Avril Lavigne
Avril Lavigne | |
|---|---|
| Tập tin:Glaston2024 2806 300624 (129 of 173) (cropped).jpg Lavigne vào năm 2024 | |
| Sinh | Avril Ramona Lavigne Bản mẫu:Birth date and age Belleville, Ontario, Canada |
| Tư cách công dân | |
| Nghề nghiệp | |
| Năm hoạt động | 1999–nay |
| Phối ngẫu | |
| Giải thưởng | Danh sách chi tiết |
| Website | avrillavigne |
| Bản mẫu:Thông tin nhạc sĩ | |
| Chữ ký | |
| Tập tin:Avril Lavigne's signature.svg | |
Avril Ramona Lavigne Bản mẫu:Post-nominals (Bản mẫu:IPAc-en Bản mẫu:Respell; tiếng Pháp: [avʁil ʁamɔna laviɲ]; sinh ngày 27 tháng 9 năm 1984) là một nữ ca sĩ kiêm nhạc sĩ sáng tác bài hát người Canada. Cô là một nghệ sĩ tiên phong trong việc phổ biến dòng nhạc pop-punk, mở đường cho làn sóng nhạc pop lấy cảm hứng từ punk do các nữ nghệ sĩ dẫn đầu vào đầu những năm 2000. Xuyên suốt sự nghiệp của mình, cô đã giành được các giải thưởng danh giá, bao gồm mười giải Juno và tám đề cử giải Grammy.
Năm 16 tuổi, Lavigne ký hợp đồng thu âm hai album với hãng đĩa Arista Records. Album đầu tay Let Go (2002) của cô trở thành album bán chạy nhất thế kỷ 21 của một nghệ sĩ Canada, với những đĩa đơn thành công như "Complicated" và "Sk8er Boi" - khắc họa hình ảnh một nữ nghệ sĩ skate punk và giúp cô được giới truyền thông âm nhạc phong tặng danh hiệu "Nữ hoàng pop-punk", "Công chúa pop punk" và "Teen-Pop Slayer".[1] Album thứ hai Under My Skin (2004) trở thành album đầu tiên của cô đạt vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Billboard 200 tại Mỹ, với 10 triệu bản được bán ra toàn cầu.
Album thứ ba The Best Damn Thing (2007) của Lavigne đạt vị trí quán quân tại 7 quốc gia và đưa đĩa đơn chủ lực "Girlfriend" trở thành bản hit toàn cầu, đồng thời là ca khúc đầu tiên của cô đứng đầu Billboard Hot 100 tại Mỹ. Hai album tiếp theo - Goodbye Lullaby (2011) và Avril Lavigne (2013) - tiếp tục duy trì thành công thương mại và đều được chứng nhận đĩa Vàng tại Canada, Mỹ cùng nhiều thị trường khác. Sau khi phát hành album thứ sáu Head Above Water (2019), cô trở về với phong cách pop-punk gốc trong album thứ bảy Love Sux (2022).
Thân thế
Avril Ramona Lavigne sinh ngày 27 tháng 9 năm 1984 tại Belleville, Ontario. Cô được cha đặt tên là Avril (trong tiếng Pháp có nghĩa là "tháng Tư").[2] Ông nội của Lavigne, Maurice Yves Lavigne sinh ra tại Saint-Jérôme, Quebec.[3] Ông thành viên của Không quân Hoàng gia Canada, đã kết hôn với bà Lucie Dzierzbicki - một phụ nữ Pháp gốc Morhange vào năm 1953. Con trai của họ, Jean-Claude Lavigne ra đời năm 1954 tại căn cứ RCAF Station Grostenquin gần thị trấn Grostenquin, Lorraine.[4] Khi Jean-Claude còn nhỏ, gia đình chuyển đến Ontario và vào năm 1975, ông kết hôn với Judith-Rosanne "Judy" Loshaw.Bản mẫu:R[5]
Cha mẹ Lavigne nhận ra khả năng ca hát của con gái từ khi cô mới 2 tuổi, khi cô hát bài "Jesus Loves Me" trên đường từ nhà thờ Công giáo về.Bản mẫu:R[6] Lavigne có một anh trai tên Matthew và một em gái tên Michelle.Bản mẫu:R Cả hai thường trêu chọc cô khi cô hát, Lavigne kể: "Anh trai tôi hay gõ vào tường vì tôi thường hát cho đến khi ngủ, và anh ấy thấy rất phiền."Bản mẫu:R Cô là chị dâu của Kohama Ryota - tay bas của ban nhạc rock Nhật Bản One Ok Rock.[7]
Năm Lavigne lên 5, gia đình cô chuyển đến thị trấn Napanee (nay thuộc địa phận Greater Napanee),Bản mẫu:R một thị trấn khi ấy chỉ có khoảng 5.000 dân.Bản mẫu:R
Để ủng hộ niềm đam mê âm nhạc của con gái, cha cô đã mua cho cô một chiếc micro, một bộ trống, một đàn keyboard và vài cây guitar, đồng thời cải tạo tầng hầm nhà thành một phòng thu nhỏ. Cha cô thường chơi bass tại nhà thờ mà gia đình tham dự - Trung tâm Thờ phụng Third Day ở Kingston. Khi Lavigne 14 tuổi, bố mẹ thường đưa cô đi hát karaoke.Bản mẫu:R
Lavigne biểu diễn tại các hội chợ đồng quê, hát lại các ca khúc của Garth Brooks, the Chicks và Shania Twain, đồng thời bắt đầu sáng tác nhạc. Ca khúc đầu tay của cô có tựa đề "Can't Stop Thinking About You" viết về mối tình tuổi teen mà sau này cô tự nhận là "ngây ngô nhưng dễ thương".Bản mẫu:R
Ngoài âm nhạc, Lavigne còn chơi khúc côn cầu trên băng trong thời gian học trung học. Cô từng hai lần được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất (MVP) khi thi đấu ở vị trí tiền vệ cánh phải trong giải đấu dành cho nam.[8]
Sự nghiệp
1999–2001: Bắt đầu sự nghiệp
Năm 1999, Lavigne giành chiến thắng trong một cuộc thi trên đài phát thanh và được biểu diễn cùng ca sĩ người Canada Shania Twain tại Corel Centre ở Ottawa trước 20.000 khán giả.Bản mẫu:RBản mẫu:R Cả hai cùng trình bày ca khúc "What Made You Say That" của TwainBản mẫu:R và Lavigne đã nói với thần tượng rằng cô ước mơ trở thành "một ca sĩ nổi tiếng".Bản mẫu:R Trong một lần biểu diễn cùng Nhà hát Cộng đồng Lennox, Lavigne được nghệ sĩ dân ca địa phương Stephen Medd phát hiện. Ông mời cô góp giọng trong ca khúc "Touch the Sky" cho album Quinte Spirit (1999) của mình. Sau đó, cô tiếp tục tham gia trong hai ca khúc "Temple of Life" và "Two Rivers" cho album tiếp theo My Window to You (2000) của Medd.
Tháng 12 năm 1999, Lavigne được người quản lý chuyên nghiệp đầu tiên - Cliff Fabri phát hiện khi cô đang cover các bài hát đồng quê tại một hiệu sách của Chapters ở Kingston.Bản mẫu:R Fabri gửi các băng VHS ghi lại màn trình diễn tại nhà của Lavigne tới một số đối tác trong ngành và nhiều lãnh đạo công ty đã tìm đến cô.Bản mẫu:R Mark Jowett - đồng sáng lập công ty quản lý Nettwerk, cũng nhận được một bản thu Lavigne hát karaoke trong tầng hầm nhà bố mẹ.Bản mẫu:R Jowett sắp xếp để cô hợp tác với nhà sản xuất Peter Zizzo vào mùa hè 2000 tại New York, nơi cô viết ca khúc "Why". Cũng trong chuyến đi này, Lavigne được hãng đĩa Arista Records để mắt.Bản mẫu:R
Tháng 11 năm 2000,Bản mẫu:R Ken Krongard (đại diện bộ phận tìm kiếm và quản lý nghệ sĩ - A&R) đã mời Antonio "L.A." Reid (khi đó là lãnh đạo Arista Records) đến phòng thu của Zizzo tại Manhattan để nghe Lavigne trình bày. Buổi thử giọng 15 phút đã "gây ấn tượng mạnh" đến mức Reid ngay lập tức ký hợp đồng với cô: 1.25 triệu USD cho 2 album cùng 900.000 USD tạm ứng bản quyền.Bản mẫu:R Thời điểm này, Lavigne đã hòa nhập với nhóm bạn trượt ván tại trường trung học - hình ảnh sau này xuất hiện trong album đầu tay của cô. Dù yêu thích trượt ván, cô cảm thấy bất an trong môi trường học đường. Nhờ được bố mẹ ủng hộ, Lavigne quyết định nghỉ học để tập trung cho sự nghiệp âm nhạc sau khi ký hợp đồng thu âm.Bản mẫu:RBản mẫu:R Ban nhạc của cô (phần lớn thành viên nhóm Closet Monster) được Nettwerk lựa chọn kỹ lưỡng - họ muốn những nghệ sĩ trẻ triển vọng từ giới nhạc punk rock Canada phù hợp với cá tính của Lavigne.[9]
2002–2003: Let Go
Reid giao cho Joshua Sarubin (trưởng bộ phận A&R) nhiệm vụ định hướng phát triển và giám sát quá trình thu âm album đầu tay của Lavigne. Họ dành nhiều tháng ở New York cộng tác với các nhạc sĩ khác nhau để tìm kiếm phong cách riêng cho cô. Sarubin chia sẻ với HitQuarters rằng ban đầu họ gặp khó khăn: dù những sáng tác cùng Sabelle Breer, Curt Frasca và Peter Zizzo cho ra đời vài ca khúc chất lượng, chúng vẫn chưa thực sự phù hợp với cá tính và chất giọng của Lavigne. Bước ngoặt chỉ đến khi cô tới Los Angeles tháng 5 năm 2001 và sáng tác hai ca khúc cùng nhóm sản xuất the Matrix - bao gồm bài "Complicated" (sau này trở thành đĩa đơn đầu tay), khiến hãng đĩa nhận thấy cô đã có bước đột phá lớn. Lavigne tiếp tục làm việc với The Matrix và nhạc sĩ kiêm ca sĩ Clif Magness. Album đầu tay Let Go được hoàn thành vào tháng 1 năm 2002.Bản mẫu:R
Avril Lavigne đã phát hành album Let Go vào tháng 6 năm 2002 và album này đã đạt vị trí số hai trên bảng xếp hạng Billboard 200. Tác phẩm đã vươn lên vị trí số một tại Úc, Canada và Vương quốc Anh, giúp Lavigne (khi mới 17 tuổi) trở thành nữ nghệ sĩ hát đơn trẻ tuổi nhất có album quán quân trên UK Albums Chart thời điểm đó.Bản mẫu:R Tính đến cuối năm 2002, album đã được Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ (RIAA) chứng nhận 4 lần Bạch kim, biến cô thành nghệ sĩ nữ bán đĩa chạy nhất năm 2002 và Let Go là album đầu tay bán chạy nhất trong năm.Bản mẫu:R Đến tháng 5 năm 2003, Let Go đã tích lũy hơn một triệu bản được bán ra tại Canada, nhận được chứng nhận kim cương từ Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Canada.Bản mẫu:R Tính đến năm 2009, album đã bán được hơn 16 triệu bản trên toàn thế giới.Bản mẫu:R Đến tháng 3 năm 2018, RIAA đã chứng nhận album đạt 7 lần Bạch kim, tương đương với hơn 7 triệu bản đã được tiêu thụ tại Mỹ.[10]
Đĩa đơn đầu tay "Complicated" của Lavigne đạt vị trí quán quân tại Úc và á quân trên bảng xếp hạng Mỹ. "Complicated" là một trong những đĩa đơn bán chạy nhất Canada năm 2002 và nằm trong danh sách bài hit hàng đầu thập niên tại MỹBản mẫu:R - nơi hai đĩa đơn tiếp theo "Sk8er Boi" và "I'm with You" cùng lọt top 10.[11] Nhờ ba ca khúc này, Lavigne trở thành nghệ sĩ thứ hai trong lịch sử có cùng lúc ba bài hát top 10 từ album đầu tay trên bảng xếp hạng Mainstream Top 40 của Billboard.Bản mẫu:R Năm 2002, cô đoạt giải Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất (cho "Complicated") tại giải Video âm nhạc của MTV.Bản mẫu:R Năm 2003, Lavigne thắng 4 giải Juno trên tổng số 6 đề cử,Bản mẫu:R giành một giải Âm nhạc Thế giới cho danh hiệu "Ca sĩ Canada bán chạy nhất thế giới", cùng 8 đề cử Grammy - bao gồm hạng mục Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất và Bài hát của năm cho "Complicated".Bản mẫu:R
Năm 2002, Lavigne có màn xuất hiện ngắn trong video âm nhạc ca khúc "Hundred Million" của ban nhạc pop punk Treble Charger.Bản mẫu:R Đến tháng 3 năm 2003, Lavigne cô trở thành gương mặt trang bìa tạp chí Rolling Stone.Bản mẫu:R Hai tháng sau (tháng 5 năm 2003), Lavigne thể hiện ca khúc "Fuel" trong chương trình tôn vinh Metallica - MTV Icon.Bản mẫu:RBản mẫu:R Trong chuyến lưu diễn đầu tiên của mình mang tên, Lavigne đã trình bày bản cover "Basket Case" (Green Day).Bản mẫu:R
2004–2005: Under My Skin
Album phòng thu thứ hai Under My Skin của Lavigne (phát hành tháng 5 năm 2004) đã ngay lập tức đạt vị trí quán quân tại Úc, Canada, Nhật Bản, Anh và Mỹ.Bản mẫu:R Album được chứng nhận 5 đĩa Bạch kim tại Canada,[12] và tiêu thụ 10 triệu bản toàn cầu,[13] trong đó có 3,2 triệu bản tại Mỹ.[14] Phần lớn ca khúc trong album được Lavigne đồng sáng tác cùng nữ ca sĩ kiêm nhạc sĩ người Canada Chantal Kreviazuk, trong khi chồng của Kreviazuk - Raine Maida (giọng ca của nhóm Our Lady Peace) đồng sản xuất album cùng Butch Walker và Don Gilmore. Lavigne khẳng định Under My Skin chứng minh năng lực sáng tác của cô: "Mỗi bài hát đều xuất phát từ trải nghiệm cá nhân tôi, chứa đựng rất nhiều cảm xúc".Bản mẫu:R Đĩa đơn chủ lực "Don't Tell Me" lọt vào top 5 tại Anh và Canada, top 10 tại Úc. Đĩa đơn thứ hai "My Happy Ending" trở thành hit top 5 tại Anh và Úc, đồng thời lọt top 10 Billboard Hot 100 và đạt vị trí số 1 trên các đài phát thanh pop Mỹ. Đĩa đơn thứ ba "Nobody's Home" không thể lọt vào top 40 tại Mỹ và có thành tích khiêm tốn ở các thị trường khác.
