Bước tới nội dung

Kon Gang

14°02′52″B 108°08′21″Đ / 14,04770509629°B 108,13919645349°Đ / 14.047705096290239; 108.13919645348709
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Kon Gang
Hành chính
Quốc gia Việt Nam
VùngDuyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên
TỉnhGia Lai
Lịch sử hình thành
Thành lập1983[1]
Địa lý
Tọa độ: 14°02′52″B 108°08′21″Đ / 14,04770509629°B 108,13919645349°Đ / 14.047705096290239; 108.13919645348709
Bản mẫu:MaplinkBản đồ xã Kon Gang
Kon Gang trên bản đồ Việt Nam
Kon Gang
Kon Gang
Vị trí xã Kon Gang trên bản đồ Việt Nam
Diện tích145,84 km²
Dân số (31/12/2024)
Tổng cộng22.529 người
Mật độ154 người/km²
Khác
Mã hành chính23701[2]

Bản mẫu:Thông tin đơn vị hành chính Việt Nam/catKon Gang là một thuộc tỉnh Gia Lai, Việt Nam.

Địa lý

Xã Kon Gang là một xã vùng cao nằm ở phía Bắc của tỉnh Gia Lai, cách phường Quy Nhơn khoảng 160 km về phía Tây và cách phường Pleiku khoảng 25 km về phía Đông Bắc, thuộc huyện Đăk Đoa trước đây, có vị trí địa lý:

Theo Công văn số 2896/BNV-CQĐP ngày 27 tháng 5 năm 2025 của Bộ Nội vụ, Kon Gang sau sắp xếp có diện tích 145,84 km², dân số tính tới ngày 31/12/2024 là 22.529 người, mật độ dân số đạt 154 người/km² (số liệu thống kê tính đến ngày 31/12/2024 theo quy định tại Điều 6 Nghị quyết số 76/2025/UBTVQH15 ngày 14 tháng 4 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội[3]).

Hành chính

Xã Kon Gang được chia thành các làng gồm: Đak Mong, Đê Hoch, Đê Klanh, Đê Thung, KDập, Dung Rơ, Klót, Kóp, Krăi, Ktu và các thôn gồm: Đăk Krong 1, Đăk Krong 3, Đăk Krong 4, Đăk Krong 5, Bình Giang, Krun, Tam Điệp, Nam Yang 1, Nam Yang 2, Nam Yang 3, Nam Yang 5.

Lịch sử

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ba tỉnh Kon Tum, PleikuPhú Bổn hợp nhất thành tỉnh Gia Lai – Kon Tum.

Khi này, địa bàn các xã Đăk Đoa, Nam Yang, Hneng và Kdang thuộc huyện Mang Yang của tỉnh Gia Lai – Kon Tum. Khi này, xã Hneng là nơi đặt huyện lỵ thuộc huyện Mang Yang của tỉnh Gia Lai – Kon Tum.

Ngày 29 tháng 10 năm 1983, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định 122-HĐBT về việc phân vạch địa giới một số xã thuộc tỉnh Gia Lai - Kon Tum. Theo đó, thành lập xã Kon Gang trên cơ sở một phần diện tích tự nhiên và quy mô dân số của xã Kdang.

Ngày 6 tháng 12 năm 1990, Ban Tổ chức Chính phủ ban hành Quyết định Số 543-TCCP năm 1990 về việc thành lập một số thị trấn thuộc các huyện Mang Yang, Kông Chro và Ayun Pa thuộc tỉnh Gia Lai - Kon Tum. Theo đó, thành lập thị trấn Mang Yang trên cơ sở 670 ha diện tích tự nhiên và quy mô dân số là 3.600 người của xã Hneng. Đồng thời, thị trấn Mang Yang cũng là huyện lỵ của huyện Mang Yang thuộc tỉnh Gia Lai – Kon Tum.

