Quy Nhơn (phường)
|
Quy Nhơn
|
|||
|---|---|---|---|
| Phường | |||
| Tập tin:Logo Quy Nhơn, Bình Định.svg Biểu trưng | |||
Biển Quy Nhơn | |||
| Hành chính | |||
| Quốc gia | |||
| Vùng | Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên | ||
| Tỉnh | Gia Lai | ||
| Trụ sở UBND | 32 Nguyễn Huệ | ||
| Lịch sử hình thành | |||
| Thành lập | 1/7/2025 | ||
| Địa lý | |||
| Tọa độ: 13°46′14″B 109°13′57″Đ / 13,770536889115°B 109,23251484119°Đ | |||
| |||
| Diện tích | 21,78 km² | ||
| Dân số (31/12/2024) | |||
| Tổng cộng | 129.326 người | ||
| Mật độ | 5.938 người/km2 | ||
| Khác | |||
| Mã hành chính | 21583 | ||
| Website | quynhon | ||
Quy Nhơn là phường trung tâm hành chính của tỉnh Gia Lai, Việt Nam.
Địa lý
Phường Quy Nhơn là một phường ven biển nằm ở trung tâm phía Đông Nam của tỉnh Gia Lai, cách phường Pleiku khoảng 170 km về phía Đông. Đồng thời, đây cũng là nơi đặt trung tâm hành chính và cũng là phường đông dân nhất của tỉnh Gia Lai, thuộc khu vực thành phố Quy Nhơn trước đây, có vị trí địa lý:
- Phía Đông và phía Bắc giáp phường Quy Nhơn Đông
- Phía Tây giáp phường Quy Nhơn Bắc
- Phía Nam giáp Biển Đông
- Phía Tây Nam giáp phường Quy Nhơn Nam.
Theo Công văn số 2896/BNV-CQĐP ngày 27 tháng 5 năm 2025 của Bộ Nội vụ, phường Quy Nhơn sau sắp xếp có diện tích 21,78 km², dân số tính tới ngày 31/12/2024 là 5.256.598 người, mật độ dân số đạt 241.349 người/km² (số liệu thống kê tính đến ngày 31/12/2024 theo quy định tại Điều 6 Nghị quyết số 76/2025/UBTVQH15 ngày 14 tháng 4 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội[1]).
Hành chính
Phường Quy Nhơn được chia thành 22 khu phố, được đánh số từ 1 đến 22.[2]
Lịch sử
Vùng đất Quy Nhơn xưa từng thuộc quyền kiểm soát vương quốc Champa từ thế kỷ XI. Các vết tích văn hóa Chăm còn được tìm thấy rải rác tại nhiều địa điểm như Tháp Đôi, Ghềnh Ráng, Thị Nại, cho thấy nơi đây từng là một trung tâm sinh hoạt văn hóa – tín ngưỡng quan trọng.
Cuối thế kỷ XV, nhà Lê đã thiết lập quyền kiểm soát đối với vùng đất Quy Nhơn. Tháng 7 năm 1471, vua Lê cho lập phủ Hoài Nhơn gồm 3 huyện là: Bồng Sơn, Phù Ly và Tuy Viễn. Từ đó người Việt bắt đầu tiến vào sinh sống trên vùng đất Bình Định ngày nay. Năm 1490 (chưa đầy 20 năm sau), theo Thiên nam dư hạ tập cho biết: dưới thời Hồng Đức, Phủ Hoài Nhơn có 19 tổng và 100 xã.
Dưới triều đại Tây Sơn (thế kỷ XVIII), vùng đất này từng là nơi đóng quân và khởi nghiệp, nhà Tây Sơn, đồng thời là cửa ngõ ra biển quan trọng qua cảng Thị Nại.
Đến năm 1832, dưới triều Nguyễn, tỉnh Bình Định được thành lập và vùng Quy Nhơn chính thức trở thành một đơn vị hành chính thuộc tỉnh, gồm hai làng chính: Chánh Thành và Cẩm Thượng. Sang thời kỳ Pháp thuộc, sự phát triển, cảng biển Thị Nại cùng với việc xây dựng hạ tầng giao thông (đường sắt, quốc lộ) đã khiến Quy Nhơn trở thành một trung tâm thương mại ven biển quan trọng.
Ngày 20/10/1898, vua Thành Thái ra chỉ dụ thành lập thị xã Quy Nhơn, đô thị tỉnh lỵ, tỉnh Bình Định. Đến năm 1930, Quy Nhơn được Toàn quyền Đông Dương ra nghị định nâng cấp lên thành phố cấp 3, phản ánh vị trí trọng yếu về hành chính, kinh tế, và giao thương.