Đầu năm 2004, Lavigne thực hiện chuyến lưu diễn acoustic 'Live and By Surprise' tại các trung tâm thương mại Mỹ và Canada để quảng bá album Under My Skin cùng với tay guitar Evan Taubenfeld. Tháng 9 năm 2004, cô bắt đầu chuyến lưu diễn thế giới đầu tiên kéo dài một năm - Bonez Tour. Trong năm ấy, Lavigne đoạt hai giải Âm nhạc Thế giới cho hạng mục 'Nghệ sĩ pop/rock xuất sắc nhất thế giới' và 'Nghệ sĩ Canada bán chạy nhất thế giới', cùng ba giải Juno từ năm đề cử năm 2005, bao gồm 'Nghệ sĩ của năm'.[15] Cô cũng giành giải 'Nữ ca sĩ được yêu thích nhất' tại lễ trao giải Nickelodeon Kids' Choice Awards lần thứ 18.Bản mẫu:R
Lavigne đồng sáng tác ca khúc "Breakaway" do Kelly Clarkson thể hiện cho soundtrack của phim The Princess Diaries 2: Royal Engagement (2004).Bản mẫu:R "Breakaway" (phát hành giữa năm 2004) sau đó trở thành ca khúc chủ đề cho album thứ hai cùng tên của Clarkson. Tháng 9 năm 2004, Lavigne trình diễn ca khúc "Iris" của Goo Goo Dolls cùng giọng ca chính John Rzeznik tại sự kiện Fashion Rocks.Bản mẫu:R Cô cũng xuất hiện trên bìa tạp chí Maxim tháng 10 năm 2004Bản mẫu:R và thu âm ca khúc chủ đề cho phim The SpongeBob SquarePants Movie (phim ra rạp vào tháng 11 năm 2004) cùng nhà sản xuất Butch Walker.Bản mẫu:R
2006–2011: The Best Damn Thing và Goodbye Lullaby
Tháng 2 năm 2006, Lavigne đại diện Canada biểu diễn tại lễ bế mạc Thế vận hội Mùa đông 2006.Bản mẫu:R Fox Entertainment Group đã mời cô viết bài hát cho soundtrack của bộ phim kỳ ảo phiêu lưu Eragon (2006). Ca khúc "Keep Holding On" do cô sáng tác đã được phát hành làm đĩa đơn quảng bá cho phim và album nhạc phim.Bản mẫu:RBản mẫu:R
Album phòng thu thứ ba The Best Damn Thing (được phát hành vào tháng 4 năm 2007) ngay lập tức đứng đầu bảng xếp hạng Billboard 200 của MỹBản mẫu:R và sau đó đạt chứng nhận Bạch kim tại Canada.[12] Album bán được hơn 2 triệu bản tại thị trường.[10] Đĩa đơn chủ lực "Girlfriend" trở thành ca khúc quán quân đầu tiên của Lavigne trên Billboard Hot 100 và là một trong những đĩa đơn thành công nhất thập niên.Bản mẫu:RBản mẫu:R Bài hát cũng đạt vị trí số 1 tại Úc, Canada, Nhật Bản; vị trí á quân tại Anh và Pháp. Ngoài bản tiếng Anh, "Girlfriend" còn được thu bằng 7 thứ tiếng khác: Tây Ban Nha, Pháp, Ý, Bồ Đào Nha, Đức, Nhật và Quan thoại. Liên đoàn Công nghiệp ghi âm Quốc tế (IFPI) xếp "Girlfriend" là ca khúc được tải về nhiều nhất toàn cầu năm 2007 với 7,3 triệu bản, bao gồm tất cả các phiên bản ngôn ngữ.Bản mẫu:R Đĩa đơn thứ hai "When You're Gone" lọt vào top 5 tại Úc và Anh, top 10 ở Canada, top 40 tại Mỹ. Trong khi đó, đĩa đơn thứ ba "Hot" chỉ xếp hạng 95 tại Mỹ dù lọt vào top 10 Canada và top 20 Úc.
Năm 2007, Lavigne xuất sắc giành hai giải Âm nhạc Thế giới cho danh hiệu 'Nghệ sĩ Canada bán chạy nhất thế giới' và 'Nữ nghệ sĩ pop/rock xuất sắc nhất thế giới'. Cô cũng nhận hai giải Âm nhạc MTV châu Âu đầu tiên, giải Teen Choice Awards cho hạng mục 'Đĩa đơn mùa hè hay nhất' cùng năm đề cử giải Juno.[15] Tháng 12 năm 2007, tạp chí Forbes xếp cô ở vị trí thứ 8 trong danh sách 'Top 20 nhân vật kiếm tiền giỏi nhất dưới 25 tuổi' với thu nhập hàng năm đạt 12 triệu USD.Bản mẫu:R Tháng 3 năm 2008, Lavigne khởi động chuyến lưu diễn toàn cầu The Best Damn World Tour và lần thứ hai xuất hiện trên bìa tạp chí Maxim.Bản mẫu:R Giữa tháng 8, đảng Hồi giáo Malaysia (PAS) đã cố gắng ngăn cản buổi biểu diễn của cô tại Kuala Lumpur vì cho rằng các động tác biểu diễn của cô "quá gợi cảm", lo ngại rằng buổi hòa nhạc ngày 29 tháng 8 sẽ cổ xúy những giá trị sai lệch trước Ngày Độc lập Malaysia (31 tháng 8).Bản mẫu:R Ngày 21 tháng 8 năm 2008, MTV đưa tin chính phủ Malaysia đã chính thức phê duyệt buổi biểu diễn này.Bản mẫu:R
Tháng 1 năm 2010, Lavigne hợp tác với Disney để thiết kế bộ sưu tập thời trang lấy cảm hứng từ bộ phim Alice ở xứ sở thần tiên của Tim Burton. Cô cũng thu âm ca khúc "Alice" cho soundtrack của phim, được phát trong phần credit cuối phim và có mặt trong album soundtrack Almost Alice.Bản mẫu:RBản mẫu:RBản mẫu:R Tháng 2 năm, Lavigne biểu diễn tại lễ bế mạc Thế vận hội Mùa đông 2010 (Vancouver).Bản mẫu:R Ca khúc "I'm with You" của Lavigne đã được Rihanna lấy sample trong ca khúc "Cheers (Drink to That)", thuộc album phòng thu thứ năm Loud (2010) của Rihanna.Bản mẫu:R "Cheers (Drink to That)" được phát hành làm đĩa đơn vào năm sau với sự xuất hiện của Lavigne trong video ca nhạc.Bản mẫu:R Tháng 12 năm 2010, ca sĩ người Mỹ Miranda Cosgrove phát hành "Dancing Crazy" - ca khúc do Lavigne đồng sáng tác cùng Max Martin và Shellback, đồng thời do Martin sản xuất.Bản mẫu:R
Lavigne bắt đầu thu âm album phòng thu thứ tư Goodbye Lullaby tại phòng thu tại gia vào tháng 11 năm 2008. Ca khúc mở đầu "Black Star" được sáng tác để quảng bá cho lọ hương liệu đầu tiên cùng tên cô.Bản mẫu:RBản mẫu:R Lavigne mô tả album này tập trung vào những trải nghiệm cuộc sống thay vì chỉ xoay quanh các mối quan hệ, với phong cách ít dáng dấp pop rock hơn các tác phẩm trước đó để phù hợp với độ tuổi của cô.Bản mẫu:RBản mẫu:R Ngày phát hành album nhiều lần bị hoãn lại mà Lavigne cho biết là do phía hãng đĩa.Bản mẫu:RBản mẫu:R Goodbye Lullaby chính thức phát hành vào tháng 3 năm 2011,Bản mẫu:R với đĩa đơn chủ lực "What the Hell" được ra mắt trước vào tháng 12 năm 2010.Bản mẫu:R Goodbye Lullaby nhận được đề cử giải Juno cho hạng mục 'Album của năm' và 'Album Pop của năm'.[15] Đến tháng 3 năm 2018, Goodbye Lullaby bán được hơn 500.000 bản tại Mỹ và được RIAA chứng nhận đĩa Vàng.[10]
2012–2017: Album cùng tên
Chỉ ba tháng sau khi phát hành Goodbye Lullaby, Lavigne thông báo đã bắt đầu thực hiện album thứ năm, miêu tả đây sẽ là tác phẩm đối lập hoàn toàn về mặt âm nhạc so với Goodbye LullabyBản mẫu:R - "mang hơi hướng pop và vui tươi trở lại".Bản mẫu:R Cuối năm 2011, cô xác nhận chuyển sang hợp tác với Epic Records dưới sự điều hành của L. A. Reid.Bản mẫu:R Lavigne cũng thể hiện hai ca khúc cover cho phim hoạt hình Nhật Bản One Piece Film: Z: "How You Remind Me" (nguyên tác của Nickelback) và "Bad Reputation" (nguyên tác của Joan Jett).[16]
Đĩa đơn chủ lực từ album thứ năm - "Here's to Never Growing Up" (do Martin Johnson của nhóm Boys Like Girls sản xuất) phát hành tháng 4 năm 2013Bản mẫu:R và lọt vào top 20 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, Úc và Anh. Đĩa đơn thứ hai "Rock n Roll" ra mắt vào tháng 8 năm 2013, tiếp theo là "Let Me Go" (kết hợp cùng chồng cũ Chad Kroeger của Nickelback) phát hành tháng 10 năm 2013. Album mang tên Avril Lavigne chính thức ra mắt tháng 11 năm 2013,Bản mẫu:R giành được chứng nhận Vàng ở Canada và nhận đề cử giải Juno cho hạng mục 'Album pop của năm'.[17][18] Đĩa đơn thứ tư "Hello Kitty" (phát hành vào tháng 4 năm 2014) gây tranh cãi vì bị cho là có yếu tố phân biệt chủng tộc trong video, song điều này bị Lavigne bác bỏ.[19]
Giữa năm 2014, Lavigne tham gia làm nghệ sĩ mở màn cho chuyến lưu diễn In a World Like This Tour của nhóm nhạc Backstreet Boys[20] và biểu diễn tại lễ hội Summer Sonic Festival ở Tokyo, Nhật Bản.[18][21] Ngày 10 tháng 2 năm 2015, cô phát hành video ca nhạc cho "Give You What You Like" (đĩa đơn thứ năm từ album) - bài hát được sử dụng trong phim truyền hình điện ảnh Babysitter's Black Book của Lifetime.[22] Đến tháng 3 năm 2018, album đã bán được hơn 500.000 bản tại Mỹ và được RIAA chứng nhận đĩa Vàng.[10]
Trong một cuộc phỏng vấn với Billboard vào tháng 4 năm 2015, Lavigne công bố đĩa đơn mới mang tên "Fly" - chính thức phát hành ngày 26 tháng 4 như một phần của Thế vận hội Mùa hè đặc biệt 2015.[23]
Cô góp giọng trong ca khúc "Listen" thuộc album thứ tám Ambitions (phát hành ngày 11 tháng 1 năm 2017) của ban nhạc rock Nhật Bản One Ok Rock.[24] STiếp đó, cô cùng Anthony Green thể hiện ca khúc "Wings Clipped" cho EP đầu tay Chameleon (phát hành ngày 29 tháng 9 năm 2017) của bộ đôi Grey.[25]
2019–2020: Head Above Water
Album phòng thu thứ sáu của Lavigne mang tên Head Above Water chính thức ra mắt vào ngày 15 tháng 2 năm 2019 dưới sự phân phối của BMG.[26][27] Album lọt vào top 10 tại nhiều thị trường lớn bao gồm Úc, Áo, Canada, Đức, Ý, Nhật Bản, Thụy Sĩ và Vương quốc Anh, đồng thời đạt vị trí thứ 13 trên bảng xếp hạng Billboard 200 của Mỹ. Trước khi phát hành album, Lavigne đã cho ra mắt ba đĩa đơn: "Head Above Water", "Tell Me It's Over" và "Dumb Blonde", trong đó đĩa đơn chủ đề lấy cảm hứng từ cuộc chiến của cô với bệnh Lyme.[28][29][30] Đĩa đơn thứ tư "I Fell in Love with the Devil" được phát hành vào ngày 28 tháng 6 năm 2019.[31] Để quảng bá cho album, Lavigne đã khởi động chuyến lưu diễn Head Above Water Tour bắt đầu từ ngày 14 tháng 9 năm 2019.[32] Tuy nhiên, các buổi hòa nhạc tại châu Âu đã phải hoãn lại đến năm 2022 do đại dịch COVID-19.[33]
Ngày 24 tháng 4 năm 2020, Lavigne đã thu âm lại ca khúc "Warrior" từ album thứ sáu và phát hành dưới tên mới "We Are Warriors". Toàn bộ lợi nhuận từ đĩa đơn này được sử dụng để hỗ trợ các hoạt động cứu trợ của tổ chức Project HOPE trong cuộc chiến chống đại dịch COVID-19.[34]
2021–nay: Love Sux
Ngày 8 tháng 1 năm 2021, bản hợp tác giữa Mod Sun và Lavigne mang tên "Flames" chính thức ra mắt.[35][36] Chỉ một tháng sau, Lavigne xác nhận đã hoàn thành việc thu âm cho album tiếp theo của mình.[37]
Ngày 16 tháng 7 năm 2021, Willow Smith ra mắt album thứ tư Lately I Feel Everything với ca khúc "Grow" có sự góp giọng của Lavigne và Travis Barker.[38] Video âm nhạc cho bài hát này được phát hành vào tháng 10 cùng năm.[39]
Sau khi công bố ký hợp đồng với hãng đĩa DTA Records của Barker vào ngày 3 tháng 11 năm 2021,[40] Lavigne cho ra mắt đĩa đơn mới "Bite Me" vào ngày 10 tháng 11.[41] Đến ngày 13 tháng 1 năm 2022, cô chính thức thông báo về album thứ bảy Love Sux.[42] Phần lớn album được viết và sản xuất bởi bạn trai khi đó của cô - nghệ sĩ pop punk Mod Sun. Đĩa đơn thứ hai "Love It When You Hate Me" (phát hành ngày 14 tháng 1) có sự tham gia của ca sĩ người Mỹ Blackbear.[43] Album chính thức phát hành vào ngày 25 tháng 2,[44] ra mắt ở vị trí thứ 9 trên Billboard 200[45] và vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng Billboard Canadian Albums chart.[46]
Ngày 13 tháng 6 năm 2022, phiên bản đặc biệt kỷ niệm 20 năm album Let Go được phát hành, bao gồm 6 ca khúc bonus chưa từng công bố trước đây, trong đó có bài "Breakaway" (do Lavigne sáng tác, sau chuyển cho Kelly Clarkson thể hiện).[47][48]
Ngày 13 tháng 9 năm 2022, Lavigne tham dự, trao giải và biểu diễn tại Lễ vinh danh thường niên lần thứ 15 của Viện Hàn lâm Nhạc đồng quê (ACM) Honors tại Ryman Auditorium, Nashville, Tennessee. Cô trình diễn cover bài "No One Needs to Know" của Shania Twain và trao giải ACM Poets cho nữ ca sĩ này. Màn trình diễn của Lavigne đã nhận được nhiều phản hồi tích cực.[49][50]
Ngày 24 tháng 10 năm 2022, Lavigne thông báo sẽ phát hành đĩa đơn "I'm a Mess" hợp tác với ca sĩ người Anh Yungblud vào ngày 3 tháng 11 năm 2022.[51] Ca khúc này được chọn làm đĩa đơn chủ lực cho phiên bản deluxe của album Love Sux (phát hành vào ngày 25 tháng 11).[52] Trong quá trình quảng bá "I'm a Mess", Lavigne xác nhận đang thực hiện album thứ tám với sự tham gia của John Feldmann, Barker, Yungblud và Alex Gaskarth (All Time Low).[53] Đến ngày 15 tháng 9 năm 2023, sản phẩm hợp tác "Fake as Hell" giữa Lavigne và All Time Low được chính thức phát hành đĩa đơn.[54] Trước đó vào ngày 9 tháng 6 năm 2023, Lavigne đã có màn trình diễn trực tiếp cùng nghệ sĩ nhạc đồng quê Miranda Lambert tại CMA Fest 2023 ở sân vận động Nissan, Nashville, Tennessee, với màn phối hợp đặc biệt giữa ca khúc "Kerosene" của Lambert và "Sk8er Boi" của Lavigne.[55][56]