Ngày 12 tháng 8 năm 1991, Quốc hội ban hành Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do Quốc hội ban hành. Theo đó, chia tỉnh Gia Lai – Kon Tum thành 2 tỉnh với:

  • Tỉnh Gia Lai gồm thị xã Pleiku và 9 huyện: An Khê, Ayun Pa, Chư Păh, Chư Prông, Chư Sê, K'bang, Kông Chro, Krông Pa, Mang Yang
  • Tỉnh Kon Tum gồm thị xã Kon Tum và 4 huyện: Đắk Tô, Đắk Glei, Sa Thầy, Kon Plông
  • Khi này, địa bàn các xã Kon Gang, Đăk Đoa, Nam Yang và Hneng thuộc huyện Mang Yang của tỉnh Gia Lai.

Ngày 21 tháng 8 năm 2000, Chính phủ ban hành nghị định 37/2000/NĐ-CP về việc đổi tên xã, thị trấn, thành lập xã thuộc huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai và chia huyện Mang Yang thành hai huyện Đak Đoa và Mang Yang của tỉnh Gia Lai. Theo đó:

  • Đổi tên xã Đak Đoa thành xã Đak Sơmei.
  • Thành lập huyện Đak Đoa trên cơ sở 98.041,3 ha diện tích tự nhiên và quy mô dân số là 74.394 người của 15 xã và thị trấn thuộc huyện Mang Yang trước đây gồm: thị trấn Đăk Đoa và 14 xã: Hà Đông, Đak Sơmei, Hà Bầu, Nam Yang, Kon Gang, Hải Yang, H'Neng, Tân Bình, Kdang, G'Lar, Trang, A Dơk, Ia Pết, Ia Băng.
  • Khi này, các xã Đăk Sơmei, Kon Gang, Nam Yang và Hneng thuộc huyện Đăk Đoa của tỉnh Gia Lai.

Ngày 16 tháng 2 năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 17/2005/NĐ-CP về việc thành lập xã thuộc các huyện Chư Sê, Kông Chro, Đak Đoa và Ia Grai của tỉnh Gia Lai. Theo đó:

  • Thành lập xã Đăk Krong trên cơ sở 3.300 ha diện tích tự nhiên và quy mô dân số là 3.782 người của xã Đắk Sơmei.
  • Sau khi điều chỉnh, xã Đăk Sơmei còn lại 14.889,40 ha diện tích tự nhiên và quy mô dân số là 3.526 người.

Ngày 29 tháng 12 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị quyết 139/NQ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính thị trấn Đăk Đoa, xã Hneng, xã Kon Gang và xã Glar để mở rộng thị trấn Đăk Đoa của huyện Đăk Đoa thuộc tỉnh Gia Lai. Theo đó:

  • Điều chỉnh 2.556,56 ha diện tích tự nhiên và quy mô dân số là 2.170 người của xã Kon Gang về xã Hneng quản lý.
  • Điều chỉnh 1.217,21 ha diện tích tự nhiên cùng với quy mô dân số là 4.223 người của xã Hneng và 369,05 ha diện tích tự nhiên cùng với quy mô dân số là 1.492 người của xã Glar về thị trấn Đăk Đoa quản lý.
  • Sau khi điều chỉnh:
    1. Thị trấn Đak Đoa có 2.121,29 ha diện tích tự nhiên và quy mô dân số là 14.945 người.
    2. Xã Hneng có 3.404,76 ha diện tích tự nhiên và quy mô dân số là 2.729 người.
    3. Xã Kon Gang còn lại 6.255,85 ha diện tích tự nhiên và quy mô dân số là 3.020 người.
    4. Xã Glar còn lại 4.166,12 ha diện tích tự nhiên và quy mô dân số là 8.466 người.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, Quốc hội khóa XV ban hành Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.[4] Theo đó, sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Gia Lai và tỉnh Bình Định thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Gia Lai.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1664/NQ-UBTVQH15 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Gia Lai năm 2025. Theo đó, sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của các xã Đăk Krong, Hneng, Nam Yang và Kon Gang (huyện Đăk Đoa) thành xã mới có tên gọi là Kon Gang.[5]

Một số thông tin về Nam Yang trước đây

Nam Yang trước năm 1975 gọi là xã Lệ Chí.

