Bước tới nội dung

Bộ Tư lệnh Pháo binh – Tên lửa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bản mẫu:Thông tin đơn vị quân sự Việt Nam

Bộ Tư lệnh Pháo binh – Tên lửa của Quân đội nhân dân Việt Nam là đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng, thành lập ngày 16 tháng 8 năm 2025 trên cơ sở tổ chức lại Binh chủng Pháo binh.[1][2] Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tặng binh chủng Pháo binh 8 chữ "Chân đồng vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng" ngày 13 tháng 4 năm 1967. Ngày 07 tháng 02 năm 2026 Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra quyết định số 676/QĐ-BQP công nhận lấy ngày 29 tháng 6 năm 1946 là Ngày truyền thống Bộ đội Pháo binh - Tên lửa.

Lịch sử hình thành

Ngày 29 tháng 6 năm 1946 là ngày truyền thống của Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa. Vào ngày này, tại sân Vệ quốc đoàn Trung ương (40 Hàng Bài, Hà Nội), Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia Việt Nam Hoàng Văn Thái đọc Quyết định thành lập Đoàn Pháo binh Thủ đô, gồm 3 trung đội: Pháo đài Láng (4 pháo phòng không 75mm), Pháo đài Xuân Tảo (2 pháo phòng không 75mm), Pháo đài Xuân Canh (1 pháo phòng không 75mm).[3][4]

Trung đội pháo đài Láng, gồm 44 người, chia làm 3 khẩu đội, do Nguyễn Ưng Gia làm trung đội trưởng, Nguyễn Văn Khoát làm chính trị viên.. Pháo đài Láng vốn do Pháp lập ra sau khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ để bắn máy bay Nhật. Ở đây có 4 khẩu pháo cao xạ 75 mm mua của Đức là loại súng tối tân lúc bấy giờ được gắn cố định vào bệ bê tông. Năm 1940, Nhật đã buộc Pháp phải dùng pháo đài Láng để bắn máy bay Mỹ đến ném bom Hà Nội. Bộ đội Việt Nam dùng 2 khẩu cao xạ còn lại với 400–500 viên đạn làm pháo bắn mục tiêu mặt đất.[4]

Ngày Toàn quốc kháng chiến 19 tháng 12 năm 1946, Pháo đài Láng đã nổ súng bắn vào thành Hà Nội, yểm trợ cho bộ đội Việt Nam. Ba ngày sau, pháo đài Láng bắn rơi một máy bay trinh sát của Pháp. Nửa tháng sau thì pháo đài hết đạn, nhưng được điều thêm 1 khẩu sơn pháo 75 mm có bánh xe do ô tô kéo về. Ngày 10 tháng 1 năm 1947, trung đội pháo đài Láng rút khỏi Hà Nội, kết thúc đợt chiến đấu đầu tiên của pháo binh Việt Nam.[3][4]

Trong chiến dịch Thu – Đông 1947 nhằm đập tan cuộc hành quân Léa của thực dân Pháp lên Việt Bắc, lực lượng Pháo binh cùng bộ đội địa phương đã lập nhiều chiến công vang dội trên sông Lô, bắn cháy và đánh chìm hàng loạt tàu chiến địch tại các khu vực Khoan Bộ, Đoan HùngKhe Lau.[5]

Năm 1948, lực lượng pháo binh phát triển tới cấp tiểu đoàn: Tiểu đoàn Pháo binh 410 (Liên khu 10), tiểu đoàn pháo binh chủ lực đầu tiên, được thành lập ngày 1 tháng 1 năm 1948.[6]

Ngày 31 tháng 7 năm 1949, Cục Pháo binh được thành lập với nhiệm vụ nghiên cứu chế tạo, sửa chữa các loại pháo, đạn và mở lớp đào tạo cán bộ chỉ huy pháo binh và thợ pháo, do Trần Đại Nghĩa làm Cục trưởng.[7]

Tháng 9 năm 1950, để phục vụ yêu cầu của Chiến dịch Biên Giới, Bộ Tổng Tư lệnh quyết định thành lập Trung đoàn sơn pháo 95, đơn vị pháo binh cấp trung đoàn đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là cột mốc quan trọng, thể hiện bước phát triển vượt bậc trong quá trình xây dựng lực lượng pháo binh.[3]

