Bão Wayne (1986)

(Đổi hướng từ Bão Wayne)

Bão Wayne, được biết đến ở Philippines với tên gọi Bão Miding, hay bão số 5 năm 1986 tại Việt Nam, là một trong những xoáy thuận nhiệt đới tồn tại lâu nhất từng ghi nhận được trên khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương. Đây là một trong những cơn bão có đường đi phức tạp, dị thường và khó dự báo nhất trong lịch sử ngành khí tượng khi nó đi lòng vòng không theo quy luật nào trên Biển Đông và một chút ngoài khơi Thái Bình Dương trong khoảng thời gian 22 ngày giữa tháng 8 và tháng 9 năm 1986.

Bão Wayne
(bão số 5 năm 1986)
Tập tin:Wayne Sep 4 1986 0652Z.png
Hoàn lưu cơn bão Wayne trong ngày 4 tháng 9 năm 1986
Lịch sử khí tượng
Thời gian3 tuần
Hình thành16 tháng 8 năm 1986
Tan6 tháng 9 năm 1986
Bão cuồng phong
Duy trì trong 10 phút (JMA)
Sức gió cao nhất140 km/h (85 mph)
Áp suất thấp nhất955 hPa (mbar); 28,20 inHg
Bão cuồng phong cấp 2
Duy trì trong 1 phút (SSHWS/JTWC)
Sức gió cao nhất165 km/h (105 mph)
Áp suất thấp nhất950 hPa (mbar); 28,05 inHg
Tác động cụ thể
Chết510–668
Bị thương≥3009
Mất tích56-86
Thiệt hại≥$780 triệu (1986 USD)
Vùng ảnh hưởngTrung Quốc đại lục, Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản, Philippines, Việt Nam (chủ yếu tại miền Bắc)
IBTrACSLỗi Lua trong Mô_đun:EditAtWikidata tại dòng 29: attempt to index field 'wikibase' (a nil value).

Một phần của Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương 1986

Hình thành từ giữa tháng 8 năm 1986, Wayne đạt cường độ tối đa là bão cấp 2 trong thang bão Saffir-Simpson, đã có thời điểm suy yếu thành áp thấp nhiệt đới nhưng rồi mạnh lên trở lại, đi ra đi vào biển Đông 3 lần, đổ bộ vào phía Tây đảo Đài Loan, phía Bắc đảo Hải Nam và cuối cùng là vùng đồng bằng Bắc Bộ của Việt Nam. Trong suốt hành trình của mình, Wayne đã tác động mạnh đến Philippines, Đài Loan, Đông Nam Trung Quốc, đảo Hải Nam, Việt Nam, Lào và Thái Lan, gây mưa lớn, gió mạnh và thiệt hại nghiêm trọng tại các quốc gia này, đặc biệt tại Đài Loan, đảo Hải Nam và các tỉnh Thái Bình, Hà Nam Ninh (nay là Hưng Yên và Ninh Bình) của Việt Nam. Tại Đài Loan, Wayne được xếp vào nhóm "tứ đại quái đài", trong khi ở Việt Nam, Wayne được cho là trận bão lớn nhất tấn công vùng Thái Bình và Hà Nam Ninh kể từ năm 1929. Tổng hợp từ các nguồn cho thấy trên 500 người đã thiệt mạng do bão, chủ yếu tại Việt Nam.

Lịch sử khí tượng

Tập tin:Wayne 1986 track.png
Biểu đồ thể hiện đường đi và cường độ của bão theo thang Saffir–Simpson
Chú thích biểu đồ
     Áp thấp nhiệt đới (≤38 mph, ≤62 km/h)
     Bão nhiệt đới (39–73 mph, 63–118 km/h)
     Cấp 1 (74–95 mph, 119–153 km/h)
     Cấp 2 (96–110 mph, 154–177 km/h)
     Cấp 3 (111–129 mph, 178–208 km/h)
     Cấp 4 (130–156 mph, 209–251 km/h)
     Cấp 5 (≥157 mph, ≥252 km/h)
     Không rõ
Kiểu bão
  Xoáy thuận ngoài nhiệt đới, áp thấp tàn dư, nhiễu động nhiệt đới, hoặc áp thấp gió mùa