Lệ Chí, Lệ Cần là những địa danh được người dân Pleiku biết đến nhiều, gắn với đặc sản mang tên khoai lang Lệ Cần, khoai lang Lệ Chí (lang bí). Đây là những địa danh được hình thành khá sớm ở Gia Lai.

Từ năm 1957 đến năm 1962, thực hiện chính sách dinh điền, chính quyền Ngô Đình Diệm (Việt Nam Cộng hòa) đã di dân từ đồng bằng ven biển miền Trung lên lập nhiều dinh điền ở các tỉnh Tây Nguyên. Trên địa bàn quận Lê Trung nay thuộc huyện Đak Đoa, có 2 địa điểm dinh điền được hình thành trong giai đoạn này, đó là dinh điền Lệ Chí và dinh điền Lệ Cần.

Lệ Chí cũng là một địa điểm dinh điền được thành lập ngày 3 tháng 11 năm 1957 với tên gọi địa điểm dinh điền Plei Piơm 2. Dân số ở thời điểm đó là 2.602 người, do chính quyền Sài Gòn đưa từ Quảng Nam lên. Ngoài ra, còn có một tên khác ít người biết hơn là xã Kỳ Bình do ghép từ Tam Kỳ và Thăng Bình là hai địa phương thuộc Quảng Nam có dân đi di dân vào xã Lệ Chí.

Ngày 20 tháng 2 năm 1959, theo Sắc lệnh số 36A-TTP của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, các địa điểm dinh điền lập năm 1957 được chuyển thành xã. Lệ Chí từ đây là một xã thuộc quận Lệ Trung, tỉnh Pleiku.

Đến năm 1964, xã Lệ Chí có 2.539 nhân khẩu, thuộc quận Lệ Trung, tỉnh Pleiku.

Ngày nay, bộ phận dân cư này thuộc xã Nam Yang.

Sau năm 1975, trên cơ sở xã Lệ Chí cũ, xã Nam Yang được thành lập thuộc huyệnMang Yang và nay là một xã của huyện Đak Đoa. Theo giải thích của những người dân địa phương, tên của xã được đặt là Nam Yang vì phần đông dân số ban đầu của xã là những người Kinh, từ Quảng Nam lên sinh sống ở huyệnMang Yang, điều này chưa được kiểm chứng.

Xã Nam Yang có nhiều lần biến động dân số. Gian đoạn mới thành lập do lạ nước, thiếu kinh nghiêm sản xuất và một số nguyên nhân khác nhiều gia đinh đã quay về lại Quảng Nam, một số đến Pleiku (Biển Hồ, Trà Đa, Cầu số 3,...) để sinh sóng.

Giai đoạn này vườn hoang rất nhiều, có nhiều khu vực chiếm đến 80%.

Sau năm 1975 một số gia đình trở lại. Đất thổ cư thời Dinh Điền dần được sử dụng hết, dân cư phát triển ra vùng đất nông nghiệp giáp ranh. Ngoài ra còn có nhiều hộ gia đình đến lập nghiệp sau năm 1975.

Hình thành từ năm 1957, trải qua 60 năm hình thành và phát triển, đến nay, Lệ Chí vẫn là những vùng đất mang nét văn hóa đặc trưng của người Quảng Nam trên quê hương mới.

Chú thích

  1. ^ = 9092&type = html Quyết định 122/1983/QĐ-HĐBT
  2. ^ "Tổng cục Thống kê". Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2022.
  3. ^ xaydungchinhsach.chinhphu.vn (ngày 14 tháng 5 năm 2025). "NGHỊ QUYẾT SỐ 76/2025/UBTVQH15 SẮP XẾP ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH NĂM 2025". xaydungchinhsach.chinhphu.vn. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2025.
  4. ^ Quốc hội khóa XV (ngày 12 tháng 6 năm 2025). "Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội khóa XV về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh" (PDF). Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2025.
  5. ^ "Nghị quyết số 1664/NQ-UBTVQH15 sắp xếp các ĐVHC cấp xã của tỉnh Gia Lai năm 2025". Báo Điện tử Chính phủ. ngày 16 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2025.

Tham khảo