Bão Vanessa (1984)
| Tập tin:Vanessa 1984-10-26 1200Z.png Vanessa đạt cường độ cao nhất vào ngày 26 tháng 10. | |
| Lịch sử khí tượng | |
|---|---|
| Hình thành | 22 tháng 10 năm 1984 |
| Xoáy thuận ngoại nhiệt đới | 30 tháng 10 năm 1984 |
| Tan | 30 tháng 10 năm 1984 |
| Siêu bão cuồng phong | |
| Duy trì trong 10 phút (JMA) | |
| Sức gió cao nhất | 220 km/h (140 mph) |
| Áp suất thấp nhất | 880 hPa (mbar); 25,99 inHg (Xếp hạng thấp thứ tám trên toàn thế giới) |
| Siêu bão cuồng phong cấp 5 | |
| Duy trì trong 1 phút (SSHWS/JTWC) | |
| Sức gió cao nhất | 285 km/h (180 mph) |
| Áp suất thấp nhất | 879 hPa (mbar); 25,96 inHg |
| Tác động cụ thể | |
| Chết | 63 |
| Thiệt hại | $1,7 triệu (1984 USD) |
| Vùng ảnh hưởng | Quần đảo Caroline, Quần đảo Mariana, Philippines |
| IBTrACSLỗi Lua trong Mô_đun:EditAtWikidata tại dòng 29: attempt to index field 'wikibase' (a nil value). | |
Một phần của Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương 1984 | |
Bão Vanessa (định danh JTWC: 25W, định danh PAGASA: Toyang) là cơn bão nhiệt đới mạnh nhất trong mùa bão Thái Bình Dương năm 1984 và là một trong những xoáy thuận nhiệt đới dữ dội nhất từng được ghi nhận trong lịch sử khí tượng toàn cầu. Đây là cơn bão thứ 22 được đặt tên, cơn bão cuồng phong thứ 12 và là siêu bão đầu tiên của mùa bão năm 1984. Với áp suất trung tâm giảm xuống mức cực đoan 880 hPa, bão Vanessa đã đi vào lịch sử khi lọt vào top những hệ thống áp suất thấp kỷ lục của thế giới.
Lịch sử khí tượng
Bão nhiệt đới (39–73 mph, 63–118 km/h)
Cấp 1 (74–95 mph, 119–153 km/h)
Cấp 2 (96–110 mph, 154–177 km/h)
Cấp 3 (111–129 mph, 178–208 km/h)
Cấp 4 (130–156 mph, 209–251 km/h)
Cấp 5 (≥157 mph, ≥252 km/h)
Không rõ
Vào ngày 20 tháng 10 năm 1984, một vùng áp thấp nhiệt đới bắt đầu hình thành từ một rãnh áp thấp gần xích đạo ở phía đông nam đảo Pohnpei (thuộc quần đảo Caroline). Hệ thống này di chuyển chủ yếu theo hướng tây bắc và phát triển một cách chậm chạp. Đến ngày 22 tháng 10, vùng nhiễu động chính thức được Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp (JTWC) nâng cấp thành áp thấp nhiệt đới 25W và nhanh chóng đạt chuẩn bão nhiệt đới vào ngày 23 tháng 10, được Ủy ban Bão khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương đặt tên quốc tế là Vanessa.
Ngay ngày hôm sau (24 tháng 10), Vanessa tiếp tục mạnh lên thành một cơn bão cuồng phong cấp 1 khi di chuyển qua khu vực cách đảo Guam khoảng 90 hải lý về phía nam-tây nam. Do gặp các điều kiện khí quyển cực kỳ thuận lợi như nhiệt độ bề mặt nước biển cao và độ đứt gió yếu, bão Vanessa bước vào giai đoạn tăng cường độ nhanh chóng cực đoan (explosive intensification) kể từ ngày 25 tháng 10, giảm tới 100 hPa áp suất chỉ trong vòng 48 giờ. Cơn bão đạt đỉnh điểm vào ngày 26 tháng 10 khi đang hoạt động trên vùng biển thuộc Biển Philippine. Theo dữ liệu tổng hợp từ Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) và JTWC, áp suất trung tâm của bão Vanessa đã giảm xuống mức kỷ lục 880 hPa cùng tốc độ gió duy trì trong 1 phút lên tới 290 km/h (180 mph). Sau khi đạt đỉnh, bão Vanessa bắt đầu chuyển hướng di chuyển lên phía bắc và đông bắc. Do đi vào vùng nước lạnh hơn, bão suy yếu dần và quét qua vùng biển phía nam quần đảo Ryukyu của Nhật Bản vào ngày 28 tháng 10. Đến ngày 30 tháng 10, lõi bão bị phá hủy hoàn toàn và hệ thống chính thức chuyển hóa thành một xoáy thuận ngoại nhiệt đới tại Bắc Thái Bình Dương trước khi tan biến.
Sự va chạm
Mặc dù vùng lõi trung tâm (mắt bão) của siêu bão Vanessa không trực tiếp đâm xuyên thẳng vào các dải đất liền lớn, hoàn lưu khổng lồ của hệ thống đã có những đợt va chạm mạnh mẽ vào địa hình của đảo Guam và Philippines, gây ra những tác động nghiêm trọng. Tại Philippines, siêu bão Vanessa (được đặt tên địa phương là Toyang) không đổ bộ trực tiếp lên đất liền mà di chuyển song song ngoài khơi phía đông nước này. thiệt hại trên đảo lên tới 1,7 triệu USD. (theo giá năm 1984 , tương đương 4,98 triệu đô la Mỹ vào năm 2023), chủ yếu là đối với vụ chuối.
Tại Philippines, nơi cơn bão được đặt tên địa phương là Toyang, hệ thống hoàn toàn không đổ bộ trực tiếp lên đất liền nước này. Tuy nhiên, các dải mây hoàn lưu rìa ngoài (outer bands) của bão liên tục va chạm trực tiếp với địa hình đồi núi cao của đảo Luzon, kích hoạt một hệ thống mưa rào xối xả kéo dài trên diện rộng. Sự va chạm địa hình này đã dẫn đến thảm họa lũ quét và sạt lở đất nghiêm trọng tại các vùng nông thôn Luzon Philippines, khiến 63 người tử vong.
| Tên bão | Năm | Lưu vực | Áp suất | ||
|---|---|---|---|---|---|
| hPa | inHg | ||||
| 1 | Tip | 1979 | Tây Bắc Thái Bình Dương | 870 | 25.7 |
| 2 | Patricia | 2015 | Đông Bắc Thái Bình Dương | 872 | 25.7 |
| 3 | June | 1975 | Tây Bắc Thái Bình Dương | 875 | 25.8 |
| Nora | 1973 | ||||
| 5 | Forrest | 1983 | 876 | 25.9 | |
| 6 | Ida | 1958 | 877 | 25.9 | |
| 7 | Rita | 1978 | 878 | 26.0 | |
| 8 | Kit | 1966 | 880 | 26.0 | |
| Vanessa | 1984 | ||||
| 10 | Wilma | 2005 | Đại Tây Dương | 882 | 26.4 |
| 11 | Winston | 2016 | Nam Thái Bình Dương | 884 | 26.1 |