Wayne bắt đầu hình thành trong một rãnh gió mùa trên Biển Đông vào ngày 16 tháng 8 năm 1986. Ban đầu, nó trôi dạt về phía Tây Nam, rồi sau đó đi vòng một vòng lên phía Tây Bắc, mạnh lên thành bão nhiệt đới trong ngày 18. Wayne, một cơn bão gắn liền trong rãnh gió mùa suốt quãng đời, tiếp đó chuyển hướng Đông Bắc do tác động từ một rãnh thấp và tiếp tục mạnh lên thành một cơn bão cuồng phong vào ngày 19 theo Trung tâm Cảnh báo Bão Liên hợp (JTWC), và vào ngày 20 theo Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA).[1] Tại thời điểm 2 giờ chiều ngày hôm đó, con tàu M. V. Fossarus đã ghi nhận được tốc độ gió 78 knot (144 km/giờ) ở vị trí ngay sát phía Tây tâm bão.[2] Wayne ngày một tiến đến gần nhưng cuối cùng nó vẫn duy trì ngoài khơi vùng Đông Nam Trung Quốc, và cơn bão đã tấn công Đài Loan sau khi đạt đỉnh với vận tốc gió duy trì 10 phút tối đa là 140 km/giờ (theo JMA). Sau khi đi qua Đài Loan, cường độ bão suy yếu đáng kể do địa hình phá bão.[3] Tiếp đó, một áp cao cận nhiệt mới hình thành buộc Wayne phải di chuyển về phía Tây rồi đến Tây Nam, vượt qua eo biển Luzon, nơi mà nó đã mạnh trở lại thành bão cuồng phong trong một thời gian ngắn theo như JTWC.[4] Tuy nhiên, JMA đã không nâng cấp Wayne thành bão cuồng phong trong quãng thời gian đó.[1]

Một thời gian sau, độ đứt gió theo chiều thẳng đứng đã khiến Wayne suy yếu thành áp thấp nhiệt đới vào ngày 25 theo JTWC, và vào ngày 26 theo JMA,[1] khi cơn bão bắt đầu chuyển động xoáy xung quanh hoàn lưu của bão Vera ở phía Bắc. Áp thấp nhiệt đới Wayne tăng tốc về phía Đông Bắc, vượt qua Biển Đông, và mạnh lên thành bão nhiệt đới một lần nữa vào ngày 27 tháng 8. Tiếp theo, áp cao ở phía Bắc buộc Wayne di chuyển xuống phía Nam, và đó là thời điểm mà nó mạnh lên thành bão cuồng phong vào ngày 30 theo JTWC, và vào ngày 31 theo JMA. Wayne đã đi sát qua vùng Bắc Luzon trong ngày 2 tháng 9 với sức gió 140 km/giờ rồi quay sang hướng Tây. Đến ngày 3 tháng 9 JMA giáng cấp Wayne xuống còn bão nhiệt đới trước khi nó lại mạnh lên thành bão cuồng phong trong sáng sớm ngày mùng 4.[1] Cũng trong ngày hôm đó, Wayne đã đạt một đỉnh cường độ thứ hai với vận tốc gió 85 knot (155 km/giờ) theo JTWC và 70 knot (130 km/giờ) theo JMA. Một thời gian sau, vùng tâm bão đã di chuyển qua ngay sát phía Bắc Hải Khẩu, nơi mà áp suất ghi nhận giảm xuống mức 970,1 hPa (28,65 inHg).[2] Sau đó Wayne đi vào vịnh Bắc Bộ, đổ bộ vào đất liền các tỉnh Thái Bình, Hà Nam Ninh (nay là các tỉnh Hưng Yên, Ninh Bình) thuộc miền Bắc Việt Nam vào rạng sáng ngày 6 tháng 9 theo giờ Việt Nam (tâm bão đi qua sát thị xã Thái Bình và thành phố Nam Định cũ, vị trí này tương đương các huyện cũ Vũ Thư, Kiến Xương, Tiền Hải (Thái Bình), Nam NinhXuân Thủy (Hà Nam Ninh), còn cách xa trạm khí tượng thuỷ văn Văn Lý).[5][6] Cơn bão tan trong ngày hôm sau trên đất liền khu vực biên giới Việt-Lào, sau 85 thông báo của JTWC, và nó đã trở thành hệ thống tồn tại lâu nhất trên Tây Bắc Thái Bình Dương từng ghi nhận được trong lịch sử.[4]

Truyền thông Đài Loan mô tả cơn bão bằng những cụm từ "một cơn bão, hai lần đổ bộ, ba lần cảnh báo, bốn lần đổi hướng".[7][8] Bão Wayne cùng với các cơn bão Nat (1991) [zh], Nari (2001) [en, zh] và Tembin (2012) [en, zh] được coi là "tứ đại quái đài"–một trong bốn cơn bão kì dị nhất trong lịch sử bão Đài Loan.[9]

Sai số dự báo

Bão Wayne có quỹ đạo di chuyển kì lạ, và có những sai sót khá lớn trong công tác dự báo đường đi cơn bão này. Cụ thể, kết quả dự báo đường đi của mô hình thời tiết của Trung tâm Dự báo Thời tiết Hạn vừa Châu Âu (ECMWF) có sai sót đáng kể trong thời gian diễn ra sự tương tác giữa cơn bão này với bão Vera [en] ở ngoài biển Đông hoặc khi dòng dẫn yếu, tuy nhiên mô hình ECMWF nhìn chung dự báo quỹ đạo tốt hơn so với bản tin dự báo của JTWC, trong bản tin dự báo trưa ngày 22 tháng 8 năm 1986 của JTWC thì sai số vị trí tâm bão sau 72 giờ từ thời điểm mốc dự báo so với thực tế lên tới gần 2000 km, sai số vị trí tâm bão sau 48 giờ từ thời điểm mốc dự báo so với thực tế lên tới hơn 1000 km ở một vài bản tin khác của JTWC.[10] Bản tin dự báo của Đài Thiên văn Hoàng gia Hồng Kông cũ (nay là Đài Thiên văn Hồng Kông HKO) cũng có sai số lớn, với sai số vị trí tâm bão dự báo 48 giờ kể từ mốc dự báo so với thực tế ở các bản tin ngày 22 và 23 tháng 8 của đài cũng lên tới hơn 1000 km.[11]