Ngày 10 tháng 5 năm 2024, Lavigne thông báo kế hoạch phát hành album tuyển tập vào ngày 21 tháng 6 năm 2024.[57] Ngày 16 tháng 5 năm 2024, cô cùng nghệ sĩ nhạc đồng quê Nate Smith ra mắt đĩa đơn hợp tác "Bulletproof" (ban đầu vốn là đĩa đơn solo trước đó của Smith) và trình diễn ca khúc này tại lễ trao giải Hàn lâm nhạc đồng quê lần thứ 59.[58] Để quảng bá album, Lavigne khởi động chuyến lưu diễn Greatest Hits Tour từ ngày 22 tháng 5 đến 18 tháng 9 năm 2024.[59][60] Ngày 30 tháng 6 năm 2024, cô lần đầu biểu diễn tại Nhạc hội Glastonbury (Anh), thu hút một trong những đám đông kỷ lục tại sân khấu Other Stage.[61][62][63][64]
Ngày 3 tháng 10 năm 2024, thông tin tiết lộ Lavigne đã thu âm một đĩa đơn hợp tác khác với Smith mang tên "Can You Die from a Broken Heart". Ca khúc này nằm trong album thứ hai California Gold của Smith và được chọn làm đĩa đơn thứ ba từ album.[65]
Năm 2025 đánh dấu sự hợp tác giữa Lavigne và Billy Idol trong ca khúc "77" trích từ album Dream Into It của Billy.[66] Cả hai đã cùng trình diễn trực tiếp ca khúc này trong tập phát sóng ngày 28 tháng 4 của chương trình Jimmy Kimmel Live!.[67] Ngày 9 tháng 5 năm 2025, Lavigne phát hành đĩa đơn "Young & Dumb" hợp tác với Simple Plan.[68][69] Simple Plan từng đồng hành cùng cô trong chuyến lưu diễn đầu tiên Try To Shut Me Up Tour (2002-2003). Chính chuyến lưu diễn này đã trở thành nguồn cảm hứng cho ca khúc mới.[70]
Phong cách nghệ thuật
Phong cách âm nhạc
Đa số nhà phê bình đánh giá Avril Lavigne là nghệ sĩ thuộc dòng nhạc pop-punk,[71][72][73] alternative rock,[74][73] pop,[72][75] pop rock,[76][77] power pop[78] và teen pop.[73] Ba album đầu tiên của cô được mô tả là sự pha trộn giữa pop-punk, alternative rock và pop rock,[79]Bản mẫu:R với các yếu tố của post-grunge,Bản mẫu:R đồng thời chịu ảnh hưởng mạnh từ teen pop khi phần lớn ca từ mang góc nhìn tuổi teen - khiến giới phê bình gọi âm nhạc của cô là alternateen hoặc teen punk.Bản mẫu:R
Album đầu tay Let Go mang âm hưởng grunge nhẹ, với chất giọng Lavigne thường được so sánh với Alanis Morissette.[80][81][82] Album thứ hai Under My Skin có màu sắc u tối hơn với phần sản xuất nặng hơn, nhiều bản ballad và âm thanh post-grunge gần với nu metal,[83][84][85] nhưng vẫn giữ những power chord đặc trưng của pop-punk.[86] Album này được coi là báo hiệu trước "cường độ cảm xúc và thẩm mỹ sân khấu" của emo-pop trước khi dòng nhạc này trở nên phổ biến,[87] thường được so sánh với các ban nhạc nặng như Linkin Park và Evanescence.[88][89][90] Trái ngược hoàn toàn, The Best Damn Thing mang phong cách pop-punk đơn giản hơn mà tạp chí Blender nhận xét "nghe như Toni Basil làm hoạt náo viên cho Blink-182",[91] với khả năng kết hợp giai điệu bubblegum pop cùng riff punk rock đầy ấn tượng.[92]
Âm nhạc Lavigne trở nên mềm mại và pop hơn ở album thứ tư (Goodbye Lullaby) và album thứ sáu (Head Above Water) với đặc trưng là acoustic pop rock và ít phụ thuộc vào guitar - điểm khác biệt so với các tác phẩm đầu.[93] Dù vậy, nhiều ca khúc vẫn được xếp vào pop-punk như "Dumb Blonde" (hợp tác với Nicki Minaj) pha trộn hip-hop trong Head Above Water.[94] Trong khi đó, album thứ năm Avril Lavigne đa dạng hơn với sự pha trộn giữa dance-pop và các bản rock mạnh[95] như "Hello Kitty" (thử nghiệm với J-pop, dubstep và EDM) và "Bad Girl" (hợp tác với nhạc sĩ rock Marilyn Manson) - được coi là một trong những ca khúc nặng nhất của cô.[95] Lavigne trở về với gốc pop-punk trong album thứ bảy Love Sux nhờ làn sóng hồi sinh của dòng nhạc này, thể hiện rõ nỗi ám ảnh emo-pop cùng ảnh hưởng skate punk của NOFX, Blink-182, Green Day và The Offspring.
Lavigne sở hữu chất giọng soprano.[96][97][98][99] Pat Blashill (Rolling Stone) khi đánh giá "Sk8er Boi" đã miêu tả giọng cô là "sự hòa trộn giữa nữ tính ngọt ngào và khàn khàn đầy quyến rũ".[100] Chủ đề trong âm nhạc của cô thường xoay quanh thông điệp trao quyền từ góc nhìn nữ giới hoặc tuổi mới lớn.Bản mẫu:R Lavigne chia sẻ: "Những bài hát của tôi nói về việc là chính mình và theo đuổi ước mơ dù điên rồ hay bị người khác cho là không thể."Bản mẫu:R Năm 2007, Ian McKellen trên chương trình The Late Late Show with Craig Ferguson đã định nghĩa cô là "nữ danh ca punk, valkyrie post-grunge với tâm hồn đa cảm của thi sĩ và khí chất bùng nổ đặc trưng người Canada".Bản mẫu:R
Sáng tác bài hát
— Lavigne chia sẻ về nghệ thuật âm nhạc của cô.Bản mẫu:R
Trong album đầu tay Let Go, Lavigne có xu hướng thích những ca khúc ít mang tính thương mại chủ đạo hơn (chẳng hạn như "Losing Grip"), thay vì những đĩa đơn phù hợp với radio của cô như "Complicated". Cô chia sẻ: "Những bài hát tôi thực hiện với The Matrix... rất tốt cho album đầu tay, nhưng tôi không muốn trở nên pop như vậy nữa."Bản mẫu:R Album thứ hai - Under My Skin của Lavigne chứa đựng những chủ đề cá nhân sâu sắc hơn trong từng bài hát. Lavigne nhận xét rằng: "Tôi đã trải qua rất nhiều chuyện và đó là những gì tôi nói đến... Như chuyện trai gái, hẹn hò hay các mối quan hệ."Bản mẫu:R Ngược lại, album thứ ba The Best Damn Thing lại không mang tính cá nhân đối với cô: "Một số bài hát tôi viết thậm chí còn không có ý nghĩa quá lớn với tôi. Nó không giống như một trải nghiệm cá nhân nào đó mà tôi đang trải qua."Bản mẫu:R Mục tiêu của cô khi sáng tác album này đơn giản chỉ là để "tạo nên sự vui vẻ".Bản mẫu:R Album thứ tư Goodbye Lullaby lại mang đậm tính cá nhân hơn nhiều so với các album trước đó,Bản mẫu:R Lavigne miêu tả album là "mộc mạc hơn, sâu sắc hơn. Tất cả các bài hát đều rất giàu cảm xúc."[101]
Mặc dù Lavigne nói rằng cô không tức giận, nhưng các cuộc phỏng vấn của cô vẫn thể hiện sự bức xúc trước việc giới truyền thông thiếu tôn trọng khả năng sáng tác ca khúc của cô. Cô khẳng định: "Tôi là một nhạc sĩ và tôi sẽ không chấp nhận việc mọi người cố gắng tước đi điều đó của tôi", đồng thời nói thêm rằng cô đã viết "những bài hát hoàn chỉnh" từ khi 14 tuổi.Bản mẫu:R Dù vậy, khả năng viết nhạc của Lavigne vẫn bị đặt dấu hỏi trong suốt sự nghiệp của cô. Bộ ba sáng tác The Matrix (những người từng cộng tác viết nhạc với Lavigne cho album Let Go) đã tuyên bố họ mới là những người sáng tác chính cho các đĩa đơn "Complicated", "Sk8er Boi" và "I'm with You". Lavigne phản bác rằng cô mới là nhạc sĩ chính cho mọi ca khúc trong album, và khẳng định: "Không có bài hát nào trong số đó là không phải do tôi sáng tác".Bản mẫu:R
Năm 2007, Chantal Kreviazuk (người sáng tác chung với Lavigne cho album Under My Skin) đã buộc tội cô đạo nhạc và chỉ trích khả năng sáng tác của cô, cho rằng "Avril không thực sự ngồi xuống và tự mình sáng tác các bài hát hay bất cứ thứ gì."[102]Bản mẫu:R Lavigne một lần nữa bác bỏ điều này và cân nhắc việc khởi kiện Kreviazuk vì tội "phỉ báng rõ ràng" nhân phẩm của cô.Bản mẫu:R Về sau, Kreviazuk đã xin lỗi, nói rằng "Avril là một nhạc sĩ tài năng và tôi rất hân hạnh được làm việc với cô ấy."Bản mẫu:R Ngay sau đó, Tommy Dunbar (sáng lập ban nhạc the Rubinoos) đã kiện Lavigne, công ty xuất bản của cô và Lukasz "Dr. Luke" Gottwald với cáo buộc đạo nhái một phần ca khúc "I Wanna Be Your Boyfriend" để tạo nên bài hát "Girlfriend" của cô.Bản mẫu:R Gottwald đã bảo vệ Lavigne bằng tuyên bố: "Tôi và Avril cùng nhau sáng tác bài hát đó... Nó có tiến trình hợp âm giống với 10 bài hát khác nhau của Blink-182, những thay đổi cơ bản bạn có thể tìm thấy trong một bài hát của Sum 41. Đó là phong cách của Sex Pistols, không phải của The Rubinoos."Bản mẫu:R Đến tháng 1 năm 2008, một thỏa thuận dàn xếp bí mật đã đạt được giữa các bên.Bản mẫu:R
Ảnh hưởng
Những ảnh hưởng ban đầu của Lavigne đến từ các nghệ sĩ nhạc đồng quê như Garth Brooks, The Chicks, và Shania Twain,Bản mẫu:R cùng các ca sĩ-nhạc sĩ alternative như Alanis Morissette, Lisa Loeb, Natalie Imbruglia và Janis Joplin.Bản mẫu:R Đến thời điểm cô nghỉ học để tập trung vào sự nghiệp âm nhạc, Lavigne chịu ảnh hưởng nhiều hơn từ thể loại skate punk, pop punk và các nghệ sĩ punk rock như Blink-182, The Offspring, Sum 41, NOFX, Pennywise, Green Day, the Ramones, The Distillers và Hole. Cô cũng yêu thích các ban nhạc metal như Marilyn Manson và System of a Down, cũng như các ban nhạc alternative như Nirvana, No Doubt, Goo Goo Dolls, Radiohead, the Cranberries, Coldplay, Oasis, Third Eye Blind, Matchbox Twenty, Incubus, Dashboard Confessional và The Used.Bản mẫu:R[103][104]
Chính vì những ảnh hưởng, thể loại âm nhạc và phong cách cá nhân này, giới truyền thông thường gắn cho cô mác punk - song cô phủ nhận cái mác này. Evan Taubenfeld (bạn thân và tay guitar đầu tiên của Lavigne) chia sẻ: "Đây là một chủ đề khá nhạy cảm với nhiều người, nhưng điểm mấu chốt là Avril không phải là punk, nhưng cô ấy cũng chẳng bao giờ giả vờ hay tự nhận mình xuất thân từ sân chơi đó. Cô ấy có âm nhạc pop punk và giới truyền thông đã làm nốt phần việc còn lại."Bản mẫu:R Avril nhận xét về vấn đề này: "Tôi đã bị cộp mác như một cô gái nổi loạn, giận dữ... một nghệ sĩ punk, trong khi tôi hoàn toàn không phải như vậy."Bản mẫu:R Tuy nhiên, cô cũng thừa nhận âm nhạc của mình có chịu ảnh hưởng từ punk: "Tôi thích nghe nhạc punk rock và bạn có thể nhận thấy một chút ảnh hưởng của punk trong âm nhạc của tôi. Tôi thích một thứ âm nhạc mạnh mẽ, nhưng về cơ bản vẫn là pop-rock đậm chất, đó mới thực sự là thứ tôi làm."Bản mẫu:R[105]
Hình ảnh công chúng
— Lavigne chia sẻ về hình tượng nghệ thuật thời kỳ đầu sự nghiệp.Bản mẫu:R
Khi lần đầu nổi tiếng, Lavigne được biết đến với phong cách tomboy,Bản mẫu:R đặc biệt là sự kết hợp giữa áo ba lỗ và cà vạt.Bản mẫu:R Cô ưa chuộng trang phục rộng thùng thình, giày trượt ván hoặc giày Converse,Bản mẫu:R vải buộc cổ tay và đôi khi là dây giày quấn quanh ngón tay.Bản mẫu:R Trong các buổi chụp hình, thay vì diện "những bộ cánh lấp lánh", cô thích mặc những "chiếc áo phông cũ nhàu nát".Bản mẫu:R Nhờ sức ảnh hưởng từ thời trang và âm nhạc của cô, giới truyền thông gọi Lavigne là "công chúa pop-punk"Bản mẫu:R và là phiên bản nữ của Blink-182.[106] Báo chí và người hâm mộ xem cô là "phản-Britney" (anti-Britney), một phần vì hình ảnh ít thương mại và chân thật hơn, nhưng cũng bởi cô rất cứng đầu. Cô cho biết: "Tôi không trang điểm đậm và không bị ai sai bảo phải nói gì hay cư xử thế nào, thế nên họ gán cho tôi biệt danh phản-Britney, dù tôi không phải vậy."Bản mẫu:R Tuy nhiên, đến tháng 11 năm 2002, Lavigne ngừng đeo cà vạt, với lý do cảm thấy như mình "đang mặc một bộ trang phục hóa trang".Bản mẫu:R Lavigne chủ tâm nỗ lực để âm nhạc, chứ không phải hình ảnh, là yếu tố then chốt trong sự nghiệp của mình.Bản mẫu:R
