BTR-50
BTR-50 (BTR là viết tắt của từ Bronetransporter (tiếng Nga: БТР, Бронетранспортер), nghĩa đen là "xe vận tải bọc thép") là một loại xe thiết giáp chở quân (APC) bánh xích lội nước của Liên Xô dựa trên khung gầm xe tăng hạng nhẹ PT-76.[3] BTR-50 được phát triển vào năm 1952 và đi vào biên chế trong Quân đội Liên Xô từ năm 1954. Xe ngừng sản xuất tại Liên Xô vào năm 1970, nhưng việc sản xuất vẫn tiếp tục ở Tiệp Khắc cho đến năm 1972 và có ý kiến cho rằng nó vẫn đang được chế tạo bởi một số công ty nước ngoài. Nó có khả năng vận chuyển tới 20 binh sĩ bộ binh trang bị đầy đủ, và có thể không trang bị vũ khí hoặc lắp một súng máy trung liên SGMB 7,62 mm, hoặc một súng máy hạng nặng KPV 14,5 mm. Xe đã tham chiến đáng kể trong Chiến tranh Sáu ngày, Chiến tranh Yom Kippur, và gần đây nhất là trong Chiến tranh Nga-Ukraina.
| BTR-50 | |
|---|---|
| Tập tin:BTR-50-latrun-1-2.jpg Một chiếc xe thiết giáp chở quân BTR-50PK mẫu sản xuất đời cuối nguyên của Syria hoặc Ai Cập được Israel sửa đổi, tại Bảo tàng Yad La-Shiryon, Israel, 2005. | |
| Loại | Xe thiết giáp chở quân bánh xích lội nước |
| Nơi chế tạo | Liên Xô |
| Lược sử hoạt động | |
| Phục vụ | 1954–nay |
| Sử dụng bởi | Xem mục Các bên vận hành |
| Trận |
|
| Lược sử chế tạo | |
| Năm thiết kế | 1952 |
| Nhà sản xuất | Nhà máy kéo Volgograd |
| Giai đoạn sản xuất | 1954–1970 (cũng được sản xuất tại Tiệp Khắc cho đến năm 1972; có thể vẫn được sản xuất bởi một số công ty nước ngoài) |
| Các biến thể | Xem Biến thể |
| Thông số | |
| Khối lượng | 14,5 tấn |
| Chiều dài | 7.080 mm |
| Chiều rộng | 3.140 mm |
| Chiều cao | 2.030 mm |
| Kíp chiến đấu | 2 + 20 hành khách |
| Phương tiện bọc thép | Thép hàn đồng nhất 13 mm mặt trước 10 mm mặt bên 10 mm mặt trên 7 mm mặt sau |
Vũ khí chính | Không có BTR-50P & BTR-50PK: súng máy trung liên SGMB 7,62 mm (1.250 viên) BTR-50PA: súng máy hạng nặng KPV 14,5 mm |
| Động cơ | Động cơ diesel "V-6" 6 xi-lanh 4 thì làm mát bằng chất lỏng 240 hp (179 kW) tại 1.800 vòng/phút |
| Công suất/trọng lượng | 16,6 hp/tấn |
| Hệ thống treo | Hệ thống treo thanh xoắn |
| Khoảng sáng gầm | 370 mm |
| Sức chứa nhiên liệu | 400 l |
| Tầm hoạt động | 400 km |
| Tốc độ | 44 km/h (đường bộ) 11 km/h (dưới nước) |
BTR-50 có những điểm tương đồng với hai loại APC khác được phát triển độc lập là OT-62 TOPAS và Type 77. Trong khi OT-62 là một bản sao cải tiến của BTR-50 do Tiệp Khắc và Ba Lan hợp tác phát triển, thì Type 77 lại dựa trên xe tăng hạng nhẹ lội nước Type 63 do Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHND Trung Hoa) chế tạo, vốn được phát triển từ mẫu PT-76.
Mô tả
Giống như PT-76, BTR-50 có thân xe hình thuyền phẳng. Khác với PT-76, nó có một cấu trúc thượng tầng mới được thêm vào phía trước xe. Thân xe BTR-50 được làm bằng thép hàn toàn bộ với khoang lái ở phía trước, khoang chở quân ở giữa và khoang động cơ ở phía sau. Nó có khả năng vận chuyển tới 20 binh sĩ bộ binh trang bị đầy đủ, ngồi trên các băng ghế chạy dọc theo toàn bộ chiều rộng của khoang chở quân. Họ lên và xuống xe APC bằng cách trèo qua các thành bên của thân xe.[4]
Lái xe ngồi ở chính giữa phía trước thân xe và có ba khối quan sát cùng kính tiềm vọng nằm ở phía trên tấm giáp dốc phía trước. Trong các hoạt động ban đêm, kính tiềm vọng trung tâm có thể được thay thế bằng thiết bị nhìn đêm TVN-28, giúp lái xe nhìn rõ trong khoảng cách lên tới 60 mét. Lái xe có một cửa sập nhỏ mở hướng lên trên—tuy không thể dùng để rời khỏi xe, nhưng nó có thể được mở ở những khu vực tương đối an toàn để tăng tầm nhìn. Trong chiến đấu, cửa sập được đóng lại và lái xe sử dụng một khối quan sát.[4]
Có một cửa sập thoát hiểm khẩn cấp bên dưới ghế lái. Chỉ huy, ngồi ở phía trước bên trái của xe, có ba khối quan sát và kính tiềm vọng trong một khoang nhô ra. Trên đỉnh khoang này là một vòm quan sát (cupola) mở về phía trước và có thể khóa thẳng đứng. Nó có một khối quan sát hướng về phía trước. Xe có thể hoạt động trong nhiệt độ từ −40 °C đến +40 °C.[4]
Hệ thống treo thanh xoắn bao gồm sáu bánh chịu nặng lớn bọc cao su đặt cách đều nhau với bánh răng chủ động ở phía sau và bánh dẫn hướng ở phía trước. Các bánh chịu nặng được thiết kế rỗng để hỗ trợ khả năng lội nước. Những bánh xe này giúp tăng độ nổi của APC thêm 30%. Xe không có con lăn đỡ xích. Cặp bánh chịu nặng đầu tiên và cuối cùng có bộ giảm chấn thủy lực, xích thép có chốt đơn và mỗi bên có 96 mắt xích khi còn mới. Có một tấm chắn bùn nhỏ, mỏng nằm ngang phía trên mỗi bên xích.