Tác động và hệ quả

Do quỹ đạo dài và phức tạp của Wayne khiến cho cơn bão ảnh hưởng tới nhiều quốc gia, gây ra những trận mưa lớn đến khắp các khu vực Philippines, Đài Loan, vùng Đông Nam Trung Quốc, đảo Hải Nam, và Việt Nam.[2] Bất chấp tác động gây ra đến nhiều địa điểm cùng quỹ đạo và thời gian tồn tại bất thường, cái tên Wayne đã không bị khai tử, và được sử dụng lại vào mùa bão năm 1989.[12]

Thương vong và thiệt hại theo quốc gia/vùng lãnh thổ được báo cáo
Quốc gia/vùng lãnh thổ Người chết Người mất tích Người bị thương Thiệt hại kinh tế

(1986 USD)

Nguồn
Đài Loan 68 19 422 ≥528,8 triệu [13][14]
Philippines 17–36 4 12,9 triệu [15]
Hồng Kông 3 15 22.308 [2][16]
Trung Quốc 3–128 2–28 53–1.495 62,6–124,6 triệu [16][17][18]
Việt Nam 417–450 35–39 ≥2.515 ≥176 triệu [19][20][21]
Thái Lan 2 0,4 triệu [16]
Tổng cộng 510–668 56–86 ≥3.009 &0000000780300000.000000780 triệu

Đài Loan

Trên quần đảo Bành Hồ, sức gió duy trì liên tục trong 10 phút đạt 177 km/h và gió giật lên tới 227 km/h (tương đương sức gió cấp 15 giật trên cấp 17) được đo tại đảo Đông Cát, một trạm tại đảo Bành Hồ ghi nhận trị số khí áp mực biển 951,3 mbar lúc 19:30 UTC ngày 21 tháng 8 và gió giật đạt 245 km/h (trên cấp 17).[22][23][24] Bão Wayne đổ bộ vào phía Tây đảo Đài Loan trong lần đầu tiên cơn bão đổ bộ, không có tác động chắn gió của dãy núi Trung Ương, bão đã gây ra những cơn gió mạnh ở nhiều vùng phía Tây hòn đảo.[25] Trên đảo Đài Loan, gió giật tại hồ Nhật Nguyệt đạt 194 km/h (cấp 16), gió giật đạt cấp 14 ở Ngô ThêGia Nghĩa với các giá trị ghi nhận được lần lượt là 165 km/h và 154 km/h, gió giật tối đa có thể trên 180 km/h (tức cấp 15 hoặc hơn) tại một số nơi bị ảnh hưởng nặng nề nhưng không có số liệu quan trắc như Chương HóaVân Lâm, trị số khí áp mực biển 972,4 mbar đã được ghi nhận tại Đài Trung.[22][23][25] Lượng mưa đạt 459,3 mm tại đảo Bành Giai và 460 mm tại A Lí Sơn (Gia Nghĩa) trong một khoảng thời gian từ 21 tháng 8 đến 23 tháng 8.[26] Tại Đài Loan, cơn bão đã khiến 68 người chết, 19 người mất tích, 422 người bị thương, 6.624 ngôi nhà bị phá hủy hoàn toàn và 31.532 ngôi nhà bị hư hại một phần cùng hàng nghìn tàu cá bị đánh chìm.[14][27] Theo hãng thông tấn Associated Press, thiệt hại tại Đài Loan là 405 triệu USD (USD 1986).[28] Theo Tự do Thời báo ([en], [zh]), thiệt hại do bão Wayne gây ra vượt 20 tỷ Đài tệ (trên 528,8 triệu USD, thời giá 1986).[13]

Philippines

Vào ngày 1 và 2, gió giật mạnh 140 km/h và mưa lớn đã được ghi nhận trên đảo Luzon.[29] Tại Căn cứ Không quân Clark ở Philippines, tổng lượng mưa ghi nhận được là 523,5 mm.[30] Lũ lụt và sạt lở đất đã phá hủy ít nhất ba cây cầu và san bằng 700 ngôi nhà và 87.300 gia đình phải sơ tán. Ở một số khu vực của Manila, nước lũ dâng lên đến tận mái nhà, với 90% thị trấn Melabon ngay ngoại ô Manila bị ngập lụt, thiệt hại mùa màng trên diện rộng, ít nhất 17.000 ha đất trồng lúa bị ngập, trong khi 90% ao nuôi cá thương phẩm ở sáu tỉnh phía bắc bị phá hủy, ít nhất 28 người thiệt mạng.[29] Theo một nguồn tin trong nước, 17 người thiệt mạng và 4 người mất tích ở quốc gia này,[15] còn theo báo cáo tổng hợp của Đài Thiên văn Hồng Kông thì có 36 người chết tại quốc gia này.[2]