Trong giai đoạn này, các khu vực thuộc phường Hải Cảng, Trần Phú, Đống Đa trước đây đã hình thành dưới dạng làng xã hoặc khu dân cư với chức năng gắn liền hoạt động cảng, buôn bán và chính quyền địa phương.
Các phường trước đây như Đống Đa, Hải Cảng, Thị Nại, Trần Phú đều mang dấu ấn lịch sử sâu đậm, là nơi tập trung hoạt động kinh tế, hành chính, cảng biển, giao thương. Nay được thống nhất lại thành một đơn vị hành chính – phường Quy Nhơn, không chỉ đơn thuần là thay đổi tên gọi, mà còn là bước đi trong lộ trình xây dựng một đô thị hiện đại, phát triển bền vững.
Giai đoạn 1945 – 1954
Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, chính quyền cách mạng thành lập thị xã Nguyễn Huệ, đặt trung tâm tại Quy Nhơn.
Giai đoạn 1954 – 1975
Trong giai đoạn này, khu vực này nằm dưới quyền kiểm soát của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Thị xã Quy Nhơn được tái lập và giữ vai trò là tỉnh lỵ của tỉnh Bình Định.
Phân chia hành chính năm 1970
Ngày 30 tháng 9 năm 1970, Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa ban hành Sắc lệnh thành lập thị xã Quy Nhơn trên cơ sở tách xã Quy Nhơn thuộc quận Tuy Phước, kết hợp với các ấp Xuân Vân (xã Phước Tấn), ấp Xuân Quang, một phần ấp Hưng Thạnh và núi Bà Hỏa (xã Phước Hậu). Thị xã được chia thành 2 quận: Nhơn Bình và Nhơn Định.
- Quận Nhơn Bình: Bao gồm xã Quy Nhơn (các ấp Hải Cảng, Đào Duy Từ, Nguyễn Du, Lê Lợi, Cường Để, Nguyễn Huệ, Hàm Nghi, Xuân Quang, Ghềnh Ráng) và xã Phước Hải (các ấp Hải Đông, Hải Nam, Hải Minh, Hải Giang).
- Quận Nhơn Định: Bao gồm xã Quy Nhơn (các ấp Phan Bội Châu, Nguyễn Công Trứ, Lý Thường Kiệt, Bạch Đằng, Huyền Trân và Tháp Đôi).
Điều chỉnh năm 1971
Ngày 11 tháng 6 năm 1971, theo Nghị định số 494 BNV/HCĐP/26/ĐT/NĐ của Tổng trưởng Bộ Nội vụ Việt Nam Cộng hòa, các đơn vị hành chính của thị xã được sắp xếp lại thành các khu phố:
- Quận Nhơn Bình (10 khu phố): Trung Cảng, Trung Từ, Trung Phú, Trung Đức, Trung Cường, Trung Hiếu, Trung Tín, Trung Châu, Trung Hòa và Trung Hải.
- Quận Nhơn Định (6 khu phố): Trung Chánh, Trung Kiệt, Trung An, Trung Thiện, Trung Hậu và Trung Nghĩa.
Cập nhật năm 1973 – 1974
Đến năm 1973, các khu phố của thị xã Quy Nhơn chính thức đổi thành phường, dưới phường là khóm. Tính đến thời điểm này, toàn thị xã có 2 quận, 16 phường và 46 khóm với tổng dân số là 313.231 người.
Năm 1974, Quy Nhơn được nâng cấp thành thị xã trực thuộc trung ương, đồng thời vẫn kiêm nhiệm vai trò tỉnh lỵ của tỉnh Bình Định.
Giai đoạn từ năm 1975 đến nay:
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định hợp nhất thành tỉnh Nghĩa Bình. Khi này, thị xã Quy Nhơn là tỉnh lị của tỉnh Nghĩa Bình.
Khi này, địa bàn các phường Lê Hồng Phong, Ngô Mây, Trần Phú, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Hải Cảng và Đống Đa thuộc thị xã Quy Nhơn của tỉnh Nghĩa Bình.