BTR-50 được cung cấp sức mạnh bởi động cơ diesel V-6 6 xi-lanh 4 thì làm mát bằng chất lỏng, công suất 240 mã lực (179 kW) tại 1800 vòng/phút. Xe đạt tốc độ đường bộ 44 km/h với tầm hoạt động 400 km. Phương tiện có thể di chuyển trên các dốc nghiêng bên 30°, leo dốc 60°, vượt qua các chướng ngại vật thẳng đứng cao 1,1 m và hào rộng 2,8 m. Động cơ có hệ thống làm mát và bộ sưởi ấm trước, dùng để khởi động khi nhiệt độ không khí ở mức −20 °C hoặc thấp hơn. Chiếc APC này có hệ thống truyền động kiểu trục thủ công năm cấp tương tự như trên xe tăng hạng trung T-34/85.
Hộp số có bốn số tiến và một số lùi. Xe có bộ ly hợp bên cho phép thực hiện các vòng quay, truyền động cơ khí và phanh dải. Xe có ba bình nhiên liệu, hai bình ở bên phải, phía trước khoang động cơ và một bình ở phía sau. Tổng dung tích nhiên liệu là 400 lít. Xe có bốn vị trí gắn bình nhiên liệu phụ nằm ở phía sau thân xe. Hai vị trí ở góc thân xe dành cho các bình nhiên liệu phụ dạng dẹt, trong khi hai vị trí ở giữa dành cho bình dạng thùng phuy.
BTR-50 có khả năng lội nước nhờ thân xe hình thuyền phẳng, được làm kín khít nhằm đảm bảo sức cản tối thiểu khi xe nổi. Nó có thể bơi sau khi bật hai máy bơm chạy điện. Việc dựng tấm chắn sóng giúp cải thiện độ ổn định và độ giãn nước của xe, đồng thời ngăn nước tràn qua mũi xe. Thay thế kính tiềm vọng của lái xe bằng kính tiềm vọng chuyên dụng khi bơi cho phép lái xe nhìn qua tấm chắn sóng. Có một máy bơm thủ công để sử dụng trong trường hợp khẩn cấp.
Dưới nước, xe được đẩy đi bởi hai động cơ đẩy phản lực nước nằm ở mỗi bên thân xe. Các cửa hút nước nằm dưới thân xe, còn các cửa xả nằm ở phía sau. Có thêm các cửa hút nước hỗ trợ ở cả hai bên thân xe phía trên cặp bánh chịu nặng cuối cùng. Các cửa xả phía sau có nắp đậy có thể đóng hoàn toàn hoặc một phần, giúp chuyển hướng dòng nước sang các cửa xả hướng về phía trước ở hai bên thân xe, từ đó giúp xe có thể quay vòng. Hệ thống này được thiết kế bởi N. Konowalow. Đây cũng chính là hệ thống được sử dụng trên PT-76. Độ mạn khô thấp của xe (từ 15 đến 20 cm) và việc thiếu ống thở đồng nghĩa với việc nó chỉ có thể bơi trong vùng nước lặng.