Trung Quốc

Khoảng 10 giờ sáng ngày 5 tháng 9 (giờ Trung Quốc), bão đổ bộ vào Phô Tiền, Văn Xương nằm trên đảo Hải Nam, sau đó bão quét một loại các thành phố và huyện ở phía Bắc Hải Nam như Quỳnh Sơn (ngày nay được sáp nhập vào Hải Khẩu), Hải Khẩu, Trừng Mại, Lâm Cao nằm trên đảo Hải Nam, thuộc tỉnh Hải Nam ngày nay.[a][17] Khoảng 12 giờ cùng ngày, cơn bão tấn công trực diện vào huyện Từ Văn ở tỉnh Quảng Đông.[18] Cục Khí tượng Trung Quốc xác định cường độ bão khi đổ bộ vào tỉnh Hải Nam ngày nay và tỉnh Quảng Đông đều đạt cấp 12, cấp 13.[31]

Gió mạnh cấp 9–10 giật cấp 11–12 được ghi nhận tại Áp Pha (thuộc Giang Thành, Dương Giang), huyện Hải Khang (ngày nay là thành phố cấp huyện Lôi Châu) và đảo Vi Châu (thuộc Bắc Hải), sức gió duy trì 101 km/h (cấp 10) và gió giật 130 km/h (cấp 12) được đo tại huyện Hải Khang.[32] Từ 20 giờ ngày 5 tháng 9 đến 20 giờ ngày 7 tháng 9, tổng lượng mưa tại 11 thành phố cấp huyện và huyện đạt trên 100 mm, tại Văn Xương và Trừng Mại ghi nhận tổng lượng mưa lần lượt đạt 260 mm và 331 mm.[17] Theo quyển Hải Nam trong bộ sách tổng hợp về thiên tai khí tượng tại Trung Quốc (tiếng Trung: 国气象灾害大典), trên đảo Hải Nam, bão làm 3 người chết, 2 người mất tích, 53 người bị thương, khoảng 28 nghìn ha mía bị bão quật đổ, diện tích lúa vụ mùa muộn bị ngập úng lên tới 32.667 ha, khoảng 22,7 triệu cây rừng, 8,43 triệu cây cao su bị đổ hoặc gãy, 2.188 cột điện cao và hạ thế bị đổ hoặc gãy, 369 thuyền đánh cá bị hư hỏng và nhiều loại thiệt hại khác, tổng thiệt hại kinh tế tại đảo Hải Nam được quy ra là 216 triệu nhân dân tệ (62,6 triệu USD, giá năm 1986).[17] Theo quyển Quảng Đông của cùng bộ sách trên, tại bờ biển phía Đông của Từ Văn, bão cũng gây nước dâng cao 1,5–2 m so với mực nước triều bình thường, 830 tuyến đê bị phá huỷ, 1.340 tàu cá bị hư hại hoặc chìm, không có số liệu thương vong do bão Wayne gây ra được ghi chép trong quyển này.[18] Tuy nhiên, báo cáo thường niên của Uỷ ban Bão khu vực châu Á–Thái Bình Dương năm 1986 đưa ra con số thương vong cao hơn đáng kể, cụ thể cơn bão đã khiến 128 người thiệt mạng, 28 người mất tích và 1.495 người bị thương, thiệt hại kinh tế đạt 124,6 triệu USD ở đảo Hải Nam và bán đảo Lôi Châu.[16]

Việt Nam

Khí áp mực nước biển thấp nhất ghi nhận
trên đất liền đối với các cơn bão đổ bộ vào Việt Nam từ năm 1975
STT Bão Năm Trị số khí áp Nguồn
Giá trị Tại
1 Yagi (bão số 3) 2024 955,2 hPa Bãi Cháy (Quảng Ninh) [33]
2 Cecil (bão số 8) 1985 959,9 hPa Đông Hà (Quảng Trị) [34][35]
3 Xangsane (bão số 6) 2006 963,3 hPa Đà Nẵng [36]
4 Sarah (bão số 3) 1977 ~ 963,5 hPa Phù Liễn (Hải Phòng) [b][37]
5 Doksuri (bão số 10) 2017 966,6 hPa Ba Đồn (Quảng Trị) [38]
6 Kalmaegi (bão số 13) 2025 967 hPa Quy Nhơn (Gia Lai) [39]
7 Wayne (bão số 5) 1986 967,4 hPa Nam Định (Ninh Bình) [40]
8 Vera (bão số 3) 1983 968,3 hPa Cửa Ông (Quảng Ninh) [41]
9 Frankie (bão số 2) 1996 969 hPa Văn Lý (Ninh Bình) [42]
10 Wutip (bão số 10) 2013 969,2 hPa Đồng Hới (Quảng Trị) [43]