Sau này, Lavigne chuyển sang phong cách gothic hơn khi bắt đầu thực hiện album thứ hai Under My Skin, thay thế trang phục trượt băng bằng những chiếc váy xòe đenBản mẫu:R và xây dựng hình ảnh đậm chất bất cần, lo âu.Bản mẫu:R Trong giai đoạn The Best Damn Thing, Lavigne lại thay đổi hướng đi. Cô nhuộm tóc vàng với một lọn hồng, mặc những bộ trang phục nữ tính,Bản mẫu:R như "quần jean bó và giày cao gót"Bản mẫu:R và làm người mẫu cho các tạp chí như Harper's Bazaar.Bản mẫu:R Lavigne bảo vệ phong cách mới của mình: "Tôi không thực sự hối tiếc điều gì. Bạn biết đấy, những chiếc cà vạt và áo ba lỗ... Chúng đã có thời của chúng. Và giờ tôi đã trưởng thành, tôi tiến về phía trước".Bản mẫu:R
Lavigne từng là chủ đề của một thuyết âm mưu cho rằng cô đã tự sát vào năm 2003 và được thay thế bởi một người giống hệt, vốn trước đó được thuê để đánh lạc hướng giới săn ảnh. Thuyết này bắt nguồn từ một trò đùa trên blog của Brazil, nhưng sau đó đã được một số người tin thuyết âm mưu nghiêm túc chấp nhận.[107] Trong một cuộc phỏng vấn với đài KIIS 106.5 của Úc vào tháng 11 năm 2018, Lavigne Lavigne đã phản hồi về tin đồn này: "Vâng, một số người nghĩ rằng tôi không phải là tôi thật, thật là kỳ lạ! Kiểu, tại sao họ lại nghĩ vậy chứ?"[108]
Di sản
Lavigne thường được vinh danh là đại diện nữ xuất sắc nhất của dòng nhạc pop-punk và là một trong những giọng ca nữ tiêu biểu nhất cho nền nhạc rock những năm 2000.[109][110][111][112]
Cô thường được so sánh với các nữ ca sĩ kiêm nhạc sĩ alternative thập niên 90 như Alanis Morissette, Liz Phair và Courtney Love. Lavigne còn được xem là biểu tượng thời trang nhờ phong cách skatepunk và rocker đặc trưng.[113][114] Trên tờ Mail & Guardian, nhà báo Kimberley Schoeman gọi Lavigne là "biểu tượng queer" và "điểm tựa cho những người nhận ra 'Tôi thích cả con trai lẫn con gái'".[115] Các bài hát "Sk8er Boi", "He Wasn't" và "Girlfriend" thường xuyên được giới phê bình liệt vào danh sách những bản nhạc pop-punk hay nhất mọi thời đại.[116][117][118][119]
Cô chính là người mở đường cho thế hệ nghệ sĩ pop nữ chịu ảnh hưởng từ punk sau này như Paramore, Skye Sweetnam, Fefe Dobson, Lillix, Kelly Osbourne, Krystal Meyers, Tonight Alive, Courage My Love và Hey Monday.[120][121][122][123] Cô đã ảnh hưởng đến một loạt đông đảo các nghệ sĩ âm nhạc, bao gồm các nghệ sĩ/nhóm nhạc như Tramp Stamps,[124] Bebe Rexha,[125] Billie Eilish,[126] Courage My Love,[127] 5 Seconds of Summer,[128] Yungblud,[129] Maggie Lindemann,[130] Tonight Alive,[131][132] Willow Smith,[133] Amanda Palmer,[134] Misono,[135] Rina Sawayama,[136] Hey Monday,[137] Grey,[138] Ed Sheeran,[139] Kailee Morgue,[140] Charli XCX,[141][142] MercyMe,[143] Palberta,[144] Yeule,[145][146][147] Olivia Rodrigo[148][149] và Kirstin Maldonado.[150] Amy Studt từng được ca ngợi là "phiên bản Anh Quốc" của Avril Lavigne.[151] Lavigne . Lavigne cũng ảnh hưởng đến các ca sĩ kiêm nhạc sĩ indie rock như Pale Waves,[152][153][154] Graace,[155] Phoebe Bridgers,[156][157] Soccer Mommy,[158] Ethel Cain,[159] Snail Mail và Liz Phair.[160]
Tạp chí Nylon nhận định cô đã ảnh hưởng đến các nhạc sĩ trong sự trỗi dậy của làn sóng emo hip hop và emo rap vào giữa đến cuối thập niên 2010, bao gồm Lil Uzi Vert, Princess Nokia, Lloyd Banks, Vic Mensa, Nipsey Hussle, Noname và Rico Nasty. Rapper người Mỹ Fat Tony cho rằng cô có ảnh hưởng đến nhạc hip hop và rap vì "cô ấy đã mang đến một gói hàng thị giác bắt tai tuyệt vời [gồm nhạc punk, nhạc pop và văn hóa skater] mô tả cho tất cả bọn họ." Rico Nasty đặt tên cho một trong những phiên bản thay thế của cô là Trap Lavigne, nói rằng "Cô ấy là một hình mẫu hoàn hảo của sự cứng rắn và dịu dàng [...] cô ấy ghét thuật ngữ punk, nhưng bản thân cô lại rất punk rock".[161]
Một meme internet dai dẳng về một bài hát được cho là do Lavigne sáng tác tên "Dolphins" đã xuất hiện trên các trang web lời bài hát từ năm 2007, nhưng thực tế cô không hề sáng tác hay thu âm bài hát này. Lời bài hát xuất hiện trên hàng chục trang web lời nhạc và nhiều ban nhạc khác nhau đã thu âm lại bài hát mà bản thân Lavigne chưa từng thu.[162][163]
Lavigne đã xuất hiện trong trò chơi điện tử The Sims: Superstar (2003) với vai nhân vật người nổi tiếng không điều khiển được.Bản mẫu:R
Vào giữa năm 2007, Lavigne xuất hiện trong một bộ graphic novel hai tập có nhan đề Avril Lavigne's Make 5 Wishes. Cô đã hợp tác với họa sĩ Camilla d'Errico và nhà văn Joshua Dysart để thực hiện bộ manga này. Tác phẩm kể về một cô gái nhút nhát tên Hana, người sau khi gặp được thần tượng của mình là Lavigne đã học cách vượt qua nỗi sợ hãi. Lavigne cho biết: "Tôi biết rất nhiều người hâm mộ của tôi đọc manga và tôi thực sự hào hứng khi được tham gia tạo ra những câu chuyện mà tôi biết họ sẽ thích." Tập đầu tiên được phát hành vào tháng 4 năm 2007 và tập thứ hai ra mắt vào tháng 7 năm 2007. Ấn phẩm Young Adult Library Services đã đề cử bộ truyện này cho hạng mục "Graphic novel tuyệt vời cho thanh thiếu niên".Bản mẫu:R
Thành tựu
Năm 2003, Lavigne đã giành được Giải thưởng Thành tựu Quốc tế cho ca khúc "Complicated" tại lễ trao giải SOCAN ở Toronto.[164] Cô nhận được tổng cộng tám đề cử giải Grammy trong vòng hai năm, bao gồm hạng mục Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất. Cô cũng nhận được ba đề cử giải Âm nhạc Mỹ, một đề cử giải Brit và một giải Video âm nhạc của MTV. Trên toàn cầu, Lavigne đã bán được hơn 30 triệu đĩa đơn và 40 triệu bản album,[165][166] bao gồm hơn 12,4 triệu bản album tại Mỹ theo thống kê của Billboard.[167] Năm 2009, Billboard xếp Lavigne ở vị trí thứ 10 trong bảng xếp hạng "Nghệ sĩ pop xuất sắc nhất thập niên 2000".Bản mẫu:R Dựa trên thành tích trên các bảng xếp hạng album và đĩa đơn tại Mỹ, cô được xếp hạng là nghệ sĩ xuất sắc thứ 28 của thập kỷ.Bản mẫu:R[164] Gần đây, tạp chí này còn xếp cô ở vị trí thứ 19 trong danh sách "Top những nữ nghệ sĩ hàng đầu thế kỷ 21" vào năm 2025.[168]
Lavigne từng được Sách Kỷ lục Guinness ghi danh là nữ nghệ sĩ hát đơn trẻ tuổi nhất đứng đầu bảng xếp hạng UK Album Chart vào ngày 11 tháng 1 năm 2003, khi mới 18 tuổi 106 ngày. Album Let Go đạt vị trí số một trong tuần xếp hạng thứ 18.[169] Cô giữ kỷ lục này cho đến năm 2004, khi bảng xếp hạng Anh báo cáo rằng album Mind Body & Soul của Joss Stone đã phá kỷ lục vào năm tiếp theo.[170] Cô cũng là người đầu tiên đạt 100 triệu lượt xem trên một video YouTube, với đĩa đơn "Girlfriend" (2007).[171] Lavigne là nghệ sĩ phương Tây đầu tiên thực hiện một chuyến lưu diễn toàn diện tại Trung Quốc với The Best Damn Tour (2008) và được coi là nghệ sĩ phương Tây lớn nhất ở châu Á, đặc biệt là tại Nhật Bản - nơi ba album đầu tiên của cô đã bán được hơn một triệu bản (trở thành nữ nghệ sĩ phương Tây duy nhất kể từ những năm 2000 đạt được điều này).[172] Lavigne là nghệ sĩ duy nhất biểu diễn tại ba sự kiện nhiều môn thể thao khác nhau: hai lễ bế mạc Thế vận hội Mùa đông (Torino 2006[173] và Vancouver 2010[174]) và lễ khai mạc Thế vận hội Mùa hè Đặc biệt 2015.[175] Tháng 6 năm 2024, cô đã được trao tặng Huân chương Canada.[176]
Hoạt động khác
Sự nghiệp diễn xuất
Lavigne bày tỏ hứng thú với việc xuất hiện trên truyền hình và trong các phim điện ảnh. Cô khẳng định đây là quyết định cá nhân. Dù kinh nghiệm quay video âm nhạc mang lại lợi thế, Lavigne thừa nhận việc biểu diễn ca hát đã giúp cô không còn e ngại trước máy quay. Đặc biệt, cô nhấn mạnh video "Nobody's Home" đòi hỏi kỹ năng "diễn xuất" nhiều nhất.Bản mẫu:R Lần đầu Lavigne xuất hiện trên truyền hình là trong tập phim Sabrina – Cô phù thủy nhỏ (2002)Bản mẫu:R với màn thể hiện bài "Sk8er Boi"Bản mẫu:R cùng ban nhạc tại một hộp đêm.Bản mẫu:R Sau đó, cô có vai khách mời trong phim Going the Distance (2004). Trong phim, các nhân vật chính tình cờ gặp cô hậu trường tại lễ trao giải MuchMusic Video AwardsBản mẫu:R sau màn trình diễn "Losing Grip".Bản mẫu:R
Lavigne bước vào lĩnh vực diễn xuất điện ảnh một cách thận trọng, chủ động chọn những vai nhỏ để bắt đầu. Tháng 11 năm 2005, sau khi vượt qua buổi thử vai, cô đến New MexicoBản mẫu:Rđể quay một cảnh duy nhất trong phim The Flock (2007).Bản mẫu:R Cô vào vai Beatrice Bell - bạn gái của một nghi phạm, cùng diễn với Claire Danes và Richard Gere. Gere đã chia sẻ với Lavigne nhiều mẹo diễn xuất giữa các cảnh quay.Bản mẫu:R Về vai diễn trong The Flock, Lavigne chia sẻ: "Tôi tham gia để trải nghiệm và không vội lao vào [diễn xuất đại chúng] quá nhanh."Bản mẫu:R The Flock không được phát hành tại các rạp Mỹ và chỉ ra mắt ở thị trường nước ngoài vào cuối năm 2007, nên không được xem là tác phẩm điện ảnh đầu tay của cô. Phim thu về 7 triệu USD doanh thu phòng vé quốc tế.Bản mẫu:R
Tác phẩm điện ảnh đầu tay của Lavigne là lồng tiếng cho nhân vật hoạt hình Heather (một loài động vật có vú của Virginia) trong phim Over the Hedge, chuyển thể từ truyện tranh cùng tên. Cô nhận thấy quá trình thu âm khá "dễ dàng" và "tự nhiên", nhưng thường xuyên va vào micro do thói quen dùng tay diễn tả: "Tôi liên tục dùng tay và va vào giá micro... Đạo diễn Tim và biên kịch Karey phải nhắc tôi giữ yên. Thật khó để vừa tạo âm thanh chạy hay ngã cầu thang vừa giữ cơ thể bất động." Lavigne tin rằng cô được chọn lồng tiếng cho Heather nhờ hình tượng ngôi sao rock: "Đạo diễn nghĩ tôi sẽ mang đến cho nhân vật... chút cá tính".Bản mẫu:R Phim ra rạp ngày 19 tháng 5 năm 2006, thu về 38 triệu USD cuối tuần công chiếu và đạt tổng doanh thu 336 triệu USD toàn cầu.Bản mẫu:R
Tháng 12 năm 2005, Lavigne ký hợp đồng tham gia Fast Food Nation - phim chuyển thể từ sách Fast Food Nation: The Dark Side of the All-American Meal về mặt tối của ngành công nghiệp thức ăn nhanh Mỹ.Bản mẫu:R Tác phẩm giả tưởng này do Richard Linklater làm đạo diễn lần theo dấu vết những chiếc bánh hamburger nhiễm phân bò từ các lò mổ.Bản mẫu:R Lavigne vào vai Alice - nữ sinh trung học quyết tâm giải cứu đàn bò.Bản mẫu:RBản mẫu:R Phim khởi chiếu ngày 17 tháng 11 năm 2006, duy trì suất chiếu trong 11 tuần và thu về 2 triệu USD toàn cầu.Bản mẫu:R
Cả hai phim đều được công chiếu tại Liên hoan phim Cannes 2006 mà Lavigne tham dự. Khi được hỏi về kế hoạch điện ảnh, cô nhấn mạnh muốn chọn lựa kỹ lưỡng: "Tôi muốn bắt đầu từ những vai nhỏ để học hỏi. Tôi không muốn lao ngay vào vai lớn."Bản mẫu:R Tháng 8 năm 2006, tạp chí Canadian Business xếp cô thứ 7 trong danh sách diễn viên Canada quyền lực nhất Hollywood dựa trên thu nhập, lượt truy cập Internet, tần suất xuất hiện trên truyền hình và báo chí.Bản mẫu:R Tháng 9 năm 2011, Lavigne tham gia chương trình thi ca hát Majors & Minors của Hub Network với vai trò khách mời cố vấn cùng Adam Lambert và Leona Lewis.Bản mẫu:R
Sản phẩm thương mại và hợp tác
— Lavigne chia sẻ về mối liên hệ giữa thời trang và âm nhạc.Bản mẫu:R
Tháng 7 năm 2008, Lavigne ra mắt dòng thời trang Abbey Dawn với bộ sưu tập back-to-school, được sản xuất độc quyền cho chuỗi bán lẻ Kohl's tại Mỹ. Lấy cảm hứng từ biệt danh thời thơ ấu của cô, Abbey Dawn do chính Lavigne thiết kế.Bản mẫu:R Kohl's mô tả đây là "thương hiệu phong cách cho giới trẻ"Bản mẫu:R với các họa tiết xương, ngựa vằn, ngôi sao cùng tông màu tím, hồng neon và đen đặc trưng. Lavigne (người đã diện nhiều mẫu thiết kế từ bộ sưu tập trong các buổi diễn trước khi ra mắt) nhấn mạnh: "Tôi thực sự là người thiết kế. Điều quan trọng là mọi thứ phải vừa vặn và chất lượng, nên tôi tự mặc thử và phê duyệt tất cả."Bản mẫu:R Thiết kế của cô cũng xuất hiện trong trò chơi trực tuyến Stardoll, nơi người chơi có thể hóa thân thành Lavigne.Bản mẫu:R
— Lavigne nói về công việc thiết kế thời trang.Bản mẫu:R