Giáp của xe được cấu tạo từ các tấm thép cán nguội hàn đồng nhất—rất mỏng so với các tiêu chuẩn hiện đại: 13 mm ở mặt trước, 10 mm ở các mặt bên và mặt trên, và 7 mm ở mặt sau. Mặc dù lớp giáp tối đa của nó có thể bảo vệ chống lại hỏa lực vũ khí bộ binh và các mảnh đạn pháo nhỏ, nhưng nó không thể bảo vệ xe trước đạn súng máy cỡ nòng .50 (12,7 mm) và các mảnh pháo lớn hơn. Dù giáp trước có thể chống được đạn 7,62 mm, nhưng loại đạn này đôi khi vẫn có thể xuyên thủng các mặt bên. Xe được trang bị đèn lái hồng ngoại và đèn tìm kiếm hồng ngoại. Nó tụt hậu so với các xe chiến đấu bọc thép khác của Liên Xô vì không có hệ thống phòng cháy và, ngoại trừ biến thể BTR-50PK, nó không có hệ thống bảo vệ chống vũ khí hạt nhân, sinh học hoặc hóa học (NBC), điều này làm giảm đáng kể hiệu quả tác chiến của xe.[cần dẫn nguồn]
Lịch sử hoạt động
BTR-50 được phát triển vào năm 1952 và đi vào hoạt động trong Quân đội Liên Xô từ năm 1954. Nó ra mắt công chúng lần đầu tiên vào tháng 11 năm 1957. Xe phục vụ trong các trung đoàn súng trường cơ giới của các sư đoàn xe tăng và lữ đoàn cơ giới trong quân đội Liên Xô và Đông Đức. Một lữ đoàn cơ giới điển hình bao gồm ba tiểu đoàn, mỗi tiểu đoàn có 30 xe APC và một xe chỉ huy. Chúng được thay thế tại các đơn vị tiền phương bởi xe chiến đấu bộ binh (IFV) BMP-1. Các biến thể xe chỉ huy được sử dụng rộng rãi bởi nhiều quân đội trong Khối Warszawa.
Các xe BTR-50 đã được Ai Cập và Syria sử dụng trong Chiến tranh Sáu ngày (1967), một số lượng lớn trong đó đã bị Israel thu giữ.[5] Một số phương tiện sau đó đã được Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF) tái sử dụng. Cả hai phía đều sử dụng BTR-50 trong Chiến tranh Tiêu hao (1968–70). Trong Chiến dịch Raviv (ngày 8–9 tháng 9 năm 1969), một cuộc đột kích đổ bộ qua kênh đào Suez, ba xe tăng T-54 và sáu chiếc BTR-50 đã được sử dụng để gây rối loạn sau chiến tuyến của Ai Cập.[6]
BTR-50 một lần nữa được Ai Cập, Syria và Israel triển khai trong Chiến tranh Yom Kippur (1973). Trong cuộc xung đột này, các xe BTR-50 cùng với T-54 và T-55 đã được IDF sử dụng trong các cuộc giao tranh tại và xung quanh thành phố Suez. Israel đã thu giữ thêm các xe BTR-50 từ phía Ai Cập và Syria.[5] Một số chiếc BTR-50 của Israel sau đó đã được chuyển giao cho Quân đội miền Nam Li-băng.
Chiến tranh Nga–Ukraine
Vào tháng 2 năm 2023, có báo cáo cho rằng Nga đã tái kích hoạt một số xe BTR-50 từ kho ni cất và triển khai chúng trong cuộc xung đột tại Ukraine.[7] Vào tháng 10 năm 2023, ví dụ đầu tiên về một chiếc BTR-50 của Nga được triển khai trong chiến đấu trực tiếp tại Ukraine đã xuất hiện, với ít nhất một chiếc BTR-50 được xác nhận bằng hình ảnh là đã bị phá hủy bởi mìn chống tăng của Ukraine ở phía đông bắc Avdiivka thuộc Tỉnh Donetsk trong một cuộc tấn công quy mô lớn của Nga vào thành phố này.[8][9][10]
Tính đến ngày 9 tháng 5 năm 2025, Nga đã được xác nhận bằng hình ảnh là chịu tổn thất 11 chiếc BTR-50 (bao gồm sáu chiếc BTR-50 nguyên bản và năm chiếc BTR-50 lắp tháp pháo BPU-1).[11]
Biến thể
Liên Xô cũ
- BTR-50P (Ob'yekt 750) (1952) – Phiên bản sản xuất đầu tiên với khoang chở quân hở nóc. Xe không có vũ khí hữu cơ tích hợp, nhưng có một bệ gắn cho súng máy trung liên SGMB 7,62 mm. Các mẫu BTR-50P sản xuất đời đầu có các cầu dẫn có thể gập lại ở phía sau thân xe để cho phép lắp và bắn các loại pháo chống tăng 57 mm ZiS-2, 76,2 mm ZiS-3 hoặc pháo cấp sư đoàn 85 mm D-44 ngay trên sàn động cơ. Vũ khí cũng có thể khai hỏa khi xe đang nổi, nhưng chỉ khi các động cơ đẩy phản lực nước đang hoạt động. Hệ thống này có một nhược điểm lớn: loa giảm lửa của pháo thường nằm ngay trên khoang chở quân hở nóc, khiến những người ngồi bên trong phải chịu áp lực tiếng nổ và khói súng đáng kể. Các cầu dẫn này đã bị loại bỏ trên các mẫu sản xuất sau đó.
- BTR-50P – Được hoán cải thành xe tải pháo (artillery portee). Phiên bản này đặt pháo bên trong khoang kíp lái, nhờ đó đưa loa giảm lửa của pháo ra bên ngoài xe. Tuy thường thấy nhất là mang pháo chống tăng 57 mm ZIS-2, nhưng cũng có hai biến thể khác của loại xe này mang vũ khí phòng không (AA).
- ZTPU-2 (zenitnaya samokhodnaya ustanovka) – BTR-50P được hoán cải thành pháo phòng không tự hành (SPAAG), trang bị súng máy hạng nặng nòng đôi ZPU-2 14,5 mm (1.280 viên đạn). Đây là mẫu nguyên mẫu.
