó bị hạ bệ), bỏ rơi Hoàng đế Karl và gia nhập liên minh đề xuất lật đổ Hoàng đế bằng cách liên minh với Vua Henri II của Pháp.[1]
Ông tham gia vào chiến dịch sau đó, nhưng khi Hòa ước Passau được ký kết vào tháng 8 năm 1552, ông tách khỏi các đồng minh của mình và bắt đầu một cuộc cướp bóc ở Franconia,[1] dẫn đến Chiến tranh Phiên hầu lần thứ hai.
Sau khi tống tiền một khoản tiền lớn từ người dân Thành bang Nuremberg, ông cãi nhau với người ủng hộ mình là vua Pháp, và đề nghị phục vụ Hoàng đế Thánh chế La Mã trở lại.[1] Karl V, vì muốn có được một chiến binh nổi tiếng như vậy, đã vui vẻ chấp thuận các yêu cầu của Albrecht và ban lệnh hoàng gia cho phép ông ta sở hữu những vùng đất lấy từ các Giáo phận vương quyền Würzburg và Giáo phận vương quyền Bamberg; và lòng dũng cảm nổi bật của ông ta đã có giá trị rất lớn đối với Hoàng đế trong cuộc rút lui khỏi Cuộc bao vây Metz vào tháng 1 năm 1553.[1]
Khi Karl V rời Thánh chế La Mã vài tuần sau đó, Albrecht lại tiếp tục các cuộc cướp bóc ở Franconia. Những cuộc cướp bóc này nhanh chóng trở nên nghiêm trọng đến mức một liên minh được thành lập để tiêu diệt ông ta, và Moritz xứ Sachsen đã dẫn một đội quân chống lại người đồng đội cũ của mình, Albrecht.[1]
Lưu vong và qua đời
Các lực lượng đối địch gặp nhau tại Trận Sievershausen vào ngày 9 tháng 7 năm 1553, và sau một trận chiến khốc liệt bất thường, Albrecht đã bị đánh bại. Heinrich xứ Brunswick-Wolfenbüttel, sau đó nắm quyền chỉ huy quân đội của liên minh, và sau khi Albrecht bị cấm vận theo lệnh của Hoàng đế vào tháng 12 năm 1553, ông ta đã bị Heinrich đánh bại và buộc phải chạy trốn sang Pháp.[1] Ông gia nhập phục vụ Henri II của Pháp và đã tiến hành một chiến dịch để giành lại đất đai của mình trước khi ông qua đời tại Pforzheim vào ngày 8 tháng 1 năm 1557.[1]
Ông được Thomas Carlyle định nghĩa là "một kẻ thất bại của Fritz," với "những đặc điểm" của Frederick Đại đế trong ông, "Nhưng người ấy đã tự thiêu rụi những phẩm chất tuyệt vời của mình chỉ để làm trò mua vui nhất thời cho các biên tập viên tài ba, và chẳng bao giờ đạt được thành tựu gì, tràn đầy nhiệt huyết, quá nhiều lửa cháy, không hề giống Alcibiades chút nào ngoại trừ sự thay đổi vận mệnh mà ông đã trải qua". Ông được chôn cất tại Heilsbronn Münster. Bài thánh ca của ông "Was mein Got will, das g'scheh allzeit" được dịch là "Ý muốn của Chúa luôn là tốt nhất".[2]
Tham khảo
Nguồn
- ^ a b c d e f g h i j Chisholm 1911.
- ^ it is #477 in Evangelical Lutheran Hymnary, #758 in Lutheran Service Book, and #435 in Christian Worship: A Lutheran Hymnal, see also the entry for the hymn on hymnary.org
Tài liệu
Bài viết này bao gồm văn bản từ một ấn phẩm hiện thời trong phạm vi công cộng: Chisholm, Hugh, biên tập (1911). "Albert". Encyclopædia Britannica. Quyển 1 (ấn bản thứ 11). Cambridge University Press. tr. 493–494. Endnote: See J. Voigt, Markgraf Albrecht Alcibiades von Brandenburg-Kulmbach (Berlin, 1852).