Sau chiến dịch, Trung đoàn 95 được đổi phiên hiệu thành Trung đoàn 675, gồm 6 liên đội pháo, mỗi liên đội trang bị 4 khẩu sơn pháo 75mm.[8] Tiếp đó, ngày 27/3/1951, Đại đoàn công pháo 351 được thành lập, bao gồm 3 trung đoàn: Trung đoàn 151 công binh, Trung đoàn 675 sơn pháo 75mm và Trung đoàn 45 pháo xe kéo 105mm.[9] Sự kiện này đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của Bộ đội Pháo binh và cũng là lần đầu tiên Quân đội có một đại đoàn binh chủng hợp thành (công binh và pháo binh).[3]

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, lực lượng pháo binh bao gồm Trung đoàn 45 lựu pháo 105 ly M101, Trung đoàn 675 sơn pháo 75 ly (thuộc Đại đoàn công pháo 351) và các tiểu đoàn pháo trong biên chế của các đại đoàn, trung đoàn chủ lực tham gia chiến dịch.[10]

Ngày 7 tháng 9 năm 1954, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Bộ Chỉ huy Pháo binh.[3] Ngày 28/5/1956, nhằm tăng cường công tác chỉ đạo đối với lực lượng pháo binh, Bộ Quốc phòng – Tổng Tư lệnh ban hành Chỉ thị số 880/G6, quyết định đổi tên Bộ Chỉ huy Pháo binh thành Bộ Tư lệnh Pháo binh.[3] Cơ quan này có nhiệm vụ giúp Tổng Tư lệnh trực tiếp chỉ huy, huấn luyện và xây dựng các đơn vị pháo binh mặt đất (kể cả pháo bờ biển) và pháo cao xạ dã chiến trực thuộc Bộ; đồng thời chỉ đạo các quân khu và sư đoàn bộ binh trong việc huấn luyện, sử dụng pháo binh.[3]

Ngày 16 tháng 9 năm 1954, thành lập 2 đại đoàn pháo 675 và 349.

Ngày 21 tháng 9 năm 1954, thành lập đại đoàn pháo phòng không 367, đến năm 1958 tách khỏi Bộ Tư lệnh Pháo binh để đặt dưới quyền Bộ Tư lệnh Phòng không mới được thành lập.

Ngày 15 tháng 10 năm 1965, thành lập Đoàn pháo binh 69 (còn gọi là Đoàn pháo binh Biên Hòa), thuộc Bộ Tư lệnh Miền (chiến trường B2). Tháng 1 năm 1972, Đoàn pháo binh 69 chuyển thành Sư đoàn pháo binh 75 thuộc Bộ Tư lệnh Miền.

Năm 1966, Liên Xô chi viện cho Quân đội nhân dân Việt Nam mẫu pháo phản lực BM-14, được đặt trên khung gầm xe tải với 24 ống phóng. Phía Việt Nam yêu cầu Liên Xô cải tiến loại pháo hỏa tiễn đó bằng cách tháo rời giàn pháo ra từng nòng để bộ đội Việt Nam mang vác cơ động và chiến đấu được thuận lợi. Loại pháo cải tiến này được đặt tên mới là ĐKZB, và gọn hơn là ĐKB. Pháo hỏa tiễn ĐKB cỡ 122 mm, tầm bắn 11.200 m, đạn nặng gần 60 kg. Trung đoàn pháo hỏa tiễn 724 được thành lập tháng 2 năm 1966 và được đưa vào miền Đông Nam Bộ (chiến trường B2). Trung đoàn 724 trực thuộc Đoàn 69 (tương đương cấp sư đoàn) pháo binh Miền (tên gọi tắt của chiến trường B2). Trung đoàn trưởng Trần Đáo và Chính ủy Đinh Lại hy sinh trên đường vào miền Nam nên Tô Đê làm Trung đoàn trưởng và Lê Bình làm Chính ủy trung đoàn. Trung đoàn đã pháo kích sân bay Biên Hòa ngày 11 tháng 5 năm 1967, phá hủy và phá hỏng 150 máy bay các loại và nhiều phương tiện kỹ thuật, đốt cháy nhiều kho nhiên liệu, tiêu diệt và làm bị thương hơn 800 phi công và nhân viên kỹ thuật đối phương.

Ngày 20 tháng 8 năm 2025 trên cơ sở Binh chủng Pháo binh, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Bộ tư lệnh Pháo binh - Tên lửa, trực thuộc quyền chỉ huy của Bộ Quốc phòng.[1]

Nhiệm vụ

Binh chủng Pháo binh của Quân đội nhân dân Việt Nam là binh chủng chiến đấu, là hỏa lực chủ yếu của lục quân; có thể tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng hoặc độc lập tác chiến.