Ngày 14 tháng 9 năm 2009, Lavigne giới thiệu bộ sưu tập mới nhất của Abbey Dawn tại Tuần lễ Thời trang New YorkBản mẫu:R và trở lại sự kiện này vào năm 2011.Bản mẫu:R Đến tháng 12 năm 2010, dòng thời trang chính thức được phân phối tới hơn 50 quốc gia qua website chính thức.Bản mẫu:R
Lavigne ra mắt dòng nước hoa đầu tay Black Star do Procter & Gamble Prestige Products sáng tạo, được công bố trên website chính thức ngày 7 tháng 3 năm 2009. Mùi hương của Black Star với hương đầu dâm bụt hồng, mận đen và socola đen này phát hành vào mùa hè 2009 tại châu Âu, sau đó là Mỹ và Canada.Bản mẫu:R Giải thích về tên gọi, Lavigne chia sẻ: "Tôi muốn chai nước hoa hình ngôi sao, màu sắc của tôi là hồng và đen. Black Star tượng trưng cho sự khác biệt, nổi bật giữa đám đông và vươn tới những vì sao - thông điệp về việc theo đuổi ước mơ và trở thành chính mình."Bản mẫu:R Black Star giành giải "Nước hoa Nữ phổ biến nhất 2010" do Cosmetic Executive Women (CEW) bình chọn.Bản mẫu:R Tháng 7 năm 2010, cô cho ra mắt Forbidden RoseBản mẫu:R - phiên bản mất hai năm phát triển với hương táo đỏ, đào rượu, tiêu đen, hoa sen, hoa thiên điểu, hạnh nhân caramel, gỗ đàn hương và vani,Bản mẫu:R mang thông điệp kế thừa "theo đuổi ước mơ"Bản mẫu:R nhưng với khẩu hiệu "Dám khám phá" ("Dare to Discover").Bản mẫu:R TVC được quay trong khung cảnh khu vườn gothic,Bản mẫu:R nơi Lavigne tìm thấy đóa hồng tím duy nhất.Bản mẫu:R Tháng 8 năm 2011, cô phát hành nước hoa thứ ba Wild Rose với khẩu hiệu "Dám khám phá thêm" ("Dare to discover more"),[177] có hương cam quýt, bưởi hồng, mận, hoa cam, frangipani, lan xanh, xạ hương, gỗ đàn hương và kem caramel.Bản mẫu:R
Tháng 1 năm 2010, Lavigne hợp tác với Disney đưa cảm hứng từ phim Alice ở xứ sở thần tiên vào dòng thời trang Abbey Dawn.Bản mẫu:R Các thiết kế của cô được trưng bày tại Viện Thời trang & Mua hàng (Fashion Institute of Design and Merchandising) California từ tháng 5 đến tháng 9, cùng trang phục do Colleen Atwood thiết kế cho phiên bản phim 2010.Bản mẫu:R
Hoạt động từ thiện
Lavigne tham gia tích cực vào nhiều tổ chức thiện nguyện như Make Some Noise, Amnesty International, Erase MS, AmericanCPR.org, Special Olympics, Camp Will-a-Way, Music Clearing Minefields, US Campaign for Burma, Make-A-Wish Foundation và War Child. SCô từng xuất hiện trong quảng cáo của ALDO phối hợp cùng YouthAIDS để gây quỹ nâng cao nhận thức toàn cầu về HIV/AIDS. Ngày 28 tháng 11 năm 2007, Lavigne tham gia buổi hòa nhạc Unite Against AIDS do ALDO tổ chức nhằm hỗ trợ UNICEF tại Bell Centre, Montréal, Québec, Canada.Bản mẫu:R Tháng 11 năm 2010, cô tham dự Sáng kiến toàn cầu Clinton.Bản mẫu:R
Trong chuyến lưu diễn bờ Đông năm 2005, Lavigne hợp tác với Reverb - tổ chức phi lợi nhuận về môi trường.Bản mẫu:R Cô đã cover bài "Knockin' on Heaven's Door" cho album gây quỹ Peace Songs của War Child và thu âm bản cover "Imagine" của John Lennon cho album từ thiện Instant Karma: The Amnesty International Campaign to Save Darfur. Album được phát hành ngày 12 tháng 6 năm 2007 để gây quỹ cho chiến dịch của Ân xá Quốc tế nhằm giảm bớt khủng hoảng ở Darfur.Bản mẫu:R
Ngày 5 tháng 12 năm 2009, Lavigne trở lại sân khấu tại sự kiện từ thiện lớn nhất Mỹ Latinh "Teleton" ở thành phố Mexico. Cô trình diễn acoustic hai ca khúc "Complicated" và "Girlfriend" cùng Evan Taubenfeld và Jim McGorman (thành viên ban nhạc của cô).Bản mẫu:R Năm 2010, cô góp giọng trong bản cover "Wavin' Flag" của K'naan cùng nhiều nghệ sĩ quốc tế để gây quỹ cứu trợ động đất Haiti.Bản mẫu:R
Ngày 14 tháng 9 năm 2010, Lavigne chính thức ra mắt quỹ từ thiện mang tên cô - "The Avril Lavigne Foundation" - với mục tiêu hỗ trợ giới trẻ mắc bệnh hiểm nghèo và khuyết tật,Bản mẫu:R đồng thời hợp tác với các tổ chức từ thiện hàng đầu.Bản mẫu:R Quỹ đã thiết lập quan hệ đối tác với Easter Seals, Make-A-Wish Foundation và Erase MS.Bản mẫu:R Chính những trải nghiệm với Make-A-Wish Foundation đã truyền cảm hứng để cô thành lập quỹ riêng, khi Lavigne chia sẻ: "Tôi thực sự muốn làm được nhiều hơn nữa."Bản mẫu:R Trên website của quỹ, cô khẳng định: "Tôi luôn tìm cách đền đáp xã hội vì tin rằng đó là trách nhiệm chung của tất cả chúng ta."Bản mẫu:R Tổ chức Global Philanthropy Group của nhà từ thiện Trevor Neilson đảm nhận vai trò cố vấn cho quỹ cùng nhiều người nổi tiếng khác như nhạc sĩ John Legend.Bản mẫu:R
Tháng 9 năm 2014, nhân dịp sinh nhật, cô phát động chiến dịch gây quợ cá nhân cho Special Olympics. Lợi nhuận từ sự kiện "Team Rockstar" đã được cô sử dụng để tài trợ cho các vận động viên toàn cầu tham dự Đại hội Thể thao Olympic Đặc biệt Thế giới 2015 tại Los Angeles.[178][179] Những vận động viên này chính là những ngôi sao trong video âm nhạc "Fly" được quay tại Canada.[180]
Tháng 9 năm 2020, Lavigne thông báo tổ chức buổi hòa nhạc trực tuyến đặc biệt #FightLyme nhằm nâng cao nhận thức và gây quỹ phòng chống bệnh Lyme. Sự kiện diễn ra vào ngày 25 tháng 10, với toàn bộ lợi nhuận từ vé và mặt hàng thương mại được chuyển đến Global Lyme Alliance (tổ chức vận động vì bệnh Lyme mãn tính)[181] và quỹ Avril Lavigne Foundation.[182][183]
Chính trị
Sau khi giành giải Juno thứ tư vào tháng 4 năm 2003, khi đề cập đến Chiến tranh Iraq, Lavigne tuyên bố: "Tôi không tin chiến tranh là cách giải quyết vấn đề. Tôi cho đó là sai trái... Tôi không có nhiều thiện cảm với [Tổng thống Mỹ George] Bush." Cô cũng bày tỏ sự "tự hào" về cựu Thủ tướng Canada Jean Chrétien vì đã giữ Canada không tham chiến.[184]
Đời tư
Hình xăm
— Lavigne chia sẻ về những hình xăm của cô.Bản mẫu:R
Hầu hết hình xăm của Lavigne đều trùng khớp với bạn bè, bên cạnh những thiết kế độc đáo.Bản mẫu:R Cô có hình ngôi sao ở cổ tay trái được thực hiện cùng lúc với người bạn kiêm cộng sự âm nhạc Ben Moody.Bản mẫu:R Cuối năm 2004, cô xăm trái tim hồng nhỏ bao quanh chữ "D" trên cổ tay phải để tượng trưng cho bạn trai lúc đó - Deryck Whibley.Bản mẫu:R Đến tháng 3 năm 2010, Lavigne và Whibley (khi đó là chồng cô) cùng xăm hình đôi nhân dịp sinh nhật lần thứ 30 của anh.Bản mẫu:R Tháng 4 năm 2010, cô bổ sung thêm hình tia chớp và số 30 trên cổ tay.Bản mẫu:R
Tuy nhiên, sở thích xăm hình của cô gây chú ý truyền thông vào tháng 5 năm 2010 khi Lavigne và Brody Jenner cùng xăm chữ "fuck" giống nhau trên xương sườn.Bản mẫu:R Cô xuất hiện trên trang bìa tạp chí Inked (số tháng 6-7), trưng bày các hình xăm bao gồm chữ "Abbey Dawn" trên cẳng tay trái và "XXV" cùng ngôi sao bên phải. Dù xác nhận hình xăm chữ "fuck" trong bài phỏng vấn, cô chỉ thực hiện nó sau buổi chụp hình.Bản mẫu:R Lavigne chia sẻ muốn xăm "trái tim lớn kèm lá cờ và tên... nhưng sẽ chờ thêm vài năm để chắc chắn. Tôi cần đợi người đặc biệt quay lại cuộc đời mình."Bản mẫu:R Tháng 7 năm 2010, cô xăm tên "Brody" dưới ngực phải.Bản mẫu:R Năm 2018, Lavigne cùng bạn trai JaKeb Allen Munn xăm hình trái tim truyền thống.[185]
Quốc tịch Pháp
Với cha sinh tại Pháp, Lavigne đã nhập quốc tịch theo luật huyết thống (jus sanguinis) và nhận hộ chiếu Pháp vào tháng 2 năm 2011.[186][187] Tháng 1 năm 2012, cô bán nhà ở Bel-Air (rao bán từ tháng 5 năm 2011)Bản mẫu:R và chuyển đến Paris học tiếng Pháp, thuê căn hộ và theo học tại trường Berlitz.Bản mẫu:R
Các mối quan hệ
Lavigne và Deryck Whibley (giọng ca chính kiêm nghệ sĩ rhythm guitar của Sum 41) bắt đầu hẹn hò khi cô 19 tuổi, sau hai năm làm bạn.Bản mẫu:R Tháng 6 năm 2005, Whibley cầu hônBản mẫu:R và họ kết hôn ngày 15 tháng 7 năm 2006 tại Montecito, California. Ngày 9 tháng 10 năm 2009, Lavigne nộp đơn ly hôn[188] với lý do "bất đồng không thể hòa giải",[189] khẳng định vẫn giữ tình bạn."[190] Ly hôn chính thức hoàn tất ngày 16 tháng 11 năm 2010.Bản mẫu:R
Từ tháng 2 năm 2010 đến tháng 1 năm 2012, Lavigne hẹn hò với ngôi sao chương trình truyền hình The Hills Brody Jenner.[191]
Tháng 7 năm 2012, Lavigne bắt đầu mối quan hệ với đồng hương Canada Chad Kroeger (giọng ca chính của Nickelback)Bản mẫu:R sau khi hợp tác sáng tác cho album thứ năm của cô từ tháng 3 năm 2012.Bản mẫu:R[192] Họ đính hôn tháng 8 năm 2012 chỉ sau một tháng hẹn hòBản mẫu:R và tổ chức đám cưới tại lâu đài Château de la Napoule, (Pháp) ngày 1 tháng 7 năm 2013.[192][193] Ngày 2 tháng 9 năm 2015, Lavigne thông báo chia tay qua Instagram [194] và sau đó hoàn tất ly hôn.[195]
Từ 2018 đến 2019, cô hẹn hò với tỷ phú thừa kế Phillip Sarofim.[196] Tạp chí People đưa tin cô bắt đầu hẹn hò nhạc sĩ Pete Jonas năm 2020,[197] sau đó là Mod Sun khoảng tháng 3 năm 2021. Tháng 4 năm 2022, Lavigne thông báo đính hôn trên mạng xã hội nhưng chấm dứt vào tháng 2 năm 2023.[198][199][200] Cùng tháng đó, Lavigne hẹn hò với rapper Tyga rồi chia tay vào tháng 6.[201]
Sức khỏe
Tháng 4 năm 2015, Lavigne tiết lộ với People rằng cô được chẩn đoán mắc bệnh Lyme sau sinh nhật 30 tuổi (2014).[202] Trong cuộc phỏng vấn với Billboard cùng tháng, cô cho biết đang hồi phục và muốn nâng cao nhận thức về căn bệnh này.[23]
Lavigne từng được nhắc đến là người ăn chay trường hoặc thuần chay, dù chưa công khai thảo luận về chế độ ăn.[203][204]
Danh sách đĩa nhạc
- Let Go (2002)
- Under My Skin (2004)
- The Best Damn Thing (2007)
- Goodbye Lullaby (2011)
- Avril Lavigne (2013)
- Head Above Water (2019)
- Love Sux (2022)
Danh sách phim
| Năm | Tựa phim | Vai diễn | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| 2002 | Sabrina – Cô phù thủy nhỏ | Chính cô | Vai diễn khách mời; tập: "Bada-Ping!" |
| 2003 | Saturday Night Live | Chính cô | Mùa 28, tập 9: "Jeff Gordon/Avril Lavigne" |
| 2004 | Going the Distance | Chính cô | Vai khách mời; thể hiện bài "Losing Grip" |
| 2004 | Saturday Night Live | Chính cô | Mùa 29, tập 19: "Snoop Dogg/Avril Lavigne" |
| 2006 | Over the Hedge | Heather (lồng tiếng) | |
| 2006 | Fast Food Nation | Alice | |
| 2007 | The Flock | Beatrice Bell | |
| 2010 | American Idol | Giám khảo khách mời | Vòng phỏng vấn ở Los Angeles |
| 2011 | Majors & Minors | Cố vấn khách mời | |
| 2012 | Katy Perry: Part of Me | Chính cô | |
| 2018 | Charming | Snow White (lồng tiếng) | |
| 2022 | Good Mourning | Chính cô | |
| 2024 | Angry Birds Mystery Island | Tuba |
Tour diễn
- Try to Shut Me Up Tour (2002–2003)[205]
- Bonez Tour (2004–2005)[206]
- The Best Damn World Tour (2008)[207]
- Black Star Tour (2011–2012)[208]
- The Avril Lavigne Tour (2013–2014)[209]
- Head Above Water Tour (2019)[210]
- Love Sux Tour (2022–2023)[211]
- Greatest Hits Tour (2024-2025)[212]
- In a World Like This Tour (cho Backstreet Boys) (2014)[215]
- Mainstream Sellout Tour (cho Machine Gun Kelly) (2022)[216]
Xem thêm
Chú thích
- ^ Cannilla, Kayden (ngày 29 tháng 4 năm 2022). "The legacy of Avril Lavigne". The Stute (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2025.
- ^ Mardon, Austin (ngày 5 tháng 2 năm 2021). "Avril Lavigne". Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021.
- ^ Hernandez, Helen (ngày 1 tháng 5 năm 2022). "The Quebec roots of Avril Lavigne". OICANADIAN. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2022.
- ^ "Avril Lavigne aurait des origines grostenquinoises" [Avril Lavigne said to have Grostenquin origins]. Le Republicain Lorrain (bằng tiếng Pháp). ngày 15 tháng 3 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2018.
- ^ "Judith-Rosanne Loshaw". MyHeritage.com. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2018.