- ZTPU-4 (zenitnaya samokhodnaya ustanovka) – BTR-50P được hoán cải thành SPAAG trang bị súng máy hạng nặng bốn nòng ZPU-4 14,5 mm (2.560 viên đạn). Đây là mẫu nguyên mẫu.
- BTR-50P – Được hoán cải thành xe điều hành không tiền phương (Forward Air Control) với cấu trúc thượng tầng thứ hai chồng lên cấu trúc thứ nhất.
- BTR-50P – Được hoán cải thành xe trinh sát NBC với cấu trúc thượng tầng thứ hai chồng lên cấu trúc thứ nhất.
- BTR-50P – Có phần mũi dài hơn.
- BTR-50PA (Ob'yekt 750M) (1954) – BTR-50P trang bị súng máy hạng nặng KPV 14,5 mm trên một bệ gắn ở phía trước khoang chở quân.
- BTR-50PA với súng máy hạng nặng được lắp trên vòm quan sát của chỉ huy.
- BTR-50PK (Ob'yekt 750K) (K viết tắt của krisha – "mái") (1958) – Một chiếc BTR-50P được lắp thêm mái bọc thép, binh lính lên xuống xe qua hai cửa sập hình chữ nhật trên mái mở sang hai bên. Ngoài ra còn có một cửa sập hình chữ nhật khác ở phía trước mái. Xe được trang bị súng máy trung liên SGMB 7,62 mm gắn trên bệ. Biến thể này có hệ thống bảo vệ NBC. Xe có hai quạt thông gió, một ở phía trước khoang chở quân bên phải và một ở phía sau, cũng nằm bên phải. Nhiều khả năng các xe này chủ yếu được nâng cấp từ các xe BTR-50P. Một đợt sản xuất khác của BTR-50PK có một lỗ châu mai ở mỗi bên cấu trúc thượng tầng. Chúng hiếm khi được sử dụng làm APC vì đa số là các biến thể chuyên dụng như xe chỉ huy, trước khi bị thay thế bởi một đợt sản xuất khác có hai lỗ châu mai ở mỗi bên.
- BTR-50PK – Được lắp đèn định vị ở giữa sàn động cơ. Biến thể này được cấp cho các đơn vị thủy quân lục chiến và các đơn vị vượt sông xung kích của Liên Xô.
- BTR-50PK – Được hoán cải thành xe huấn luyện với bốn vòm quan sát trên mái.
- BTR-50PK – Có phần mũi dài hơn. Được sử dụng bởi các đơn vị thủy quân lục chiến.
- UR-67 (ustanovka razminirovaniya) – Xe rà phá bom mìn trang bị hệ thống phóng tên lửa UR-67 có ba bệ phóng bắn các ống UZP-67 hoặc UZR-3 nạp đầy thuốc nổ. Các ống thuốc nổ này được chứa trong ống vải bên trong thân xe. Quy trình rà phá mìn bao gồm việc lái xe đến rìa bãi mìn, căn chỉnh trước khi tên lửa được phóng từ bệ phóng nâng cao ở phía sau xe. Tên lửa kéo theo một dây thuốc nổ dài, được cố định vào xe phóng, băng qua bãi mìn. Dây thuốc nổ sau đó được kíp xe định vị và kích nổ để phá hủy bất kỳ quả mìn nào trong vùng lân cận. Làn đường được dọn sạch thường dài từ 60 m đến 150 m và rộng từ 2 m đến 5 m. Xe có kíp lái ba người. Một số xe dựa trên BTR-50PK, số khác dựa trên PT-76. Ở phương Tây, chúng được gọi là MTK và MTK-1. Hiện chỉ còn một số ít phục vụ, phần lớn đã bị thay thế bởi UR-77.
- BTR-50PN (1958) – Xe chỉ huy đời đầu với ba đài vô tuyến (bao gồm một chiếc R-113) và ba ăng-ten cần. Chỉ có một số lượng nhỏ được chế tạo.
- BTR-50PU (mashina upravleniya) (1959) – Xe chỉ huy không trang bị vũ khí. Xe chở kíp lái 10 người, có mái bọc thép với các cửa sập hình bầu dục và bốn ăng-ten cần. Hầu hết các xe BTR-50PU có hai khoang nhô ra ở phía trước xe (các mã định danh tương ứng của NATO là: BTR-50PU(1) và BTR-50PU(2)). Hai khoang này có hình dạng giống nhau, không giống như trên xe OT-62 TOPAS vốn rất giống về ngoại hình. Xe có mười ghế ngồi, trong đó bốn ghế dành cho chỉ huy và ban tham mưu, bốn ghế dành cho nhân viên vô tuyến và hai ghế dành cho chỉ huy xe và lái xe. Khoang tham mưu có một bàn xếp, một bàn nhỏ thứ hai cho chỉ huy, hai võng và ba thang. Một cửa sập thoát hiểm khẩn cấp được bố trí ở sàn xe và xe có lớp cách nhiệt. Các thiết bị chuyên dụng bao gồm thiết bị định vị KN-2 và KP-2; một máy phát điện AB-1-P/30 1 kW (nằm ở sàn động cơ phía sau); các đài vô tuyến VHF R-105D, R-105U và R-113; một bộ thu phát HF R-112, một bộ thu HF R-311; một ăng-ten cột cao 11 m có thể gập lại cho R-105U; một cột ăng-ten ống lồng nhẹ 10 m cho R-112; một bộ tiếp sóng R-403BM; điện thoại nội bộ R-120 và một bảng chuyển mạch điện thoại trường chiến 10 dây P-193A với sáu điện thoại trường chiến TAI-43 và bốn cuộn dây cáp, mỗi cuộn có 600 m dây đôi. Hệ thống định vị bao gồm một con quay chỉ hướng và bộ vẽ lộ trình (thiết bị trước chỉ hướng đi của xe, thiết bị sau vẽ lộ trình trên hệ tọa độ hình chữ nhật). Một số xe có số lượng hòm đồ khác nhau được bố trí khác nhau trên sàn động cơ phía sau. Một số xe có máy phát điện thứ hai.