  1. Chi viện hỏa lực trong tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng. Chi viện hỏa lực cho các lực lượng đánh nhỏ lẻ, phân tán, rộng khắp trong địa bàn tác chiến.
  2. Kiềm chế, chế áp trận địa pháo binh, súng cối, tên lửa, sở chỉ huy của địch.
  3. Chế áp, phá hoại, khống chế các mục tiêu quan trọng sâu trong đội hình địch như sở chỉ huy (vị trí chỉ huy), trung tâm thông tin, sân bay, kho, bến cảng... và hậu phương của địch.
  4. Dùng hỏa lực pháo binh bắn tiêu diệt, gây tổn thất làm địch mất sức chiến đấu. Bắn phá các mục tiêu công sự, công trình phòng ngự của địch... gây mất tác dụng.
  5. Bắn chế áp gây tổn thất cho các mục tiêu của địch, tạm thời mất sức chiến đấu, cơ động hạn chế, chỉ huy rối loạn.
  6. Bắn kiềm chế gây tổn thất và tác động về tinh thần, tâm lý để hạn chế và ngăn chặn hoạt động của địch một cách tạm thời.

Lãnh đạo hiện nay

Tổ chức chính quyền

Cơ quan

Đơn vị

  • Trường Sĩ quan Pháo binh – TX Sơn Tây, TP Hà Nội
  • Lữ đoàn Pháo binh 45 – TX Sơn Tây, TP Hà Nội
  • Trung đoàn Thông tin 6 – Vĩnh Yên, Phú Thọ
  • Lữ đoàn Tên lửa 490 – Chí Linh, Hải Dương
  • Lữ đoàn 204 - Hiệp Hòa, Bắc Ninh
  • Lữ đoàn 675 – Gia Lai
  • Lữ đoàn 96 – Long Thành, Đồng Nai
  • Trung tâm Huấn luyện – Đào tạo - Thạch Thất, Hà Nội
  • Lữ đoàn Tên lửa 380[12] – Chợ Đồn, Thái Nguyên
  • Kho K86 - Thạch Thất, Hà Nội
  • Tiểu đoàn 371 - Thạch Thất, Hà Nội
  • Tiểu đoàn 97 - Bất Bạt, Hà Nội
  • Tiểu đoàn 10 Vận tải, Cục Hậu cần

Chỉ huy và Lãnh đạo qua các thời kỳ

Cục Pháo binh, Bộ Tổng tư lệnh

Bộ Chỉ huy Pháo binh

  • 1954–1956: Lê Thiết Hùng, Thiếu tướng (1948), Tư lệnh Bộ Chỉ huy Pháo binh

Tư lệnh Binh chủng

Chính ủy Binh chủng, Phó tư lệnh chính trị

Tham mưu trưởng

  • Phan Hạo, Thượng tá (1966-1967, 1969-1971)
  • Tô Thuận, Thiếu tướng (1985)
  • Hoàng Văn Khoát, Đại tá

Trang thiết bị

Chú thích

  1. ^ a ă "Bộ Quốc phòng công bố quyết định thành lập". Báo Quân đội nhân dân. ngày 20 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2025.
  2. ^ Cẩm Hà (ngày 20 tháng 8 năm 2025). "Thành lập Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa, trang bị nhiều vũ khí hiện đại". laodong.vn. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2025.
  3. ^ a ă â b c d đ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên special
  4. ^ a ă â Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên gtt
  5. ^ Trung tá Lê Văn Thành. "CHIẾN DỊCH VIỆT BẮC THU ĐÔNG NĂM 1947- CHIẾN DỊCH ĐẦU TIÊN CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP". Báo Nhân dân. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2025.
  6. ^ "75 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành của pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam". Cổng thông tin điện tử Học viện Lục quân. ngày 16 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2026.
  7. ^ "Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa". Báo Nhân dân. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2025.
  8. ^ "Ngời sáng tinh thần anh dũng và sức mạnh pháo binh". Báo Quân đội nhân dân. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2026.
  9. ^ "Quá trình hình thành và phát triển". Cổng thông tin điện tử Bộ Quốc phòng. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2026.
  10. ^ "Pháo binh trong chiến dịch Điện Biên Phủ". Báo Nhân Dân. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2026.
  11. ^ "Binh chủng Pháo binh sáp nhập cơ quan hậu cần và kỹ thuật". Báo Quân đội nhân dân.
  12. ^ "Ấn tượng Kho K380". Báo Quân đội nhân dân. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2023.
  13. ^ "Lãnh đạo Binh chủng Pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam". Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2007.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Bộ Quốc phòng Việt Nam