- ^ Ryan, Patrick. "Avril Lavigne opens up about Lyme disease battle: 'I wasn't sure I'd be doing music again'". USA TODAY (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2025.
- ^ "ONE OK ROCK bassist and Avril Lavigne's sister get married". sbs.com.au. SBS. ngày 22 tháng 2 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 11 năm 2018.
- ^ Zwerling, Jared (ngày 2 tháng 12 năm 2011). "Avril Lavigne recalls life as a hockey star". ESPN. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2019.
- ^ "Avril Lavigne Biography – life, family, children, parents, school, mother, young, old, information, born". Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2016. Most inexperienced singers are backed by seasoned musicians, but Nettwerk chose to go with young performers who were up and coming in the Canadian punk-rock scene. As Nettwerk manager Shauna Gold told Shanda Deziel of Maclean's, "[Lavigne] is young, her music's young, we needed a band that would fit well with who she is as a person."
- ^ a ă â b "RIAA GOLD & PLATINUM AWARDS March // 3/1/18 – 3/31/18" (PDF). RIAA. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 23 tháng 4 năm 2018.
- ^ "Avril Lavigne". Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021.
- ^ a ă "Gold/Platinum – Music Canada". Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2015.
- ^ Fulton, Rick (ngày 10 tháng 1 năm 2011). "Avril Lavigne: Madonna is my idol". Daily Record. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2016.
- ^ "Ask Billboard: Why do Some Songs Fade Out and Others End Cold?". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2013.
- ^ a ă â "Artist Summary | the JUNO Awards". Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2015.
- ^ "Canadian Singer Avril Lavigne Contributes One Piece Film Z Themes – Interest". Anime News Network. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2012.
- ^ "Avril Lavigne Talks Upcoming Album As First Single, "Rock N Roll", Drops Today " MIX 105.1". Mix1051.cbslocal.com. ngày 27 tháng 8 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2013.
- ^ a ă "Backstreet Boys, Avril Lavigne Announce Summer Tour | Billboard". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2014.
- ^ "Avril Lavigne Responds To 'Hello Kitty' Video Criticism: 'RACIST??? LOLOLOL!!!'". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2018.
- ^ Mansfield, Brian (ngày 14 tháng 3 năm 2014). "Backstreet Boys announce U.S. dates with Avril Lavigne". USA Today. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2021.
- ^ "Avril at Summer Sonic". Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2014.
- ^ "Avril Lavigne Returns With Sexy 'Give You What You Like' Video—Watch Now!". ngày 10 tháng 2 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2019.
- ^ a ă "Avril Lavigne's Post-Illness Plans: Special Olympics Song, Christmas Album & Film Work". Billboard. ngày 6 tháng 4 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2015.
- ^ Dickman, Maggie (ngày 18 tháng 11 năm 2016). "ONE OK ROCK announce new album 'Ambitions,' release new song—listen". Alternative Press. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2016.
- ^ Chameleon – EP by Grey on Apple Music, ngày 29 tháng 9 năm 2017, Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2017, truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2017
- ^ "Avril Lavigne's 'Head Above Water' Is Here: Stream It Now". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2019.
- ^ "Avril Lavigne announces highly-anticipated new single 'Head Above Water' in letter to fans". BMG. ngày 6 tháng 9 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2018.
- ^ "Avril Lavigne announces highly-anticipated new single 'Head Above Water' in letter to fans". BMG. ngày 6 tháng 9 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2018.
- ^ Nied, Mike (ngày 7 tháng 12 năm 2018). "Avril Lavigne Reveals The Cover & Tracklist Of 'Head Above Water'". Idolator. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2018.
- ^ "Avril Lavigne & Nicki Minaj Drop Fiery Collaboration 'Dumb Blonde': Listen". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2019.
- ^ Brent Furdyk (ngày 7 tháng 7 năm 2019). "Avril Lavigne's Latest Single 'I Fell in Love with the Devil' Is Creating Controversy". ET Canada. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2019.
- ^ "Avril Lavigne Announces First North American Tour in 5 Years". Billboard. ngày 24 tháng 6 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2021.
- ^ "Avril Lavigne announces UK and European tour for 2022". NME. ngày 28 tháng 10 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2021.
- ^ Papadatos, Markos (ngày 5 tháng 5 năm 2020). "Avril Lavigne talks 'We Are Warriors,' Project HOPE, digital age". Digital Journal. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 1 năm 2021.
- ^ ""Flames" with @modsun featuring me January 8th pre save now 🔥🔥🔥🔥". Instagram. ngày 1 tháng 1 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2021.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết) - ^ "Avril Lavigne & Mod Sun Team Up For "Flames"". Idolator. ngày 1 tháng 1 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2021.
- ^ "Avril Lavigne has finished her new pop-punk album". Kerrang. ngày 8 tháng 2 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2021.
- ^ Moore, Sam (ngày 12 tháng 7 năm 2021). "Willow Smith confirms Avril Lavigne, Travis Barker and more on new album tracklist". NME. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2021.
- ^ "Willow and Avril Lavigne tower above the city in new 'Grow' video". NME. ngày 20 tháng 10 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2021.
- ^ "Avril Lavigne signs to Travis Barker's record label and teases new single". NME. ngày 4 tháng 11 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2021.
- ^ Lavin, Will (ngày 5 tháng 11 năm 2021). "Avril Lavigne announces new single 'Bite Me' coming next week". NME. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2021.
- ^ Carter, Emily (ngày 13 tháng 1 năm 2022). "Avril Lavigne announces new album Love Sux". Kerrang!. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2022.
- ^ "Avril Lavigne Previews New LP 'Love Sux' With 'Love It When You Hate Me'". Rolling Stone. ngày 15 tháng 1 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2022.
- ^ Ruggieri, Melissa. "Avril Lavigne knows 'love is a lot of work' as she drops album with MGK, Travis Barker". USA Today. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2022.
- ^ Caulfield, Keith (ngày 6 tháng 3 năm 2022). "'Encanto' Enchants Billboard 200 Albums Chart With Eighth Week at No. 1". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2022.
- ^ "She's Back: Avril Lavigne Debuts At 3 With 'Love Sux'". FYIMusicNews. ngày 7 tháng 3 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2022.
- ^ Blistein, Jon (ngày 3 tháng 6 năm 2022). "Avril Lavigne Drops New'Breakway' Version, Unearths Rarities for 'Let Go' Anniversary". Rolling Stone. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2022.
- ^ Shafer, Ellise (ngày 3 tháng 6 năm 2022). "Avril Lavigne Celebrates 'Let Go' 20th Anniversary With Expanded Edition, Including New Recording of 'Breakaway'". Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2022.
- ^ "WATCH: Avril Lavigne Shocks Fans With Stellar Shania Twain Cover On ACM Honors". Country Now. ngày 13 tháng 9 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2022.
- ^ "Avril Lavigne pays homage to 'Canadian queen Shania Twain' on Instagram". Yahoo! News. ngày 15 tháng 9 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2022.
- ^ ""I'm A Mess" featuring @yungblud out Thursday, November 3". Twitter. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2022.
- ^ Avril Lavigne (ngày 3 tháng 11 năm 2022). ""I'm A Mess" is on the deluxe album coming out November 25 🧡🖤 #ImAMess". Twitter. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2022.
- ^ Avril Lavigne (ngày 3 tháng 11 năm 2022). "Omfg my new album is coming along so quickly! Nothing like working with your friends. Been working with Alex from All Time Low, Travis, Feldy, and Yungblud…it's been like…Laugh. Talk. Write. Sing. Record. Repeat. #ImAMess". Twitter. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2022.
- ^ "All Time Low and Avril Lavigne join forces for new single Fake As Hell". Kerrang!. ngày 15 tháng 9 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2023.
- ^ Freeman, Jon (ngày 10 tháng 6 năm 2023). "Avril Lavigne Surprises CMA Fest to Sing 'Sk8er Boi' with Miranda Lambert". Rolling Stone. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2024.
- ^ "CMA Fest 2023: Day 2 surprises include Jelly Roll, Avril Lavigne and Reba McEntire". The Tennessean. ngày 9 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2024.
- ^ Kaufman, Gil (ngày 10 tháng 5 năm 2024). "Avril Lavigne Reveals Track List for First-Ever Greatest Hits Album". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2024.
- ^ Hoffman, Lauren (ngày 16 tháng 5 năm 2024). "Nate Smith And Avril Lavigne Joins Forces On 'Bulletproof'". Beasley Media Group, LLC. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2024.
- ^ "Avril Lavigne Announces 2024 "The Greatest Hits" Tour". Consequence. ngày 22 tháng 1 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2024.
- ^ Kaufman, Gil (ngày 22 tháng 1 năm 2024). "Avril Lavigne Sets 2024 North American Greatest Hits Tour Dates". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2024.
- ^ "Avril Lavigne on waiting 22 years to play Glastonbury". BBC. ngày 30 tháng 6 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2024.
- ^ "Avril Lavigne review, Glastonbury 2024: Another artist plonked on far too small a stage". The Independent. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2024.
- ^ Petridis, Alexis (ngày 30 tháng 6 năm 2024). "Avril Lavigne at Glastonbury review – pop punk pioneer still gives potent teenage kicks". The Guardian. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2024.
- ^ "Avril Lavigne Draws A Huge Glastonbury Crowd". Clash Music. ngày 30 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2024.
- ^ "Avril Lavigne Joins Forces With Country Star Nate Smith For Ballad 'Can You Die From A Broken Heart'". RockSound. ngày 3 tháng 10 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2024.
- ^ Lewry, Fraser (ngày 23 tháng 4 năm 2025). "Billy Idol hooks up with Avril Lavigne for driving pop-punk anthem 77". Louder Sound. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2025.
- ^ Mensah, Jenny (ngày 30 tháng 4 năm 2025). "Watch Billy Idol and Avril Lavigne perform their collab 77 on Jimmy Kimmel". Radio X. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2025.
- ^ van den Bosch, Eva (ngày 6 tháng 5 năm 2025). "Avril Lavigne Announces New Song With Simple Plan". Strife Mag. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2025.
- ^ Rowley, Glenn (ngày 9 tháng 5 năm 2025). "Avril Lavigne Gets Nostalgic With Simple Plan for Anthemic Collab 'Young & Dumb'". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2025.
- ^ Rowley, Glenn (ngày 9 tháng 5 năm 2025). "Avril Lavigne Gets Nostalgic With Simple Plan for Anthemic Collab 'Young & Dumb'". Billiboard. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2025.
- ^ Rowley, Glenn (ngày 20 tháng 6 năm 2024). "15 Avril Lavigne Songs That Prove She's The "Motherf—in' Princess" Of Pop-Punk". Grammy Awards. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2025.
- ^ a ă Assaly, Richie (ngày 11 tháng 2 năm 2025). "Avril Lavigne has been appointed to the Order of Canada. Here's why Canada's pop-punk princess still matters". Toronto Star (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2025.
- ^ a ă â Gehlich, Clare. "The impact of Avril Lavigne's debut album "Let Go" on modern music". The Statesman. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2025.
- ^ Beech, Dave (ngày 5 tháng 5 năm 2023). "Avril Lavigne: O2 Apollo, Manchester". Louder Than War (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2025.
- ^ Eames, Tom (ngày 13 tháng 11 năm 2016). "In defence of Avril Lavigne: the unfairly maligned pop queen". Digital Spy (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2025.
- ^ Sanders, Naomi (ngày 24 tháng 5 năm 2024). "HEAVY MUSIC HISTORY: Avril Lavigne - Under My Skin". Distorted Sound Magazine (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2025.
- ^ Michaels, Sean (ngày 29 tháng 7 năm 2009). "Avril Lavigne goes acoustic on new album". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2025.
- ^ "Avril Lavigne : Girlfriend". Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2014.. Rebild TV.
- ^ "Avril Lavigne Essentials". Apple Music. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2018.
Alt-rock upstart Avril Lavigne came crashing into the charts in 2002 with a sound that stuck up a black nail-varnished middle finger at the hyper-polished world of classmates Britney Spears and Christina Aguilera. From the chugging, three-chord pop-punk of "Sk8er Boi" and "My Happy Ending" to the country-hued, catchy melody of "Complicated" and the twinkling balladry of "I'm With You," the Canadian singer proved herself a crossover star, garnering legions of both mainstream and fringe fans with her Cali punk-indebted sound.
- ^ John Perry (ngày 4 tháng 6 năm 2002). "Outstanding guitar-pop debut from sassy teenage skateboarder". Blender. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 10 năm 2004. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2022.
- ^ Christina Saraceno. "Let Go – Avril Lavigne – Songs, Reviews, Credits". AllMusic. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2019.
- ^ Nick Reynolds (2003). "Review of Avril Lavigne – Let Go". BBC. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2019.
- ^ "Avril Lavigne: 8 Best Songs That Should've Been Singles". Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2017.
- ^ Leathes, Annabel. "BBC – Music – Review of Avril Lavigne – Under My Skin". Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2018.
- ^ "Avril Lavigne: Under My Skin". The A.V. Club. ngày 28 tháng 5 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2017.
- ^ O'Neil, Tim. "AVRIL LAVIGNE Under My Skin". PopMatters. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2022.
The album's defining sound is that of crunching punk guitars playing mighty power chords, all mixed with the same flawless elan that has characterized pop-punk ever since Green Day dropped Dookie.
- ^ Bradley, Jonathan (2018). "'It's Not Like We're Dead': The Fascinating Evolution & Non-Linear Maturation of Avril Lavigne, Motherf—king Princess". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2019.
While emo crossover acts such as Fall Out Boy and My Chemical Romance would remain an underground concern for at least another six months, Under My Skin anticipated that scene's emotional intensity and theatrical aesthetics in the mainstream.
- ^ Luciana Maria Sanches (ngày 5 tháng 4 năm 2004). "Avril Lavigne gótica?". Omelete. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2019.
- ^ Sal Cinquemani (ngày 20 tháng 5 năm 2004). "Avril Lavigne: Under My Skin". Slant Magazine. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2019.
- ^ Brian Hiatt (ngày 1 tháng 5 năm 2004). "Early word on Avril Lavigne's new album". Entertainment Weekly. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2019.
- ^ "Shamelessly Anticipating Avrils New Album". Blender. ngày 18 tháng 1 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2013.
- ^ Dunk, Marcus (ngày 20 tháng 4 năm 2007). "AVRIL LAVIGNE: THE BEST DAMN THING". Express. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2017.
... the perpetual teenager who manages to combine bubblegum pop with punk riffs in pretty much every song.
- ^ Callwood, Brett (ngày 11 tháng 9 năm 2019). "AVRIL LAVIGNE'S HEAD IS FINALLY ABOVE WATER". Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2019.
After three albums of the quirky, bouncy skater-punk and post-grunge that saw her build a huge international fanbase, she began the new decade with the pop-rock Goodbye Lullaby in 2011 and followed that with the ultimately pop Avril Lavigne in 2013.
- ^ Hughes, Josia. "Avril Lavigne Teams Up with Nicki Minaj for Punk Pop Banger "Dumb Blonde"". Exclaim. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2019.
"Dumb Blonde" sees Avril join forces with Nicki Minaj, and the final result is a pop-punk/hip-hop blend
- ^ a ă "Avril Lavigne's new album has hits, misses and no sense of direction". The Diamondback. ngày 5 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2025.
Does Lavigne know what she wants to do with her music? Does she want to focus on dance-pop party anthems or harsher rock tracks?
