Bá quốc Baden-Baden


Phiên địa Bá quốc Baden-Baden (tiếng Anh: Margraviate of Baden-Baden; tiếng Đức: Markgrafschaft Baden-Baden) là một nhà nước của Đế chế La Mã Thần thánh, lãnh thổ của nó toạ lạc ở Tây Nam Cộng hoà Liên bang Đức hiện đại. Nó được tạo ra vào năm 1535 cùng với Phiên địa bá quốc Baden-Durlach do sự phân chia của Phiên địa bá quốc Baden. Lãnh thổ của nó bao gồm một khu vực cốt lõi ở đoạn giữa của Thượng lưu sông Rhine xung quanh thủ đô Baden, cũng như các lãnh chúa trên sông Moselle và Nahe.
Trong khi đạo Tin lành chiếm ưu thế ở Baden-Durlach, Baden-Baden theo Công giáo từ Chiến tranh Ba mươi năm (1618-1648) trở đi. Sau khi lãnh thổ bị phá hủy hoàn toàn trong Chiến tranh Chín năm (1688-1697), Bá tước Louis William, "Turkishlouis", đã dời đô đến Rastatt và xây dựng Schloss Rastatt ở đó, cung điện kiểu baroque đầu tiên ở Thượng lưu sông Rhine. Dưới sự nhiếp chính của người vợ góa của ông, Sibylle xứ Sachsen-Lauenburg, các công trình kiến trúc kiểu baroque khác đã được xây dựng. Khi con trai thứ hai của bà là Bá tước Augustus George qua đời mà không có người thừa kế vào năm 1771, Baden-Baden được thừa kế bởi những nhà cai trị Baden-Durlach, từ đó cả hai lãnh thổ thống nhất lại với nhau.
Lãnh thổ


Phiên hầu quốc Baden-Baden bao gồm một khu vực cốt lõi ở bờ phải của trung lưu Thượng Rhine, tập trung tại các thành phố Baden và Rastatt, cũng như các vùng lãnh thổ xa hơn ở vùng Thượng Rhine và phía tây sông Rhine. Một trong số này thuộc về Vùng đế chế Swabia, một số khác thuộc về Vùng đế chế Thượng Rhine.
Rastatt và Baden
Lãnh thổ trung tâm trải dài từ Ettlingen đến Steinbach. Phía bắc giáp với Phiên hầu quốc Baden-Durlach, phía tây giáp sông Rhine, phía đông giáp Công quốc Württemberg, và phía nam giáp Công quốc Hanauerland. Các vùng lân cận quan trọng khác là Tuyển hầu xứ Pfalz, Giáo phận vương quyền Speyer, và Thành bang đế chế tự do Strasbourg.
Nơi cư trú và kinh đô của các Bá tước là Baden cho đến năm 1705 và sau đó là Rastatt. Các thành phố Ettlingen, Kuppenheim, Steinbach và Stollhofen đóng vai trò là các trung tâm hành chính, nơi quản lý các khu định cư nhỏ hơn và vùng nông thôn. Các thị trấn Alsace là Seltz và Beinheim nằm ở tả ngạn sông Rhine, ngay đối diện Rastatt, cũng thuộc Baden-Baden. Malsch, ban đầu là một phần của Württemberg, đã trở thành một phần của Baden vào năm 1603. Illingen là một vùng đất tách rời, thuộc Speyer, nhưng hoàn toàn bị bao quanh bởi lãnh thổ Baden-Baden.
Cho đến năm 1660, Bá quốc Eberstein về mặt lý thuyết là độc lập, bao gồm phần giữa của Murgtal và có thành phố chính tại Gernsbach, trên thực tế là một phần của Baden-Baden. Sau khi dòng dõi Eberstein tuyệt tự vào năm 1660, Baden-Baden đã chia cắt lãnh thổ với Speyer.
Năm 1688, lãnh thổ cốt lõi được mở rộng về phía nam đến Bühl, nơi thay thế Steinbach trở thành trung tâm hành chính địa phương trong suốt thế kỷ XVIII. Trong giai đoạn này, Kuppenheim cũng bị Rastatt vượt mặt về vị trí trung tâm hành chính.