Trên vịnh Bắc Bộ, tại đảo Bạch Long Vĩ có gió mạnh cấp 13 (144 km/h), khí áp 984,5 hPa.[2][5] Trên đất liên Việt Nam, Thái BìnhCửa Ông (Quảng Ninh) ghi nhận gió mạnh 126 km/h (cấp 12), giật cấp 13; Nam Định ghi nhận gió mạnh 115 km/h (cấp 11), giật cấp 12 và khí áp đo được là 967,4 mbar.[5] Ngoài ra Phù Liễn có gió cấp 10, thủ đô Hà Nội có gió cấp 7, vùng gió mạnh rộng nhưng thiên về phía Bắc đường đi bão.[5] Lượng mưa do bão gây ra tại Việt Nam từ 19 giờ ngày 5 tháng 9 đến 19 giờ ngày 7 tháng 9 (giờ Việt Nam) tại Đình Lập (Lạng Sơn) ghi nhận lượng mưa 266 mm, tại Nho Quan (Hà Nam Ninh) lượng mưa 265 mm, một số điểm khác trên 200 mm, lượng mưa trước và sau bão không lớn theo một số nhận định.[44][5] Tuy nhiên, hiện tượng ngập lụt trên diện rộng vẫn được ghi nhận do tác động của mưa bão.[21] Nước dâng do bão ghi nhận được tại Trà Lý (Thái Bình) là 2,3 m.[45] Trên sông Thao tại Bảo Hà mực nước lên đến 57,00 m (mức báo động 3); tại Yên Bái mực nước cao nhất đạt 32,55 m (trên báo động 3).[46][c]

Bão gây thiệt hại tại nhiều địa phương miền Bắc, chủ yếu là do gió bão mạnh gây nên.[5][47] Tại Việt Nam, cơn bão đã khiến gần 450 người chết, hơn 30 người mất tích (số người mất tích là 39 theo báo Tiền phong) và hơn 2.550 người bị thương theo báo Tiền phong và tài liệu của tác giả Nguyễn Hữu Lượng;[5][19] trong khi sách Lịch sử đê điều Việt Nam cho biết bão làm 417 người chết, 35 người mất tích và 2.515 người bị thương.[21] Bão khiến cho 500–650 nghìn ngôi nhà bị hư hại một phần hoặc hoàn toàn,[16][48][49] gần 10.000 phòng học, hơn 1.000 phòng chữa bệnh bị đổ hoặc hư hại, gần 200 tàu thuyền và xà lan bị đắm, hơn 200 cột điện cao thế và nhiều trạm điện cao thế bị đổ, hệ thống điện thoại và truyền thanh nhiều huyện bị tê liệt, hàng loạt công trình Nhà nước bị hư hỏng, sập, đổ.[5] 13.930 ha diện tích trồng lúa bị ảnh hưởng và 82.650 ha bị ngập lụt.[49] Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam năm 1986, khi lạm phát tăng cao trước thời kỳ Đổi Mới,[d] những thiệt hại do Wayne gây ra được cho là "vô cùng lớn".[19]

Vùng thiệt hại nặng nhất chỉ tập trung tại vài tỉnh ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, nghiêm trọng nhất tại hai tỉnh Thái Bình và Hà Nam Ninh,[49][44] ở hai tỉnh này thì các huyện Tiền Hải, Kiến Xương (tỉnh Thái Bình), Xuân Thủy, Nam Ninh (tỉnh Hà Nam Ninh) bị ảnh hưởng nặng nhất.[51] Riêng tại huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tính tới ngày 14 tháng 9 năm 1986 có 112 người chết, 1.380 người bị thương, tất cả nhà ở đều bị đổ sập hoặc bị phá hủy, hơn 60 nghìn người bị mất nhà cửa, 460 phòng học bị phá hủy, 1.200 ha lúa đang trổ bông bị ngập lụt.[52] Các báo cáo ban đầu cũng cho biết hàng chục người chết và hàng trăm người bị thương ở huyện Kiến Xương và thị xã Thái Bình, tỉnh Thái Bình.[53] Thiệt hại kinh tế trên địa bàn tỉnh Thái Bình được ghi nhận lên đến hơn 4 tỷ đồng (giá năm 1986, tương đương khoảng 176 triệu USD).[20] Tại tỉnh Hà Nam Ninh, bão Wayne được cho là cơn bão mạnh nhất tấn công tỉnh này trong 57 năm, gây ra sự tàn phá trên diện rộng, tính đến ngày 10 tháng 9 năm 1986, có đến 191 người chết, 19 người mất tích, 839 người bị thương.[52] Ở vùng biển Cồn Thoi, 12 đoạn đê, mỗi đoạn dài 25-30m bị tàn phà và gần 55.000 mét khối đất bị cuốn trôi.[54] Hãng thông tấn United Press International đưa tin vào ngày 12 tháng 9 năm 1986 cho biết gần 400 người chết, hơn 2.500 người bị thương, hơn 30 người mất tích tại hai tỉnh Thái Bình và Hà Nam Ninh, hàng trăm nghìn người lâm vào cảnh mất nhà cửa.[48] Theo UNDP, Wayne được cho là trận bão gây thiệt hại nghiêm trọng nhất kể từ năm 1929 (đến thời điểm diễn ra bão) tại khu vực Thái Bình và Hà Nam Ninh.[49]