- BTR-50PU với phần mũi dài hơn.
- BTR-50PU-2 – Phiên bản cải tiến với thiết bị vô tuyến hiện đại hơn, rất có thể là R-123 và R-130M. Ngoại hình tương tự BTR-50PU nhưng có một máy phát điện di động nằm ngay sau khoang chở quân.
- BTR-50PUM – Biến thể hiện đại hóa, được trang bị cột ăng-ten ống lồng AMU lớn và các đài vô tuyến R-123 (3 chiếc), R-130, R-326, R-405D và T-218. Mẫu này có một hộp chứa ăng-ten hình vuông ở phía trước bên phải thân xe.
- BTR-50PUM-1 (1972) – Mẫu mới nhất với kíp lái tối đa 8 người và được lắp các đài vô tuyến tương tự như trên R-145BM (BTR-60): R-111 (2 chiếc), R-123MT, R-124 và R-130M.
- MTP-1 (mashina tekhnicheskoj pomoshchi) – Xe hỗ trợ kỹ thuật với khoang chở quân được nâng cao và một cần cẩu nhẹ.
- Polyesye – Phiên bản dân sự của MTP-1.
- BTR-50P – Được hoán cải thành xe tải pháo (artillery portee). Phiên bản này đặt pháo bên trong khoang kíp lái, nhờ đó đưa loa giảm lửa của pháo ra bên ngoài xe. Tuy thường thấy nhất là mang pháo chống tăng 57 mm ZIS-2, nhưng cũng có hai biến thể khác của loại xe này mang vũ khí phòng không (AA).
Belarus
- BTR-50PKM – Phiên bản nâng cấp của BTR-50PK với động cơ UTD-20 công suất 300 hp (224 kW), hệ thống lái và phanh mới cùng các thiết bị quang điện tử cho lái xe.[12]
- MTP-300T – Xe hỗ trợ kỹ thuật, trang bị máy thao tác (manipulator), máy hàn vạn năng, thiết bị kéo và nâng, bàn làm việc, phụ tùng thay thế, v.v.[12]
Bulgaria
- R-54 - Một biến thể xe chiến đấu bộ binh (IFV) theo kế hoạch, trang bị pháo 23mm. Kíp lái gồm 3 người và chở được 9 hành khách.
- R-82 – Xe chỉ huy BTR-50PU cải tiến với các loại đài vô tuyến khác nhau và anten khung AZI có thể gập lại.
Tiệp Khắc
- OT-62 TOPAS (OT-62 viết tắt của từ Obrněný Transportér vzor 62 – "Xe thiết giáp chở quân mẫu 62") ("TOPAS" viết tắt của từ Transportér Obrněný PÁSový – "Xe thiết giáp chở quân bánh xích") – Một loạt các biến thể BTR-50 do Ba Lan và Tiệp Khắc hợp tác phát triển. Chúng tương tự như BTR-50PK nhưng có cửa sập ở hai bên thân xe, động cơ PV-6 mạnh hơn với công suất 300 hp (224 kW) và có hai khoang nhô ra ở phía trước cấu trúc thượng tầng thay vì một khoang như mẫu BTR-50PU có ngoại hình tương đương (tuy nhiên hai khoang này có hình dạng khác nhau).
Đông Đức
- SPW 50P (Schützenpanzerwagen) – Định danh của Quân đội Nhân dân Quốc gia (NVA) cho loại BTR-50P do Liên Xô sản xuất.
- SPW 50PK – Định danh của NVA cho loại BTR-50PK do Liên Xô sản xuất. NVA có một số lượng xe SPW được sửa đổi tại địa phương trong biên chế.[13][14]
- SPW 50PK(Akl) (Aufklärung) – Phiên bản dành cho các đơn vị trinh sát.
- SPW 50PK(D)
- SPW 50PK(B) (Bergefahrzeug) – Một chiếc BTR-50PK được chuyển đổi thành xe cứu hộ. Xe nặng 14 tấn và có kíp lái hai người (chỉ huy và lái xe), có chỗ ngồi cho bốn nhân viên hỗ trợ. Trong các hoạt động cứu nạn, xe có thể chứa tới tám người. SPW-50PK(B) được trang bị đài vô tuyến R-123M và R-124, bộ khớp nối phía sau để kéo, móc kéo, hai cáp kéo phụ, hai vòng móc tháo nhanh đặc biệt, các vòng móc tiêu chuẩn và móc khóa, đèn tìm kiếm, hai phao cứu sinh, áo phao, một bộ dụng cụ, bình chữa cháy và bốn tấm chắn bùn.