Ngày 3 tháng 7 năm 1986, Hội đồng Bộ trưởng về việc Quyết định 81-HĐBT về việc mở rộng và đổi tên thị xã Quy Nhơn thành thành phố Quy Nhơn thuộc tỉnh Nghĩa Bình. Theo đó:
- Thành lập thành phố Quy Nhơn trên cơ sở 21.200 ha diện tích tự nhiên và quy mô dân số là 174.076 người của 8 phường gồm: Đống Đa, Hải Cảng, Lê Hồng Phong, Lê Lợi, Ngô Mây, Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Trần Phú và 7 xã gồm: Nhơn Bình, Nhơn Châu, Nhơn Hải, Nhơn Hội, Nhơn Lý, Nhơn Phú, Nhơn Thạnh.
- Khi này, các phường Lê Hồng Phong, Ngô Mây, Trần Phú, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Hải Cảng và Đống Đa thuộc thành phố Quy Nhơn của tỉnh Nghĩa Bình.
Ngày 30 tháng 6 năm 1989, Quốc hội ban hành Nghị quyết về việc phân vạch địa giới hành chính các tỉnh Nghĩa Bình, Phú Khánh và Bình Trị Thiên. Theo đó:
- Tỉnh Quảng Ngãi gồm thị xã Quảng Ngãi và 10 huyện: Bình Sơn, Trà Bồng, Sơn Tịnh, Sơn Hà, Tư Nghĩa, Minh Long, Nghĩa Hành, Mộ Đức, Đức Phổ, và Ba Tơ.
- Tỉnh Bình Định gồm Thành phố Quy Nhơn và 10 huyện: Hoài Ân, An Lão, Phù Mỹ, Phú Cát, An Nhơn, Tây Sơn, Vĩnh Thạnh, Vân Canh, Tuy Phước và Hoài Nhơn.
- Đồng thời, thành phố Quy Nhơn là tỉnh lị của tỉnh Bình Định.
- Từ đây, các phường Lê Hồng Phong, Ngô Mây, Trần Phú, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Hải Cảng và Đống Đa thuộc thành phố Quy Nhơn của tỉnh Bình Định.
Ngày 4 tháng 7 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 558/QĐ-TTg về việc công nhận thành phố Quy Nhơn là đô thị loại II.
Ngày 4 tháng 9 năm 1998, Chính phủ ban hành Nghị định 80/1998/NĐ-CP về việc thành lập các phường và xã thuộc thành phố Quy Nhơn và huyện Hoài Ân của tỉnh Bình Định. Theo đó:
- Thành lập phường Lý Thường Kiệt trên cơ sở điều chỉnh 22 ha diện tích tự nhiên cùng với quy mô dân số là 334 người của phường Ngô Mây; 21 ha diện tích tự nhiên cùng với quy mô dân số là 6.373 người của phường Lê Hồng Phong và 21,3 ha diện tích tự nhiên cùng với quy mô dân số là 1.181 người của phường Trần Phú.
- Thành lập phường Thị Nại trên cơ sở điều chỉnh 172,6 ha diện tích tự nhiên cùng với quy mô dân số là 5.979 người của phường Đống Đa và 14,3 ha diện tích tự nhiên cùng với quy mô dân số là 4.121 người của phường Trần Hưng Đạo.
- Sau khi điều chỉnh:
- Phường Lý Thường Kiệt có 64,3 ha diện tích tự nhiên và quy mô dân số là 7.888 người.
- Phường Thị Nại có 186,9 ha diện tích tự nhiên và quy mô dân số là 10.100 người.
- Phường Ngô Mây có 145,5 ha diện tích tự nhiên và quy mô dân số là 17.466 người.
- Phường Lê Hồng Phong có 107 ha diện tích tự nhiên và quy mô dân số là 16.299 người.
- Phường Trần Phú có 68,7 ha diện tích tự nhiên và quy mô dân số là 18.780 người
- Phường Đống Đa có 631,4 ha diện tích tự nhiên và quy mô dân số là 14.372 người.
- Phường Trần Hưng Đạo có 48,2 ha diện tích tự nhiên và quy mô dân số là 16.012 người.
Ngày 25 tháng 1 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 159/QĐ-TTg về việc công nhận thành phố Quy Nhơn là đô thị loại I.
Ngày 24 tháng 10 năm 2024, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1257/NQ-UBTVQH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã, tỉnh Bình Định giai đoạn 2023–2025. Theo đó:
- Sáp nhập toàn bộ 0,97 km² diện tích tự nhiên cùng với quy mô dân số là 17.954 người của phường Lê Hồng Phong và 0,69 km² diện tích tự nhiên cùng với quy mô dân số là 9.311 người của phường Lý Thường Kiệt vào phường Trần Phú.