Tại tỉnh Hoàng Liên Sơn, lũ lụt sau bão Wayne đã gây thiệt hại lớn cho khu vực vùng ven sông Thao và thị xã Yên Bái, 643 ha lúa và hoa màu vùng có năng suất cao bị ngập và bị tàn phá nặng nề.[46]

Chính phủ Việt Nam đã phải kêu gọi sự hỗ trợ từ quốc tế sau bão; Cộng hòa Liên bang Đức viện trợ tiền mặt 219.512 USD và Hiệp hội Caritas Đức viện trợ tiền mặt từ 365.854 USD. Bên cạnh đó, các bên cũng đề nghị hỗ trợ 9.000 tấn gạo, phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc men và vật liệu xây dựng nhằm phục hồi sản xuất nông nghiệp trên 82.650 ha ruộng lúa bị ngập lụt.[49]

Các nơi khác

Hồng Kông đã ghi nhận được tốc độ gió giật 144 km/h (cấp 13) tại Tate's Cairn (một đỉnh núi có độ cao 583 m). Tổng lượng mưa tích lũy tại Tây Cống là 295 mm sau ba lần cơn bão tiếp cận Hồng Kông. Mưa dông kèm vòi rồng nước sau bão làm 3 người tử vong,15 người bị thương, 13 ngôi nhà tại đây bị hư hỏng.[2][55] Hiện tượng mưa lớn và ngập lụt do bão cũng được ghi nhận tại một số tỉnh phía Bắc của Thái Lan,[56] có 2 người chết, tổng thiệt hại tại Thái Lan ước tính 0,4 triệu USD (thời giá 1986).[16]

Ghi chú

  1. ^ Năm 1986, tỉnh Hải Nam chưa được thành lập và đảo Hải Nam là một phần của tỉnh Quảng Đông
  2. ^ Giá trị khí áp tuyệt đối ghi nhận theo Nguyễn Đức Ngữ & Nguyễn Trọng Hiệu 2013, tr. 104 là 950,6 hPa, tuy nhiên nó được đo ở độ cao 113m. Khi quy về mực nước biển trong điều kiện bình thường (quy ước lên cao khoảng 12m, khí áp giảm 1mmHg) thì giá trị áp là khoảng 963 đến 964 hPa, khi đã tính cả yếu tố nhiệt độ; bảng sử dụng mức trung bình là 963,5 hPa.
  3. ^ Theo quy định về cấp báo động lũ của Việt Nam, cấp báo động 3 tại Bảo Hà là 57,0m và tại Yên Bái là 32,0m.
  4. ^ Lạm phát cuối năm 1986 ở Việt Nam lên đến 774%.[50]