Các vùng lãnh thổ khác của Thượng Rhenish
Cho đến năm 1629, Baden-Baden chia sẻ quyền kiểm soát Lahr-Mahlberg với Bá quốc Nassau-Saarbrücken. Sau đó, họ phân chia lãnh thổ, Lahr thuộc về Nassau-Saarbrücken, còn Mahlberg, Kippenheim và Friesenheim thuộc về Baden-Baden. Năm 1693, Bá tước Ludwig Wilhelm mua lại Burg Staufenberg [de] gần Durbach. Sau khi người Pháp từ bỏ Kehl, Hoàng đế Leopold I đã giao nó cho Baden-Baden vào năm 1698. Năm 1701, Baden-Baden cũng nhận được quyền đối với Offenburg.[1]
Bá quốc Sponheim
Trên các sông Moselle và Nahe và ở Hunsrück, Baden-Baden chia sẻ chủ quyền đối với các Bá quốc Fore và Hinter của Sponheim với Tuyển hầu xứ Pfalz và nhiều dòng cai trị nhánh khác nhau của Pfalz. Bá quốc Hinter bao gồm các quận hiện đại Bernkastel-Wittlich và Birkenfeld. Các trung tâm hành chính của nó là Birkenfeld, Allenbach, Dill, Herrstein, Winterburg, Kastellaun und Trarbach. Bá quốc Fore nằm ở Hunsrück và trên sông Nahe, và mở rộng đến Rheinhessen. Các thành phố quan trọng nhất là Kirchberg, Gemünden, Kreuznach und Sprendlingen.[2]
Các vùng lãnh thổ khác phía tây sông Rhine
Gia tộc Phiên hầu Baden-Baden kiểm soát Rodemachern, Useldingen và Hesperange trên lãnh thổ ngày nay của Pháp.[3] Tại Rừng Pfalz, họ sở hữu Lãnh địa Gräfenstein,[4] mà họ đã chia sẻ với gia tộc Leiningen cho đến năm 1557. Sau khi Lâu đài Gräfenstein bị phá hủy vào năm 1635, bá tước đã chuyển quyền quản lý đến Rodalben.
Lịch sử
Phiên hầu quốc Baden-Baden được thành lập vào năm 1535, kết quả của sự chia cắt của Phiên hầu quốc Baden. Vào thế kỷ XVI, lãnh địa này chịu ảnh hưởng nặng nề từ Bayern. Từ năm 1594 đến năm 1622, lãnh thổ này nằm dưới sự chiếm đóng của Phiên hầu quốc Baden-Durlach. Lãnh thổ này đã bị tàn phá nặng nề bởi Chiến tranh Ba Mươi Năm và Chiến tranh Chín Năm. Các vị quân chủ giàu có Ludwig Wilhelm xứ Baden-Baden và Sibylle duy trì một nền văn hóa cung đình xa hoa và xây dựng nhiều công trình thế tục và tôn giáo theo phong cách Baroque. Sau khi Augustus George qua đời không để lại người thừa tự vào năm 1771, Baden-Baden được Karl Friedrich xứ Baden-Durlach thừa kế.
Khởi tạo
Phiên hầu quốc Baden-Baden được thành lập qua hai lần phân chia lãnh thổ của Phiên hầu quốc Baden.
Năm 1503, Phiên hầu Christopher I đã tái thống nhất Phiên hầu quốc Hachberg-Sausenberg với Phiên hầu quốc Baden (đã bị tách ra vào năm 1306) và cai trị một lãnh thổ tuy rải rác về mặt địa lý nhưng thống nhất về mặt chính trị, bao gồm khu vực xung quanh nơi cư trú của ông tại thành phố Baden, các lãnh địa ở phía nam vùng Thượng Rhine, và các điền trang ở phía tây sông Rhine. Ông dự định tránh việc phân chia lại lãnh thổ bằng cách lập con trai của mình là Philipp, làm người thừa kế duy nhất. Tuy nhiên, anh trai của Philipp là Bernhard, đã không chấp nhận di chúc của cha mình và bị đày đến Burgundy như một hình phạt. Em trai của Philipp là Ernst, cũng nổi loạn với sự giúp đỡ của nhạc phụ là Friedrich I xứ Brandenburg-Ansbach. Cuối cùng, Christopher đã nhượng bộ và đưa ra phương án phân chia lãnh thổ của mình thành 3 phần vào năm 1515: Bernhard nhận được các khu vực phía tây sông Rhine, Philipp nhận được lãnh thổ cốt lõi xung quanh Baden, và Ernst nhận được các điền trang ở phía nam.[5]
Khi Philipp qua đời vào năm 1533 mà không có người thừa kế nam, Bernhard và Ernst ban đầu dự định cùng nhau cai trị lãnh thổ cốt lõi. Tuy nhiên, họ sớm xảy ra xung đột và quyết định chia cắt nó. Bernhard đã đặt ra đường phân chia (chủ yếu dọc theo sông Alb) và Ernst được quyền lựa chọn các phần đất. Ông đã chọn khu vực phía bắc sông Alb. Các lãnh thổ mà mỗi anh em đã nhận được vào năm 1515 vẫn không thay đổi theo thỏa thuận này. Sau lần phân chia mới, Bernhard cai trị các khu vực phía tây sông Rhine và phần lãnh thổ cốt lõi phía nam sông Alb. Ernst chuyển nơi cư trú của mình đến Pforzheim và từ đó được gọi là Phiên hầu xứ Baden-Pforzheim, trong khi Bernhard vẫn ở Baden và được gọi là Phiên hầu xứ Baden-Baden. Hai anh em tiếp tục đàm phán về các chi tiết của việc phân chia và chỉ hoàn tất một thỏa thuận thông qua sự trung gian của Tuyển hầu Ludwig V xứ Pfalz vào cuối năm 1536. Thỏa thuận này được ghi nhận bằng một hiệp ước được ký kết tại Heidelberg.[6]
Những người thừa kế của Bernhard, những người tiếp tục cai trị Phiên hầu Baden-Baden của ông cho đến năm 1771, được gọi là "dòng dõi Bernhardine" của Nhà Baden, theo tên ông.