- SPW 50PK(BBS) (Batteriebeobachtungsstelle) – Xe quan sát cho các đơn vị phòng không.
- SPW 50PK(KM) (Kernmine) – SPW 50PK, trang bị bộ dụng cụ PGS-5 (Pioniergerätesatz) dành cho công binh để định vị và thu hồi mìn.
- SPW 50PK(LA) (Luftabwehr) – Xe chỉ huy cho các đơn vị phòng không.
- SPW 50PK(MRF) (Minenräumfahrzeug), còn được gọi là Minenräumfahrzeug 50PK (SPW) – Xe rà phá mìn, trang bị hai thùng chứa lượng nổ phá mìn WLWD do Ba Lan thiết kế. Các thùng chứa này được đưa lên nóc khoang chở quân thông qua hai cầu dẫn được hàn trên sàn động cơ.
- SPW 50PK(Pi) – Xe chỉ huy cho các đơn vị công binh (Pioniere).
- SPW 50PK(S) – Xe chỉ huy và tham mưu.
- SPW 50PK(UF) (Unterwasserfahrt) – SPW 50PK, trang bị bộ dụng cụ PGS-4 (Pioniergerätesatz) dành cho công binh để chuẩn bị cho việc vượt sông.
- SPW 50PU – Định danh của NVA cho BTR-50PU.
- SPW 50PU(A) – Phiên bản sửa đổi tại địa phương cho các chỉ huy pháo binh cấp sư đoàn.
- SPW 50PK – Định danh của NVA cho loại BTR-50PK do Liên Xô sản xuất. NVA có một số lượng xe SPW được sửa đổi tại địa phương trong biên chế.[13][14]
Ai Cập
- BTR-50PK – Được lắp thêm một cabin kính phía trên cấu trúc thượng tầng tiêu chuẩn.
Phần Lan
- BTR-50YVI (yhtymän viestijärjestelmä) – BTR-50PK được chuyển đổi thành xe chỉ huy và tham mưu. Xe được trang bị hệ thống liên lạc kỹ thuật số YVI-2, cột anten ống lồng, súng máy hạng nặng NSVT 12,7 mm và giáp bổ sung. Được đưa vào trang bị năm 1994.
- BTR-50PUM – BTR-50PU nâng cấp trang bị các thiết bị của R-145BM (biến thể BTR-60) và các ống phóng lựu đạn khói, một súng máy hạng nặng NSVT 12,7 mm và giáp bổ sung.
- BTR-50PUM1 – Phiên bản PUM hiện đại hóa với các bộ đài vô tuyến phương Tây.
Indonesia
- BTR-50PM (Palawa Modification) – Các xe BTR-50 của Thủy quân lục chiến Indonesia được hiện đại hóa với gói nâng cấp BTR-2000 từ Nimda, Israel vào những năm 1990.[15] Xe trang bị đài AN/VRC-64 và PRC-33 thay cho loại 10-RT, hệ thống phanh mới, súng máy FN MAG thay cho PKT và động cơ Detroit Diesel 6V92T thay cho loại V-6V nguyên bản.[16]
- BTR-50P(M) – Các xe BTR-50 của Thủy quân lục chiến Indonesia được đại tu, phục hồi và lắp đặt hệ thống chữa cháy mới bởi công ty PT Lumindo Artha Sejati trong giai đoạn 2019–2021.[17][18]
- PAL-AFV (Armoured Floating Vehicle) – Phiên bản nâng cấp, được phát triển bởi PT PAL Indonesia hợp tác với Pindad. Phương tiện này có phần mũi mới, phần thân sau được nâng cao và chạy bằng động cơ 300 hp. Trọng lượng chiến đấu là 14.700 kg, với khả năng vận chuyển là 3 kíp lái + 14 binh sĩ.[19] Một mô hình của PAL-AFV đã được trưng bày tại Indo Defence 2008.[19]
Iraq
- BTR-50P – Được chuyển đổi thành cao xạ tự hành (SPAAG) và vũ trang bằng một khẩu pháo tự động phòng không 23 mm ZU-23-2 của Liên Xô. Được lắp thêm giáp bảo vệ quanh sàn động cơ để duy trì khả năng lội nước.
- BTR-50PK chuyển đổi thành SPAAG vũ trang bằng pháo tự động 30 mm nòng kép M-53/59 của Tiệp Khắc đặt trên bệ hở.
Israel
- BTR-50PK trang bị một súng máy 7,62 mm FN MAG gắn trên giá quay phía trước vòm quan sát của chỉ huy.
- BTR-50PK trang bị ba súng máy trung liên M1919A4 cỡ nòng .30 của Mỹ gắn trên giá quay (một khẩu ở phía trước cấu trúc thượng tầng và một khẩu ở mỗi bên hông), một khẩu khác được gắn giá quay phía trước vòm quan sát của chỉ huy.
Ba Lan
- OT-62 TOPAS (OT-62 viết tắt của từ Obrněný Transportér vzor 62 – "Xe thiết giáp chở quân mẫu 62") ("TOPAS" viết tắt của từ Transportér Obrněný PÁSový – "Xe thiết giáp chở quân bánh xích") – Một loạt các biến thể BTR-50 do Ba Lan và Tiệp Khắc hợp tác phát triển. Chúng tương tự như BTR-50PK nhưng có cửa sập ở hai bên thân xe, động cơ PV-6 mạnh hơn với công suất 300 hp (224 kW) và có hai khoang nhô ra phía trước cấu trúc thượng tầng thay vì một khoang như mẫu BTR-50PU có ngoại hình tương đương (tuy nhiên hai khoang này có hình dạng khác nhau).