Tham khảo

  1. ^ a b c d JMA. RSMC Best Track Data (Text): 1986-1990. Lưu trữ ngày 24 tháng 5 năm 2011 tại Wayback Machine Retrieved on 2009-02-07.
  2. ^ a b c d e f g Hong Kong Royal Observatory (1987). Meteorological Results 1986: Part III - Tropical Cyclone Summaries. Lưu trữ ngày 23 tháng 10 năm 2019 tại Wayback Machine Retrieved on 2009-02-01.
  3. ^ Nhiều tác giả 1987, tr. 82
  4. ^ a b JTWC(1987). Chapter 3: Northwest Pacific and North Indian Ocean Tropical Cyclones. Lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2011 tại Wayback Machine United States Navy. Truy cập 2007-12-19.
  5. ^ a b c d e f g h Nguyễn Hữu Lượng, Cục Dự báo KTTV. "Cơn bão số 5 (bão Wayne)" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 25 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2023.
  6. ^ Đặng Phong; Trần Đình Thiên (2012). Biên niên các sự kiện kinh tế Việt Nam, 1975-2008. Nhà xuất bản Khoa học xã hội. tr. 203.
  7. ^ "怪颱韋恩創「三修」紀錄 「冥頑不化」耐活性特強" [Bão ma quái Wayne lập kỉ lục 3 lần tái cảnh báo: Cực kỳ lì lợm và sống dai dẳng]. 自立晚報 [Tự lập vãn báo] (bằng tiếng Trung). ngày 29 tháng 8 năm 1986.
  8. ^ "韋恩「西歸」 請不要再「東征」" [Bão Wayne đã đi hướng Tây, xin đừng quay sang Đông nữa]. 中國時報 [Trung Quốc thời báo] (bằng tiếng Trung). ngày 4 tháng 9 năm 1986.
  9. ^ 涂建翊 (Đồ Kiến Dực); 涂建翊 (Dư Gia Dụ); 周佳 (Châu Giai) (2006). 臺灣的氣候 [Khí hậu Đài Loan] (bằng tiếng Trung). 遠足文化事業股份有限公司出版 (Công ty Cổ phần Văn hóa Viễn Túc).
  10. ^ Lam, Hilda; Chang, Johnny C. L. (ngày 1 tháng 6 năm 1989). "Performance of the ECMWF Model in Predicting the Movement of Typhoon Wayne (1986)" [Kết quả của mô hình ECMWF trong việc dự báo quỹ đạo của bão Wayne (1986)]. Weather and Forecasting (WAF) (bằng tiếng Anh). doi:10.1175/1520-0434(1989)004<0234:POTEMI>2.0.CO;2. ISSN 0882-8156. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2026 – qua Hiệp hội Khí tượng Hoa Kì (American Meteorological Society).
  11. ^ C.Y. Lam (1989). "Applying Numerical Modelling to the Prevention of Natural Disasters" [Ứng dụng mô hình số trong phòng ngừa thiên tai] (PDF). Đài Thiên văn Hồng Kông (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2026.
  12. ^ Joint Typhoon Warning Center (1990). 1989 Joint Typhoon Warning Center Tropical Cyclone Reports for the Northwest Pacific and North Indian Oceans. Lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2011 tại Wayback Machine United States Navy. Truy cập 2008-11-26.
  13. ^ a b "丹娜絲路徑神複製!中颱韋恩39年前2度登陸台灣 奪68命災損逾200億" [Đường đi y hệt Danas! Bão cường độ trung bình Wayne 39 năm trước từng 2 lần đổ bộ Đài Loan, cướp đi 68 sinh mạng, thiệt hại hơn 20 tỷ tệ]. 自由时报 (Tự do Thời báo) (bằng tiếng Trung). ngày 26 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2026.
  14. ^ a b "臺灣地區天然災害損失統計表(47年至110年12月)" [Bảng thống kê thiệt hại do thiên tai khu vực Đài Loan (Từ năm 47 đến tháng 12 năm 110 của Trung Hoa Dân Quốc, 1958 đến tháng 12 năm 2021)]. Cục Cứu hỏa Quốc gia (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2026.
  15. ^ a b "DESTRUCTIVE TYPHOONS 1970-2003". National Disaster Coordinating Council Office of Civil Defense Operations Center. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2026.
  16. ^ a b c d e f Koo, Elaine; và cộng sự (tháng 8 năm 1987). "ESCAP/WMO Typhoon Committee Annual Review: 1986" [Báo cáo thường niên năm 1986 của Ủy ban Bão ESCAP/WMO]. ESCAP/Ủy hội Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương Liên Hợp Quốc (bằng tiếng Anh). tr. 66, 67. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2026.
  17. ^ a b c d 温克刚 (chủ biên); 吴岩峻 (chủ biên tập Hải Nam) (2008). 中国气象灾害大典: 海南卷 [Bộ sách tổng hợp về thiên tai khí tượng tại Trung Quốc: quyển Hải Nam] (bằng tiếng Trung). 气家出版社 [Nhà xuất bản khí tượng]. tr. 71. ISBN 9787502944742.
  18. ^ a b c 中国气象灾害大典: 广东卷 [Bộ sách tổng hợp về thiên tai khí tượng tại Trung Quốc - quyển Quảng Đông] (bằng tiếng Trung). Trung Quốc: 气象出版社 [Nhà xuất bản khí tượng]. 2006. tr. 182. ISBN 9787502941550.
  19. ^ a b c Nguyễn Hoài (ngày 6 tháng 9 năm 2024). "Những cơn bão từng gây thiệt hại khủng khiếp cho Việt Nam". Báo điện tử Tiền Phong. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2024.
  20. ^ a b Liên đoàn lao động tỉnh Thái Bình (2003). Lịch sử phong trào công nhân, viên chức, Lao động và hoạt động công đoàn tỉnh Thái Bình. Nhà xuất bản Lao động. tr. 216.
  21. ^ a b c "Lịch sử đê điều Việt Nam" (PDF). Cục quản lý đê điều và PCTT. tr. 283.