Liên minh chặt chẽ với Bavaria
Khi Bernhard qua đời vào năm 1536, con trai cả của ông là Philibert, mới sinh và con trai thứ hai là Christopher, vẫn chưa chào đời. Ernst tuyên bố chủ quyền đối với các vùng lãnh thổ của Bernhard và cố gắng đưa yêu sách của mình lên Reichskammergericht ở Speyer, nhưng ông bị phản đối bởi vợ của Bernhard là Franziska xứ Luxembourg và con gái của Philipp là Marie Jacoba, người đã thúc đẩy quyền nhiếp chính. John II xứ Pfalz-Simmern, Wilhelm IV xứ Eberstein và Công tước Wilhelm IV xứ Bayern (chồng của Marie Jacoba) được chỉ định làm người giám hộ hợp pháp của các con của Bernhard.[7] Nam tước Henrich xứ Fleckenstein được chỉ định làm nhiếp chính thực sự ở Baden-Baden.
Philibert lớn lên ở Munich và nắm quyền điều hành Baden-Baden khi ông tròn 20 tuổi vào năm 1556. Năm 1557, ông kết hôn với Mechthild xứ Bayern, người hơn ông 4 tuổi và đã quen biết ông từ nhỏ. Ông đã chiến đấu ở Hungary chống lại Suleiman Đại đế và ở Pháp chống lại người Huguenot. Ông qua đời năm 1569, trong chiến dịch sau này, khi con trai ông, Philipp II, mới 10 tuổi.
Người giám hộ hợp pháp của Philipp II là Công tước Albrecht V xứ Bayern. Ông đã cho vị phiên hầu tước tước trẻ tuổi này học giáo lý Phản Cải cách tại Ingolstadt bởi các tu sĩ Dòng Tên và đưa ông lên làm người cai trị Baden-Baden vào năm 1571, khi ông 12 tuổi. Otto Henry von Schwarzenberg, nhiếp chính ở Baden-Baden từ năm 1570, hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát của Albrecht V. Từ năm 1572 đến năm 1582, ông đã cho xây dựng dinh thự của Philipp, Lâu đài Mới ở Baden-Baden, được kiến trúc sư Caspar Weinhart mở rộng theo phong cách Phục hưng Ý.[7]
Âm nhạc đóng vai trò trung tâm trong triều đình. Người ta cho rằng có hơn 200 nhạc cụ trong Neues Schloss vào năm 1582. Philipp II đột ngột qua đời vào năm 1588 ở tuổi 29, để lại khoản nợ lớn cho phiên hầu quốc nhưng không có người thừa kế.
Tham khảo
Thư mục
- Kurt Andermann, in: Der Landkreis Rastatt, Band 1. Stuttgart 2002, ISBN 3-7995-1364-7.
- Armin Kohnle: Kleine Geschichte der Markgrafschaft Baden. Verlag G. Braun, Karlsruhe 2007, ISBN 978-3-7650-8346-4.
- Dagmar Kicherer: Kleine Geschichte der Stadt Baden-Baden. Verlag G. Braun, Karlsruhe 2008, ISBN 978-3-7650-8376-1.
- Staatsanzeiger-Verlag (Hrsg.): Sibylla Augusta. Ein barockes Schicksal, Stuttgart 2008, ISBN 978-3-929981-73-5.
- Gerhard Friedrich Linder: Die jüdische Gemeinde in Kuppenheim. Verlag Regionalkultur, Ubstadt-Weiher 1999, ISBN 3-89735-110-2.
- Landesarchivdirektion Baden-Württemberg (Hrsg.): Der Landkreis Rastatt (Band 1). Jan Thorbecke Verlag, Stuttgart 2002, ISBN 3-7995-1364-7.
- Friedrich Wielandt: Badische Münz- und Geldgeschichte. Verlag G. Braun, Karlsruhe 1979, ISBN 3-7650-9014-X.