Bánh khúc, còn gọi là xôi khúc hoặc xôi cúc, là một loại bánh truyền thống có nguồn gốc từ đồng bằng Bắc Bộ của Việt Nam.

Tập tin:Bánh khúc.JPG
Bánh khúc

Bánh làm từ rau khúc, gạo nếp và nhân gồm đậu xanh, thịt lợn mỡ. Bánh thường được làm vào mùa rau khúc - Khoảng tháng 2, tháng 3 Âm lịch.[1]

Hà Nội, bánh khúc thường được rao bán vào các buổi tối. Người bán (thường là nam) đội thúng bánh trên đầu, vừa đi vừa rao "Xôi nóng bánh khúc đê, xôi nóng bánh khúc nào..." hay "Ai bánh khúc nóng đây!"  cùng rất nhiều cách rao khác nhau với một âm điệu rất đặc biệt trở thành nét đặc trưng của người Hà Nội.[1]

Rau khúc

Cây rau khúc có tên khoa học là Gnaphalium affine D. Don (Gnaphalium multiceps Wall.), thuộc họ Cúc (Asteraceae). Loài cây này còn được gọi bằng nhiều tên khác như "khúc nếp", "thử khúc thảo", "thử nhĩ", "hoàng hoa bạch ngải", "phật nhĩ thảo", "thanh minh thảo" và "hài nhi thảo". Rau khúc là loài cây thân thảo mọc tự nhiên tại bờ ruộng, bãi cát và các khu đất trống.

Rau khúc thường được chia thành hai loại là khúc tẻ và khúc nếp. Cây khúc tẻ có kích thước lá lớn hơn lá khúc nếp, trong khi khúc nếp thường được sử dụng phổ biến hơn để làm bánh. Tại miền Bắc Việt Nam, rau khúc thường mọc vào cuối mùa xuân. Khi không có rau khúc, một số nơi sử dụng lá su hào, bó xôi hoặc cải cúc để thay thế trong quá trình chế biến.[2]

Ngoài việc dùng để làm bánh, rau khúc còn được sử dụng trong một số món ăn như luộc hoặc nấu canh. Trong y học dân gian, cây cũng được sử dụng làm dược liệu trong một số bài thuốc truyền thống.[3]

Rau khúc cũng có thể được thu hái và phơi khô để bảo quản. Trước khi sử dụng, rau được ngâm và giã nhỏ, tương tự cách chế biến nguyên liệu làm bánh gai, nhờ đó bánh khúc có thể được chế biến vào nhiều thời điểm trong năm.

Cách làm

Tập tin:Xôi khúc.jpg
Xôi khúc
Tập tin:Xôi cúc.jpg
Xôi khúc
Tập tin:Xôi khúc 2.jpg
Xôi khúc

Rau khúc là nguyên liệu chính tạo nên lớp vỏ của bánh. Rau sau khi thu hái được hấp chín, giã nhuyễn và trộn với bột gạo để tạo thành khối bột làm vỏ bánh.

Nhân bánh thường được làm từ đậu xanh đã bỏ vỏ, ngâm mềm, đồ chín và giã nhuyễn, kết hợp với thịt ba chỉ thái nhỏ và hạt tiêu, sau đó vo thành từng viên.

Vỏ bánh được cán hoặc dàn mỏng để bọc kín phần nhân. Bánh sau khi tạo hình được xếp vào nồi hấp cùng gạo nếp đã ngâm. Giữa các lớp bánh thường rắc thêm gạo nếp để hạn chế bám dính. Ngoài cách hấp cùng gạo nếp, một số địa phương còn gói bánh trong lá chuối trước khi hấp.

Thời gian hấp bánh thường khoảng 45 phút, tính từ khi nước bắt đầu sôi.

Đặc sản địa phương

Bánh khúc là một món ăn truyền thống phổ biến tại nhiều địa phương ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Do nguyên liệu chính là rau khúc có tính mùa vụ, bánh thường được chế biến vào thời điểm rau khúc sinh trưởng. Ngoài mùa thu hoạch, rau khúc có thể được làm sạch, phơi khô và bảo quản để sử dụng trong các thời điểm khác trong năm.

Tại một số địa phương, bánh khúc được xem là một đặc sản địa phương và có những biến thể riêng về nguyên liệu hoặc cách chế biến. Một số nơi nổi tiếng với món bánh khúc gồm làng Diềm, phường Kinh Bắc (Bắc Ninh), huyện Văn Giang cũ, phường Vũ Phúc và xã Mễ Sở (Hưng Yên), cùng Việt Trì (Phú Thọ).

Tham khảo

  1. ^ a ă "Bánh khúc Hà Nội". Ấn tượng Hà Nội. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2016.
  2. ^ "Bánh khúc Hà Nội không chỉ 'hẹn' tháng 2". Báo Thanh Niên.
  3. ^ "Một số công dụng chữa bệnh từ cây rau khúc". eDoctor. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2016.