  22. ^ a b Nhiều tác giả 1987, tr. 77
  23. ^ a b Nhiều tác giả 1987, tr. 79
  24. ^ Nhiều tác giả 1987, tr. 94
  25. ^ a b Lu Yinshan (1994). 台灣的天氣 [Thời tiết tại Đài Loan] (bằng tiếng Trung). Đài Loan: Linking Publishing (聯經出版). tr. 97. ISBN 978-957-08-1245-9.
  26. ^ Nhiều tác giả 1987, tr. 95
  27. ^ 張炎銘先生 (ngày 27 tháng 4 năm 2015). "1986年8月22日~29日-由中部登路的怪颱韋恩(WAYNE)颱風" [Ngày 22 đến 29 tháng 8 năm1986 - Bão WAYNE đổ bộ vào miền Trung đất nước]. 水利署電子報 (bằng tiếng Trung). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2024.
  28. ^ "Typhoon Abby kills 13 in Taiwan; heads toward Japan". Associated Press, qua Google News. ngày 21 tháng 9 năm 1986. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2024.
  29. ^ a b "The Journal of Meteorology - 3/1987" (PDF).
  30. ^ Roth, David M; Hydrometeorological Prediction Center (ngày 16 tháng 11 năm 2012). "Tropical Cyclone Rainfall Point Maxima". Tropical Cyclone Point Maxima. United States National Oceanic and Atmospheric Administration's National Weather Service. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2012.
  31. ^ "List of Tropical Cyclones Making Landfall on China". CMA Tropical Cyclone Data Center. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2026.
  32. ^ 台风年鉴:1986 [Niên giám bão năm 1986]. Trung Quốc: 氣象出版社 [Nhà xuất bản Khí tượng Trung Quốc]. 1986. tr. không đánh số (trước trang 1).
  33. ^ Tổng cục KTTV Việt Nam (ngày 15 tháng 11 năm 2024). "MEMBER REPORT - SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM - ESCAP/WMO Typhoon Committee 19th Integrated Workshop" (PDF). Ủy ban Bão Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP/WMO Typhoon Committee) - Phiên họp lần thứ 19 năm 2024. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2024. Website Hội thảo Lưu trữ ngày 14 tháng 11 năm 2024 tại Wayback Machine
  34. ^ Nguyễn Đức Ngữ 1998, tr. 53
  35. ^ Phạm Vũ Anh 1987, tr. 7-13
  36. ^ Nhiều tác giả 2007, tr. 20
  37. ^ Nguyễn Đức Ngữ & Nguyễn Trọng Hiệu 2013, tr. 104
  38. ^ Nhiều tác giả 2018, tr. 29
  39. ^ "MEMBER REPORT SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM ESCAP/WMO Typhoon Committee 20th Integrated Workshop" (PDF). Cục Khí tượng thủy văn. ngày 25 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2025 – qua Typhoon Committee.
  40. ^ Nguyễn Hữu Lượng 1987, tr. 13
  41. ^ Lê Văn Thảo 1983, tr. 18
  42. ^ Lê Văn Thảo 1996, tr. 28
  43. ^ Nhiều tác giả 2014, tr. 25
  44. ^ a b Nguyễn Cảnh Dinh (1996). "Nhìn lại đợt mưa, lũ, bão vừa qua ở miền Bắc". Tạp chí cộng sản (7-1996). tr. 36. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2026.
  45. ^ "Báo cáo Đánh giá khí hậu quốc gia năm 2021" (PDF).
  46. ^ a b "Mùa mưa lũ năm 1986 và nhận định nguồn nước mùa cạn năm 1986-1987 ở Hoàng Liên Sơn" (PDF).
  47. ^ Nguyễn Duy Trân, Nguyễn Xuân Lương (1989). "Lịch sử tài chính Quân đội nhân dân Việt Nam". NXB Quân đội nhân dân. tr. 221.
  48. ^ a b "Typhoon Wayne killed about 400 people and left hundreds..." [Bão Wayne đã khiến khoảng 400 người chết...]. United Press International (bằng tiếng Anh). Bangkok, Thái Lan. ngày 12 tháng 9 năm 1986. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2026.
  49. ^ a b c d e "Viet Nam Typhoon Wayne Sep 1986 UNDRO Situation Reports 1-5". UNDHA.
  50. ^ "Việt Nam từ khủng hoảng lạm phát đến nền kinh tế 510 tỷ USD".
  51. ^ Foreign Broadcast Information Service 1986, tr. K2, Vol IV No 177, nguồn tin: Thông tấn xã Việt Nam
  52. ^ a b Foreign Broadcast Information Service 1986, tr. K6, Vol IV No 178, nguồn tin: Thông tấn xã Việt Nam
  53. ^ Foreign Broadcast Information Service 1986, tr. K2, Vol IV No 175, nguồn tin: Thông tấn xã Việt Nam
  54. ^ "Lấn biển Cồn Thoi". QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN.
  55. ^ "DAMAGE ESTIMATES REPORTED BY ASIAN AND PACIFIC COUNTRIES AND AREAS: METEOROLOGICAL DISASTERS - TROPICAL CYCLONES, FLOODS, DROUGHT - 1986" (PDF).
  56. ^ "Hundreds killed or hurt by typhoon". The Straits Times. ngày 9 tháng 9 năm 1986. tr. 7.

Tài liệu

Nhiều tác giả (1987), 民國七十五年颱風調查報告 —侵臺颱風(8612號)韋恩 [Báo cáo điều tra các cơn bão năm thứ 75 của Trung Hoa Dân Quốc—phần Bão Wayne (số hiệu 8612)] (PDF) (bằng tiếng Trung), Đài Loan: Cục Thời tiết Trung ương Đài Loan.

Foreign Broadcast Information Service (1986), Daily Report: Asia & Pacific (169-178) [Báo cáo hàng ngày khu vực Châu Á & Thái Bình Dương, các số 169-178] (bằng tiếng Anh), Hoa Kì: The Service

Xem thêm

Liên kết ngoài