- Sáp nhập toàn bộ 0,47 km² diện tích tự nhiên cùng với quy mô dân số là 10.001 người của phường Trần Hưng Đạo và 0,57 km² diện tích tự nhiên cùng với quy mô dân số là 14.090 người của phường Lê Lợi vào phường Thị Nại.
- Sau khi điều chỉnh:
- Phường Trần Phú có 2,32 km² diện tích tự nhiên cùng với quy mô dân số là 38.806 người.
- Phường Thị Nại có 2,94 km² diện tích tự nhiên cùng với quy mô dân số là 36.458 người.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, Quốc hội khóa XV ban hành Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.[3] Theo đó, sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Gia Lai và tỉnh Bình Định thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Gia Lai.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1664/NQ-UBTVQH15 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Gia Lai năm 2025. Theo đó, sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các phường Đống Đa, Hải Cảng, Thị Nại và Trần Phú (thành phố Quy Nhơn) thành phường mới có tên gọi là phường Quy Nhơn.[4]
Du lịch
Tháp Đôi
Tháp Đôi là khu tháp, Chăm Pa gồm có hai tháp là tháp phía bắc và tháp phía nam cạnh nhau, hiện nay nằm trên đường Trần Hưng Đạo, thuộc phường Đống Đa, cách trung tâm Quy Nhơn 3 km. Tháp Đôi còn có tên gọi khác là tháp Hưng Thạnh, gồm hai tháp đứng song song với nhau, một tháp cao 20 m và tháp kia cao 18 m. Tháp Đôi được xây dựng vào khoảng niên đại từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 13. Quanh tường phía ngoài, các nóc và trên nóc tháp có nhiều bức phù điêu chạm khắc các hình tượng thần, chim, thú theo tín ngưỡng, người Chăm. Tháp đã bị chiến tranh và thời gian tàn phá nặng nề. Từ năm 1991 đến năm 1997, tháp được trùng tu, gần như nguyên vẹn. Ngày nay, Tháp Đôi là điểm tham quan du lịch, du khách khi đến Quy Nhơn.
Chùa Long Khánh
Toạ lạc ở số 141 Trần Cao Vân, được xây dựng vào cuối thế kỷ 18. Chùa Long Khánh là nơi truyền bá tín ngưỡng Phật giáo trong vùng bấy giờ. Chùa do hoà thượng Đức Sơn (người Trung Quốc) sáng lập. Hiện chùa còn lưu giữ hai vật quý: Thái Bình hồng chung (chuông Hồng Thái) được đúc vào năm 1805 triều vua Gia Long. Tấm dấu biểu trưng Long Khánh Tự được in vào năm 1813 triều vua Gia Long.
Nhà thờ chính tòa Quy Nhơn
Nhà thờ chính tòa Quy Nhơn (còn có tên gọi Đức Mẹ Lên Trời và còn có tên khác là nhà thờ Nhọn) tọa lạc tại 122 đường Trần Hưng Đạo. Nhà thờ có khuôn viên khá rộng và được trồng nhiều cây xanh...

Làng chài Hải Minh

Một làng chài nằm trên bán đảo Phương Mai trước đây thuộc khu vực 9 Hải Cảng. Làng chài nhỏ, tĩnh lặng và đẹp diệu kỳ khi ráng chiều buông xuống. Làng nằm trên bán đảo cách bến Hàm Tử gần trung tâm phường Quy Nhơn khoảng 15 phút đi đò.
Làng chài rất gần, nhưng cũng vừa đủ xa để những ai thích làm một chuyến dã ngoại trong ngày chọn nơi đây làm điểm đến. Với các di tích và cảnh đẹp như tượng đài Đức Thánh Trần (di tích cấp tỉnh), phế tích núi Tam Tòa (di tích cấp quốc gia), chùa Hải Long, hải đăng Phước Mai, đầm Thị Nại, hang Dơi, bãi Rạng,...
Tham khảo
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ {{Chú thích web|url=https://quynhon.gialai.gov.vn/upload/105718/20251030/Nghi_Quyet_12_649d4.pdf%7Ctựa đề=NGHỊ QUYẾT Về việc đổi tên các khu phố trên địa bàn phường Quy Nhơn - HỘI ĐỒNG NHÂN DAN PHƯỜNG QUY NHƠN KHÓA I, KỲ HỌP THỨ HAI|ngày=ngày 28 tháng 7 năm 2025
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
- ^ Lỗi Lua trong Mô_đun:Citation/CS1/Configuration tại dòng 2286: attempt to index field '?' (a nil value).
Xem thêm