Serbia
- BTR-50S (2005) – Một gói nâng cấp cho BTR-50PK do công ty quốc phòng Yugoimport SPDR của Serbia chào hàng. Gói này bổ sung thêm một tháp pháo (từ xe APC M-80 của Nam Tư). Nó được vũ trang bằng một pháo 30 mm, một súng máy 7,62 mm Zastava M86, hai bệ phóng ATGM có khả năng bắn tên lửa chống tăng điều khiển (ATGM) 9M14 Malyutka và bốn ống phóng lựu đạn khói.
Nam Liban
- BTR-50PK – Được chuyển đổi thành phương tiện tải thương dã chiến với phần trước được cắt bớt và một cửa sập ở phía trước.
Ukraine
- BTR-50PK dựa trên ARV (xe cứu hộ bọc thép).[20]
- BTR-50M – Bản nâng cấp BTR-50PK do Morozov chế tạo. Nó có những cải tiến về hỏa lực và tính cơ động, cả hai đều có thể được thực hiện độc lập.[4]
Các cải tiến về hỏa lực đạt được bằng cách bổ sung một trong hai mô-đun chiến đấu (tháp pháo) mới, cả hai đều được trang bị một pháo tự động 30 mm ZTM1 hoặc 2A72, một súng máy đồng trục 7,62 mm KT hoặc PKT, một tên lửa ATGM 9K113 Konkurs (NATO: AT-5 Spandrel) và một súng phóng lựu tự động 30 mm AGS-17. Cả hai loại pháo chính đều được ổn định trên trục dọc (biến thể thứ hai có ổn định hai trục) và có hệ thống dẫn động ngắm bắn điện-cơ. Cả hai đều có tầm bắn hiệu quả tối đa 4.000 m và có thể nâng hoặc hạ từ −10° đến +60° hoặc −4° đến +60°. Xe mang theo 150 viên đạn (biến thể thứ hai mang 350 viên).[4]
Cả hai súng máy đều có tầm bắn hiệu quả tối đa 1.600 m. Xe mang theo 2.000 viên đạn chia làm bốn đợt 500 viên (biến thể thứ hai mang cùng số lượng đạn nhưng chia làm hai đợt 1.000 viên).[4] Hệ thống ATGM có tầm bắn tối thiểu 100 m và tối đa 4.000 m với bốn quả tên lửa. Súng phóng lựu tự động có tầm bắn tối đa 1.700 m.[4]
Xe sử dụng một số công cụ cho vũ khí của mình. Chúng bao gồm kính ngắm ngày/đêm TKN-5 tích hợp máy đo khoảng cách laser, kính ngắm ban ngày PZU-7 để bắn các mục tiêu trên không và dưới đất, và kính ngắm của hệ thống tên lửa chống tăng điều khiển 9Sh119M1.[4]
Tính cơ động được cải thiện bằng cách thay thế động cơ do Liên Xô chế tạo bằng động cơ diesel UTD-20 6 xi-lanh 4 thì dạng chữ V làm mát bằng chất lỏng được chế tạo tại Ukraine, thay thế hộp số bằng hệ thống hành tinh và lắp đặt hệ thống truyền động thủy tích. Hệ thống treo cũng được cải thiện bằng cách bổ sung ba con lăn đỡ xích. Xe có hệ thống cửa hút và cửa xả khí mới ở phía bên trái phía trước sàn động cơ. Bản nâng cấp này cũng có thể áp dụng cho các xe BTR-50PU. Phương tiện này có khả năng tác chiến lớn hơn, tiêu thụ nhiên liệu thấp hơn và tỷ lệ công suất trên trọng lượng cao hơn. Xe có thể hoạt động ở nhiệt độ từ −40 °C đến +55 °C và tốc độ đường bộ được tăng lên 75 km/h.[4]
Kết quả của tất cả những thay đổi này là chiếc xe hiện cao hơn—3,085 m (biến thể thứ hai là 2,895 m) và nặng hơn—16,6 tấn (biến thể thứ hai nặng 16,8 tấn).[4]
Ngoài ra còn có các cải tiến bổ sung có thể được thực hiện theo yêu cầu của khách hàng. Những cải tiến đó bao gồm lót thêm lớp chống văng sợi kevlar để tăng cường khả năng bảo vệ xe, hệ thống định vị để cải thiện tính cơ động chiến thuật và hệ thống điều hòa không khí để tăng sự thoải mái cho kíp lái cũng như cho phép vận hành dễ dàng hơn trong khí hậu nóng.[4]
Các quốc gia vận hành
Các quốc gia vận hành hiện tại
- Afghanistan – 100 chiếc được đặt hàng năm 1963 từ Liên Xô và bàn giao trong khoảng 1965–1966. 560 chiếc được đặt hàng năm 1979 từ Liên Xô và bàn giao trong khoảng 1979–1988 (các xe này trước đó phục vụ trong quân đội Liên Xô).[21]
- Albania – 200 chiếc BTR-50 và 150 chiếc Type 77.[22] Hiện đang được thay thế bằng xe thiết giáp chở quân M113 do Mỹ sản xuất.