- ^ Beats, River (ngày 18 tháng 8 năm 2017). "From Glitter to Gold: Why Kesha's New Sound is Her Best Yet". River Beats. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2018.
- ^ Meadway, Katie (ngày 15 tháng 5 năm 2017). "There's Now So Much 'Evidence' For The 'Avril Lavigne Has Been Dead For 13 Years' Theory That We're Kinda Starting To Believe It". Capital FM. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2018.
- ^ Camp, Zoe (ngày 20 tháng 2 năm 2019). "Avril Lavigne's Tacky Head Above Water Fails to Do Her Legacy Justice". Spin. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
- ^ DeVille, Chris (ngày 21 tháng 2 năm 2019). "Avril Lavigne's Disappointing Return". Stereogum. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2020.
- ^ Blashill, Pat (ngày 2 tháng 7 năm 2002). "Let Go | Album Reviews | Rolling Stone". Rolling Stone. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2014.
- ^ "Lavigne gets deep on new record". Irish Examiner. ngày 31 tháng 12 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021.
- ^ Mumbi Moody, Nekesa (ngày 23 tháng 7 năm 2007). "Singer-Songwriters, or Just Singers?". The Washington Post. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2017.
- ^ "Avril Lavigne: When Females Lash Out". Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2016. "what music she listens to then, she [Avril] said: "Marilyn Manson, The Used, Hole, Radiohead, The Distillers, NOFX etc"
- ^ "Q&A: Avril Lavigne". Rolling Stone. ngày 24 tháng 6 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2016. "I've been listening to Third Eye Blind, Oasis, Marilyn Manson and System of a Down on my iPod, but I really like the new Blink-182 record.
- ^ "Avril Lavigne: 'I'll always feel young'". Digital Spy. ngày 14 tháng 10 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2016. "For me, my music's always been heavy pop rock ..."
- ^ "The 11 Hottest Comeback Chicks of 2011". Complex Networks. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2014. "Lavigne somehow devolved into that sk8r girl who was only relevant to the mid-2000s pop punk period as the female answer to Blink 182"
- ^ Estatie, Lamia (ngày 15 tháng 5 năm 2017). "The Avril Lavigne conspiracy theory returns". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2018.
- ^ Contreras, Cydney (ngày 1 tháng 11 năm 2018). "Avril Lavigne Finally Responds to Viral Conspiracy Theory That She Died Years Ago". E Online. USA. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2018.
- ^ Fitzmaurice, Larry (ngày 15 tháng 2 năm 2019). "Exploring Avril Lavigne's Complicated Influence". Vulture. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2019.
Lavigne was practically the most visible female-identifying rock-adjacent musician, and her punkish, mall-destroying image packed undeniable appeal for a generational subset otherwise gazing at the masculine, often-misogynistic landscape of nu metal and Bush-era pop-punk.
- ^ Rosales, Armando. "Avril Lavigne, the greatest exponent of pop punk". QuarterRockPress.com (bằng tiếng Tây Ban Nha). Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2017.
- ^ Butler, Josh (2016). "Fella's guide to the greatest pop punk bands". fella.com. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2017.
- ^ "Top 50 Best Musicians/Bands Since 2000: 20 – 11". The Music Observer. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2017.
Forget about calling her the Pop Punk Princess; Avril Lavigne is the Pop Punk Queen. She is not only far and away the best pop punk musician of her generation
- ^ C., Danni (ngày 15 tháng 2 năm 2016). "Rock Princess Avril Lavigne: An Important Figure In Pop Punk". CelebMix. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2017.
- ^ "Avril Lavigne". Biography.com. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2017.
- ^ Schoeman, Kimberley (ngày 9 tháng 6 năm 2022). "The queer icons that paved the way for safer sexual expression". Mail & Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2024.
- ^ "The 21 Best Pop-Punk Choruses of the 21st Century". Spin. ngày 28 tháng 4 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2017.
5. Avril Lavigne – "Sk8er Boi" The choruses in "Sk8er Boi" are all different, but they all start the same way: "He was a sk8er boi / She said see you later boi," two lines that won't stop being funny until animals stop riding skateboards. Which chorus is best? It might be the first one ("He wasn't good enough for her"), but actually it's the second, the one where Avril might as well say "plot twist" first: "Now he's a superstar / Slammin' on his guitar." — AG
- ^ Pauker, Lance (ngày 22 tháng 1 năm 2014). "49 Phenomenally Angsty Pop-Punk Songs From The 2000s You Forgot Existed". Thought Catalog. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2017.
- ^ Sherman, Maria. "The 15 Best Pop-Punk Songs For Karaoke". BuzzFeed. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2017.
6. Avril Lavigne, "Sk8r Boi" This is the point where pop-punk purists will disagree with me, but there was/is certainly nothing truly punk about Avril, so she belongs on this list. "Sk8r Boi" was one of the few songs that came out in 2002 that my mom and I could both enjoy. ~*~so alt~*~
- ^ "Girlfriend – Avril Lavigne". Elepé (bằng tiếng Tây Ban Nha). Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2017.
Girlfriend cemented the Canadian artist in the pop punk world scene
- ^ Monroy, Ana (ngày 6 tháng 9 năm 2019). "Avril Lavigne Has Always Known Exactly Who She Is". Grammy. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2021.
... and the impact her [Avril] music has had on the next generation of female alt-rockers.
- ^ Frank, Alex (ngày 29 tháng 6 năm 2017). "Paramore's Hayley Williams Still Gets You". Fader. The Fader. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2017.
Avril Lavigne had recently broken through, whetting the industry's appetite for punky alternatives to Britney and Christina. "I don't think I would've been signed if Avril hadn't happened," she says.
- ^ "Pieces of Avril". The Globe and Mail. ngày 31 tháng 1 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2017.
- ^ Hammond, Amy. "Krystal Meyers is in the Spotlight". Soul Shine. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2017.
I've been compared many a time to Avril, which I can see, but you know that's because there aren't a lot of people to compare to. There's not a lot of girls that are doing like the solo, pop/punk thing
- ^ Al-Sharif, Rabab (ngày 19 tháng 4 năm 2021). "Who Are Tramp Stamps + Why Does Everyone Already Hate Them?". Loudwire. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2022.
- ^ "Pop Shop Podcast: Bebe Rexha Opens Up About Exceeding 'Expectations' With Her Debut Album, 'Meant to Be' Chart Record & More". Billboard. ngày 7 tháng 8 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2022.
- ^ Kaplan, Ilana (ngày 16 tháng 3 năm 2017). "Pop Newcomer Billie Eilish Wants to Make Sure You Never Forget Her". Paper. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2018.
I grew up listening to the Beatles, Green Day and Avril Lavigne
- ^ Sims, Eddie (ngày 23 tháng 7 năm 2018). "INTERVIEW: Courage My Love". Distorted Sound. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2018.
Who were the idols that made you want to pick up instruments? – Phoenix: We're Canadian so we can't get away without mentioning Avril Lavigne, pre-kawaii of course.
- ^ "5 Seconds of Summer: Related". AllMusic. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2021.
See Influenced by section.
- ^ Yeniocak, Su (ngày 20 tháng 9 năm 2021). "Yungblud Says Avril Lavigne's Authenticity Suggestion Helped His Music Career". Rockcelebrities. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2021.
- ^ Ginsberg, Gab. "Maggie Lindemann's Boots Were Made For Creeping". Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2021.
Lindemann found inspiration in Gwen Stefani and No Doubt, Avril Lavigne and Paramore – as well as Evanescence and Flyleaf
- ^ Hingle, James (ngày 9 tháng 8 năm 2019). "TONIGHT ALIVE'S JENNA MCDOUGALL: THE 10 SONGS THAT CHANGED MY LIFE". Kerrang!. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2020.
AVRIL LAVIGNE – SK8ER BOI (2002) "This song came out when I was 10, and I'd just started learning guitar at the time. I just wanted to be Avril so badly. I guess she wasn't really in a band, she was a solo artist, but this song was the first that made me want to pick up an electric guitar."
- ^ Cross, Will. "WHEN I WANTED TO CHALLENGE PEOPLE WITH MY IMAGE, IT WAS THROWN BACK IN MY FACE". Rock Sound. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2020.
I frickin' love Avril, she was a huge idol for me, just going to throw that in there!
- ^ Gonzales, Erica (ngày 27 tháng 4 năm 2021). "Willow Smith's Punk New Song Sent Me Straight Back to My Angst Era". Harpers Bazaar. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2021.
She was influenced by the emo and rock acts she listened to growing up, like Avril Lavigne, My Chemical Romance, Paramore, and Fall Out Boy.
- ^ Palmer, Amanda. "Amanda Palmer's Official Facebook Page". Facebook. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2020.
nobody back then understood my obsession with avril's second record, the worlds perfect pop masterpiece of candy-coated teen angst, not even me.
- ^ Hickey, David. "About misono". iTunes Apple. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2020.
Citing the likes of Avril Lavigne, Krystal Meyers, the Offspring, and Linkin Park as influences, Misono has turned to a variety of musical collaborators.
- ^ Barreto, Clyde (2013). "Rising Japanese London-based Artist Rina Sawayma Discusses Her Song Writing Influences". prefix. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2020.
It actually all started with Avril Lavigne. I was 12 when I saw her on TV and begged my dad for a guitar. He caved, and I taught myself chords and begun writing that way. It was then that I actually started looking for music myself, and all my pocket money went into buying CDs.
- ^ Cantor, Brian (ngày 8 tháng 10 năm 2013). "Identity Issues Plague Cassadee Pope's "Frame by Frame," Album Review". Headline Planet. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2020.
To a segment of pop-punk fans, Pope's shift represented an opportunistic abandonment of a genre she cherished enough to still call poster girl Avril Lavigne a key influence.
- ^ Russell, Erica (ngày 29 tháng 9 năm 2017). "AVRIL LAVIGNE MAKES RARE, ROLLICKING APPEARANCE ON GREY'S 'WINGS CLIPPED'". PopCrush. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2019.
She asked if she could jump on it with Anthony and we agreed that it would be perfect! We grew up listening to Avril and Circa Survive so hearing the two of them on one of our songs is surreal to say the least.
- ^ "Brit breakout Ed Sheeran dishes on upcoming hip-hop-influenced sophomore album – NEWS 1130". www.citynews1130.com. ngày 14 tháng 6 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2021.
- ^ ". @morguemami 's unique sound was inspired by @AvrilLavigne , and I simply cannot get enough of her!!". MTV (Twitter). Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2020.
- ^ Pelley, Lauren (ngày 15 tháng 12 năm 2014). "10 essential facts about Charli XCX". The Star. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2020.
It seems Charli XCX may have taken some of her punk cues from Ontario's own Avril Lavigne. "I used to want to be Avril. I used to wear the ties," Charli told Grantland in 2013.
- ^ Cox, Rebecca (ngày 26 tháng 7 năm 2013). "CharliXCX talks 90s school-girl beauty and going through the Avril Lavigne phase". Glamour. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2020.
- ^ "MercyMe". ngày 7 tháng 4 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2021.
Millard, who said the band's influences include U2, Dave Matthews Band, and Avril Lavigne, was openly amazed.
- ^ Pearis, Bill (ngày 21 tháng 1 năm 2021). "Palberta tell us about the influences behind their new album". Brooklyn Vegan. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2023.
"Together" – Avril Lavigne: This song informed the vocal production of the record. Very crisp, clear, and at the forefront. You are able to hear all the lyrics very well, which is something that a lot of music is missing.
- ^ Zhang, Cat (ngày 11 tháng 9 năm 2023). "Logging Off and Rocking Out With yeule, Pop's Internet Explorer". Pitchfork. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2023.
Logging Off and Rocking Out With yeule, Pop's Internet Explorer
- ^ Jamieson, Sarah (ngày 25 tháng 9 năm 2023). "UNDER THE SKIN: YEULE". DIY. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2023.
We have so many references from the '90s and '00s, like Radiohead, My Chemical Romance… Honestly, Gerard Way changed my fucking life," they enthuse giddily. "I was nine years old when I found 'Three Cheers for Sweet Revenge' and did not understand what that was all about until later on, but the emotional lyricism and the musical aspect of it punched me when I was a kid. "Then we were listening to a lot of Avril Lavigne, the stuff that we grew up on with our iPods. Like, 'Oh we should totally do some Pixies shit, or Smashing Pumpkins!' We were listening to all this music that's very sentimental to us, because we're '90s kids."
- ^ Raza-Sheik, Zoya (ngày 6 tháng 10 năm 2023). "Entering yeule's rockstar cyber dimension". Gay Times. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2023.
o capture this, the singer trawled through their old listening habits: Avril Lavigne, Smashing Pumpkins, and Hole. "I was listening to so much of what I enjoyed when I was a teenager because it made me feel that age again – that's why I fucking vibed with you! I'm a big fan of Gerard Way. He is so pivotal to my life," they say animatedly. "I don't think I don't think anyone realises how much I love My Chemical Romance or Avril Lavigne. C'mon, 'Sulky Baby' literally sounds like 'Complicated'."
- ^ Mier, Tomas. "Olivia Rodrigo Fangirls Over Avril Lavigne as She Accepts Songwriter Award: 'So Surreal". People. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2022.
Rodrigo admitted she was a huge fan of the "Sk8er Boy" singer, 37.
- ^ Connel, Charlie (ngày 24 tháng 1 năm 2022). "Avril". Inked. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2022.
Now there is a new generation of female artists, Olivia Rodrigo perhaps being the most notable, who have been greatly influenced by Lavigne's music
- ^ Salud, April (ngày 12 tháng 10 năm 2017). "Pentatonix's Kirstin Maldonado Adds P!nk, Avril Lavigne & Gwen Stefani to Her 2000s Pop Punk Playlist". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2017.
- ^ O'Brien, Jon. "Amy Studt". AllMusic. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2017.
Amy Studt was hailed as the U.K.'s answer to Avril Lavigne.
- ^ Cyclone. "Making Waves With Heather Baron-Gracie". The Music. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2020.
Pale Waves often cite inspirations such as The Cure (for whom they're opening in London this July), Prince and Madonna. There are also guilty pleasures. "I love Avril Lavigne!" Baron-Gracie geeks
- ^ Phoenix, Stormy. "Album Review: All The Things I Never Said by Pale Waves". Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2020.
Heavily influenced by The Cure, The Cranberries, Cocteau Twins, and Avril Lavigne, Pale Waves are the next goth pop band
- ^ Caminiti, Kasey (ngày 15 tháng 5 năm 2018). "Pale Waves Are Gothic Gems". Dujour. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2020.
Drawing inspiration from 80s punk bands like The Cure and stylistic aspirations from early punk rock princess Avril Lavigne, Pale Waves are creating their own musical identity
- ^ "GRAACE covers Avril Lavigne for Like A Version". ABC Au. ngày 30 tháng 8 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2020.
I wanted to embody a bit of Avril," she says in her ripped jeans. "I definitely went through a bit of an emo stage [when I was younger].
- ^ Brodsky, Rachel (ngày 12 tháng 2 năm 2021). "Album reviews: Pale Waves – Who am I? and Django Django – Glowing in the Dark". Independent. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2021.
Today, a new crop of indie performers cite Lavigne – and her brassy brand of MTV-friendly pop suffused with snarling rage against the machine – as a major influence: Soccer Mommy, Snail Mail, Phoebe Bridgers...
- ^ Williams, Nick. "Listen To Phoebe Bridgers' #TBT Mixtape, An 'Honest Portrayal' Of Her Early 2000-Era iPod Shuffle". Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2020.
And I probably wouldn't have made it to Elliott Smith without Avril Lavigne.
- ^ Havens, Lindsey. "Not So 'Complicated': How Avril Lavigne Became an Unlikely Inspiration To Indie Rock's New Wave". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2018.
- ^ "Now Hear This: Interview With Ethel Cain". Morbidly Beautiful. ngày 24 tháng 2 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2024.
Golden Age really had people shoehorning me into the sad-girl shtick, however, and I was like "uh, I don't wanna be sad girl, I wanna be mad girl", so for Inbred I wanted to channel more aggression and dominance into the soundscape. I was listening to old Avril Lavigne...
- ^ Kot, Greg (ngày 22 tháng 6 năm 2003). "Liz Phair complicates her sound by going pop: Singer imitates those who imitated her". Chicago Tribune. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2017.
- ^ Herwees, Tasbeeh. "Exploring Avril Lavigne's Strange, Enduring Influence On Hip-Hop". Nylon. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2018.
- ^ As It Happens (ngày 27 tháng 1 năm 2021). "Avril Lavigne and dolphins: the internet conspiracy you've been waiting for". CBC Radio. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2021.
- ^ Dunn, Thom (ngày 24 tháng 1 năm 2021). "The bizarre internet mystery of an Avril Lavigne song that doesn't exist". Boing Boing. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2021.
- ^ a ă "2003 Socan Awards | Socan". Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2016.
- ^ Shepherd, Jack. "Avril Lavigne new album Head Above Water gets release date – her first record since Lyme disease diagnosis". The Independent. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021.
- ^ The Canadian Press. "Avril Lavigne releases 'What the Hell,' lead single off album, 'Goodbye Lullaby'". CP24. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021.
- ^ Trust, Gary (ngày 6 tháng 9 năm 2015). "Ask Billboard: Avril Lavigne's Best-Selling Songs & Albums". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2015.
- ^ Anderson, Trevor; Asker, Jim; Bustios, Pamela; Caulfield, Keith; Frankenberg, Eric; Rutherford, Kevin; Trust, Gary; Zellner, Xander (ngày 19 tháng 3 năm 2025). "Billboard's Top 100 Women Artists of the 21st Century Chart, Nos. 100-1". Billboard. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 3 năm 2025. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2025.
- ^ C, Jeff (2003). "Avril Lavigne in Guinness Book of World Records 2004". Pop Dirt. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2017.
- ^ Copsey, Rob (ngày 5 tháng 4 năm 2019). "Billie Eilish becomes the youngest ever female solo act to top the Official Albums Chart: 'Thank you for the love!'". Official Charts Company. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2019.
- ^ Jarboe, Greg (2009). YouTube and Video Marketing: An Hour a Day. John Wiley & Sons. tr. 35. ISBN 978-0-470-45969-0. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2017.
- ^ "Avril Lavigne's Achievements". wattpad. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2017.
- ^ "Avril Lavigne – Who Knows @ Turin Olympics 2006". YouTube. ngày 24 tháng 8 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2017.
- ^ "Avril Lavigne – My Happy Ending & Girlfriend (Winter Olympics Games – Vancouver 2010)". YouTube. ngày 29 tháng 5 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2017.
- ^ "Avril Lavigne – Fly (live on Special Olympics 2015)". YouTube. ngày 26 tháng 7 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2017.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết) - ^ "Order of Canada Appointees – June 2024". gg.ca. The Rideau Hall Press Office. ngày 21 tháng 6 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2024.
- ^ Osborne, Grant (ngày 28 tháng 9 năm 2011). "Avril Lavigne launches Wild Rose". Basenotes. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021.
- ^ "Birthday Campaign!: The Avril Lavigne Foundation". theavrillavignefoundation.org. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2015.
- ^ "Special Olympics: Avril Lavigne Fundraiser Supports Special Olympics". specialolympics.org. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2014.
- ^ "Avril Lavigne – Fly High with Special Olympics". ABILITYMagazine.com. ngày 1 tháng 6 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2015.
- ^ "Scientific Consensus | LymeScience". LymeScience. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2021.
- ^ Fishburn, Alison (ngày 11 tháng 2 năm 2020). "Avril Lavigne announces Lyme disease benefit concert, will donate proceeds from tickets to charity". The Economic Times. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2020.
- ^ Fischer, Molly (ngày 24 tháng 7 năm 2019). "What Happens When Lyme Disease Becomes an Identity?". The Cut. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2021.
chronic
- ^ "Lavigne 'proud' Chrétien kept Canada from war". The Globe and Mail. Ottawa. ngày 9 tháng 4 năm 2003. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2021.
- ^ "Here's What Avril Lavigne's Tattoos Really Mean". The list. ngày 30 tháng 4 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2021.
- ^ Lavigne, Avril (ngày 9 tháng 2 năm 2011). "Interview on NRJ Radio". Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2013.
I love France, in fact my father was born here, so I have applied for my French passport. I love this country so much that I am getting a French passport.
- ^ Vallet, Stéphanie (ngày 22 tháng 10 năm 2011). "Avril Lavigne: francophone dans l'âme". La Presse. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2013.
- ^ "Photos from Looking Back on Avril Lavigne's Relationship History". E! Online. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2024.
- ^ "Avril Lavigne and Deryck Whibley Finalize Divorce". Billboard. ngày 18 tháng 11 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2024.
- ^ "Why Avril and Deryck Called It Quits". Peoplemag. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2024.
- ^ "Brody Jenner's Single Again! A Look Back at His Laundry List of Lovahs". MTV. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2017.
- ^ a ă Ehrich Dowd, Kathy; Silverman, Stephen M. (ngày 2 tháng 7 năm 2013). "Avril Lavigne and Chad Kroeger Are Now Married (Really)". People. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2013.
- ^ DZurilla, Christie (ngày 2 tháng 7 năm 2013). "Avril Lavigne, Chad Kroeger marry goth-style in south of France". Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2014.
- ^ "Avril Lavigne on Instagram: "It is with heavy heart that Chad and I announce our separation today. Through not only the marriage, but the music as well, we've created…"". Instagram. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2015.
- ^ Nelson, Jeff (ngày 14 tháng 2 năm 2019). "Avril Lavigne Reveals She's Still 'Super Close' with Ex-Husband Chad Kroeger: 'He's in My Corner'". People. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 3 năm 2021.
- ^ "Avril Lavigne and Billionaire Heir Phillip Sarofim Split After Less Than 2 Years of Dating". People. ngày 27 tháng 11 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2021.
- ^ "Avril Lavigne Is Dating Indie Artist Pete Jonas: See the Pic from Their Pre-Grammy Party Date Night". People. ngày 26 tháng 1 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2021.
- ^ "Avril Lavigne and Mod Sun's relationship timeline". Cosmopolitan. ngày 26 tháng 9 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2021.
- ^ Nelson, Jeff; DeSantis, Rachel (ngày 7 tháng 4 năm 2022). "Avril Lavigne Gets Engaged to Mod Sun in Paris: 'The Day We Met I Knew You Were the One'". People. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2022.
- ^ "Avril Lavigne's Dating History: From Brody Jenner to Mod Sun". Peoplemag. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2023.
- ^ Irvin, Jack (ngày 13 tháng 10 năm 2023). "Avril Lavigne and Tyga Are 'Totally Done' Following On-Again, Off-Again Romance (Exclusive Source)". People. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2025.
In June, PEOPLE confirmed Lavigne and Tyga split after three-and-a-half months of dating
- ^ Telling, Gillian (ngày 1 tháng 4 năm 2016). "Avril Lavigne Opens Up About Her Health Crisis: 'I Was Bedridden for 5 Months'". People. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2016.
- ^ "Are you strictly wheat and two veg ..." The Guardian. ngày 28 tháng 4 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2021.
- ^ Anna L Mejorada. "Andre 3000, Avril Lavigne Vie For Sexiest Vegetarian Title". MTV News. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2021.
- ^ Srinivasan, Priya (ngày 21 tháng 5 năm 2003). "AVRIL AT HSBC: DON'T TRY TO SHUT HER UP". The Buffalo News (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2022.
- ^ Ong, Jennifer (ngày 8 tháng 4 năm 2005). "A rocked-out night with Avril Lavigne and Simple Plan". The Philippine Star (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2025.
- ^ Bản mẫu:Cite magazine
- ^ "Avril Lavigne rocks Manila with her 'Black Star Tour'" (bằng tiếng Anh). GMA Network. ngày 17 tháng 2 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2025.
- ^ Cameron, Chole (ngày 23 tháng 9 năm 2019). "THE AVRIL LAVIGNE COMEBACK WE'VE ALL BEEN WAITING FOR". HOLR (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2025.
- ^ Juneau, Jen (ngày 25 tháng 6 năm 2019). "Avril Lavigne Is Set to Tour America for the First Time in 5 Years". People (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2025 – qua Yahoo! News.
- ^ "Avril Lavigne forced to postpone LOVE SUX European tour" (bằng tiếng Anh). WRMF. ngày 8 tháng 2 năm 2022. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2022.
- ^ "Avril Lavigne Announces 2024 "The Greatest Hits" Tour". Consequence (bằng tiếng Anh). ngày 22 tháng 1 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2024.
- ^ D'Angelo, Joe (ngày 31 tháng 3 năm 2004). "Avril's Ex-Boyfriend Now Her Ex-Bandmate Too". MTV (bằng tiếng Anh). MTV News. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2011.
- ^ "Avril Lavigne actuará por primera vez en China" [Avril Lavigne performs for the first time in China] (bằng tiếng Spanish). Radio Cooperativa. ngày 25 tháng 7 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2011.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết) - ^ Mansfield, Brian (ngày 14 tháng 3 năm 2014). "Backstreet Boys announce U.S. dates with Avril Lavigne". USA Today (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2017.
- ^ Chareunsy, Don (ngày 21 tháng 3 năm 2022). "Machine Gun Kelly's new Mainstream Sellout tour with Avril Lavigne headlines Spokane Arena on July 25". The Spokesman-Review (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2025.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "www.fanpop.com" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "avrillavigneuk.tumblr.com" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "capricho.abril.com.br" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "www.thebiographychannel.co.uk" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "www.musicmight.com" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "laudadio" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "hitquarters" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "shuffleme.net" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "www.925thebeat.ca" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "www.billboard.biz" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "www.rollingstone.com" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "altman" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "sperling" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "rollingstoneblackstar" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "musicmix" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "earthtimes" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "seacrestinterview6may" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "seacrestinterview26" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "pacifican" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "ladowntownalice" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "kohls" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "artistdirectrelease" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "idolator" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "musicmixqa" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "girlauinterview" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "ledgermoody" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "musicomhinterview" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "settle" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "billboardstole" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "yahoomusic" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "kreviazuk" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "ultimateguitar" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "teenspirit" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "blossoming" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "scold" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "departure" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "gamingexcellence" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "billboarddecade" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "billboardbest2000" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "canadianbusiness" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "unofficialbiog" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "peoplekappes" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "mtvrealdeal" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "ewwillman" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "aboutlamb" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "riaadiamond" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "criadiamond" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "transworldnews" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "billboardlipshutz" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "reuterstop40" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "billboardjuno" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "hollywoodgrammy" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "rollingstonecover" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "mtviconmetallica" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "billboarddecadehot100" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "mtvclarkson" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "cbsbeyonce" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "maximcover" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "mtvspongebob" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "yahoojenison" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "mtvmoss" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "lavignekeepholdingon" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "lavigneradio" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "lavigneitunes" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "billboardgirlfriend" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "mtvgirlfriend" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "forbes20" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "mtvmalaysia" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "mtvmalaysiaconcert" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "billboardgirlfriend100" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "warechok" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "venaabbey" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "nprmouse" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "newyorkabbey" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "basenotes" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "perfumeblog" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "amnestydarfur" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "imnotobsessed" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "mtvaction" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "ferguson2007" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "dose" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "randomhouse" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "askmen" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "okmetcalfe" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "radaronlinetattoo" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "usweeklytattoo" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "thestarmtv" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "mojohedge" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "contactmusicfastfood" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "washingtonpostfastfood" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "msnbcfastfood" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "nytimesfastfood" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "mojofastfood" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "digitalspyflock" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "mtvflock" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "mojoflock" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "canoedistance" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "mtvsabrinaaug" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "mtvsabrinanov" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "goingthedistance" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "sabrinateenagewitch" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "inked2010" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "inkedblog" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "observer" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "mtvundermyskin" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "manilamoody" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "nytimesnecktie" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "msnbcpauley" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "vancouversun" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "mirrorquigley" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "sk8terfaker" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "gazettedunlevy" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "cbcnewstreble" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "sfgatesullivan" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "siglotorreon" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "cewblackstar" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "usatodaybarker" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "concordiensis" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "maxim2008" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "independentrose" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "rosecommercial" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "2dayfm" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "wakeupvideo" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "canoemcqueen" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "canadianpress" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "mtvdowney" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "mtvbrodytattoo" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "kingstonhart" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "foundation" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "partners" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "torinogames" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "patch" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "celebri" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "digitalspy" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "artistdirect" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "allheadlinenews" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "divorce" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "celebphil" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "salva" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "tracy" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "nmefifth" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "corner" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "daw" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "abbeyhuffington" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "fragrantica" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "cornerds" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "realtorbelair" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "malach" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "wennfrance" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "huffpostkroegerwedding" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "seacrestpart2wedding" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "huffposttattoo" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên "cornerfifth" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.
<ref> có tên "chestang" được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn trên sử dụng.Liên kết ngoài
| Tập tin phương tiện từ Commons | |
| Danh ngôn từ Wikiquote | |
| Tìm kiếm Wikidata | Dữ liệu từ Wikidata |
- Không tìm thấy URL. Vui lòng định rõ một URL ở đây hoặc thêm vào trên Wikidata.
- The Avril Lavigne Foundation
- Bản mẫu:Discogs artist
- Bản mẫu:MusicBrainz artist
- Avril Lavigne trên IMDb
- Trang đưa đối số thừa vào bản mẫu
- Nguồn CS1 tiếng Anh (en)
- Nguồn CS1 tiếng Pháp (fr)
- Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ
- Nguồn CS1 tiếng Tây Ban Nha (es)
- Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ
- Trang có lỗi chú thích
- Bài viết có bản mẫu Hatnote trỏ đến một trang không tồn tại
- Trang có sử dụng tập tin không tồn tại
- Trang có IPA tiếng Pháp
- Trang sử dụng bản mẫu nhiều hình với các hình được chia tỷ lệ tự động
- Bài viết có văn bản tiếng Latinh
- Website chính thức thiếu URL
- Website chính thức không có trên Wikidata
- Sinh năm 1984
- Nhân vật còn sống
- Người đoạt giải World Music Awards
- Nghệ sĩ của Sony BMG
- Ca sĩ Ontario
- Nghệ sĩ của RCA Records
- Ca sĩ nhạc pop rock
- Giải Juno cho Album của năm
- Người đoạt giải Ivor Novello
- Nghệ sĩ của Epic Records
- Nữ ca sĩ-người viết bài hát Canada
- Nữ diễn viên lồng tiếng Canada
- Nữ diễn viên truyền hình Canada
- Nhà sản xuất thu âm Canada
- Nữ diễn viên điện ảnh Canada
- Ca sĩ thiếu nhi Canada
- Nghệ sĩ của Arista Records
- Nữ ca sĩ Canada thế kỷ 21
- Ca sĩ kiêm nhạc sĩ sáng tác bài hát Canada thế kỷ 21
- Nữ diễn viên Canada thế kỷ 21
- Avril Lavigne