- Algérie – 130 chiếc BTR-50 được đặt hàng năm 1977 từ Liên Xô và bàn giao trong khoảng 1978–1979 (các xe này trước đó thuộc biên chế Liên Xô).[21] Hiện tại có 30 chiếc BTR-50 và OT-62 TOPAS đang hoạt động.[23]
- Angola – 92 chiếc được đặt hàng năm 1975 từ Liên Xô và bàn giao ngay trong năm 1975 (các xe này trước đó thuộc biên chế Liên Xô).[21]
- Cộng hoà Congo
- Cuba – 200 chiếc[24]
- Cộng hòa Dân chủ Congo - Hiện có 3 chiếc đang hoạt động.[25]
- Ai Cập – 500 chiếc được đặt hàng năm 1964 từ Liên Xô và bàn giao trong khoảng 1965–1966 (có khả năng các xe này trước đó thuộc biên chế Liên Xô).[21] 250 chiếc BTR-50PK hiện đang hoạt động.[26] Vào ngày 12 tháng 7 năm 2014, 500 chiếc BTR-50 đã được nâng cấp lên tiêu chuẩn BTR-50PKM với động cơ diesel UTD-201S và trang bị bộ cảm biến ngày đêm mới.[27]
- Guinée – 10 chiếc được đặt hàng năm 1981 từ Liên Xô và bàn giao năm 1982 (đây là các xe đã qua sử dụng).[21]
- Indonesia – 66 chiếc BTR-50P/PM/PU được đặt hàng năm 1963 từ Liên Xô và bàn giao trong giai đoạn 1963–1965. 34 chiếc BTR-50PK được đặt hàng năm 1997 từ Ukraine và bàn giao trong giai đoạn 1997–1999.[21][28] Hiện có khoảng 70 chiếc đang hoạt động.
- Iran – 270 chiếc được đặt hàng năm 1966 từ Liên Xô cùng với 300 chiếc BTR-60P theo hợp đồng trị giá 110 triệu USD và được bàn giao trong khoảng 1967–1968.[21][29] Có 300 chiếc BTR-50 và BTR-60 hoạt động vào các năm 2000, 2002, 2005 và 2008. Ước tính có khoảng 1000 chiếc đang được niêm cất. Iran có biến thể BTR-50 nâng cấp riêng là Makran IFV.[30] Theo GlobalSecurity, hiện có hơn 150 chiếc BTR-50 đang hoạt động và hàng trăm chiếc khác đang được lưu kho.
- Kazakhstan – 300 chiếc BTR-50 và BTR-60 hoạt động vào các năm 2000, 2002 và 2005.[31]
- Liberia – 8 chiếc mua năm 1987 từ Romania.[32]
- Libya – 36 chiếc được đặt hàng năm 1969 từ Liên Xô và bàn giao năm 1970. 60 chiếc đặt hàng năm 1977 từ Liên Xô và bàn giao năm 1978 (các xe này có khả năng đã phục vụ trong quân đội Liên Xô).[21] Có 700 chiếc BTR-50 và BTR-60 hoạt động năm 1986.[33] Hiện có 540 chiếc BTR-50 và BTR-60 đang hoạt động.[34]
- Nicaragua – 1 chiếc BTR-50PU đặt hàng năm 1982 từ Liên Xô và bàn giao năm 1982.[21]
- CHDCND Triều Tiên – 50 chiếc đặt hàng năm 1966 từ Liên Xô và bàn giao năm 1967.[21] Có 1.010 chiếc Korshun, VTT-323, Type 63 (YW-531), BTR-40, BTR-50, BTR-60 và BTR-152 hoạt động năm 1985; 2.200 chiếc cùng loại hoạt động vào các năm 1990 và 1995; và 2.500 chiếc hoạt động vào các năm 2000, 2002 và 2005.[35]
- Nga - 1.000 chiếc BTR-50PU, BTR-50PUM, MTP-1 và UR-67 đang hoạt động tính đến năm 2003.[36] Năm 2022, Nga được cho là đã đưa một số lượng không xác định BTR-50 trở lại hoạt động tại Ukraine.[37]
- Serbia – BTR-50PU
- Somalia – 30 chiếc đặt hàng năm 1971 từ Liên Xô và bàn giao năm 1973 (các xe này trước đó thuộc biên chế Liên Xô).[21]
- Somaliland – 25 chiếc
- Sudan – 50 chiếc đặt hàng năm 1968 từ Liên Xô và bàn giao trong khoảng 1969–1970 (các xe này trước đó thuộc biên chế Liên Xô).[21]
- Syria – 150 chiếc đặt hàng năm 1966 từ Liên Xô và bàn giao trong khoảng 1966–1967. 400 chiếc đặt hàng năm 1973 từ Liên Xô và bàn giao trong khoảng 1973–1975 (có khả năng các xe này đã phục vụ trong quân đội Liên Xô trước đó).[21] Khoảng 1.500 chiếc BTR-40, BTR-50, BTR-60, BTR-152 và OT-64 hoạt động vào các năm 1990, 1995 và 2000; và khoảng 1.600 chiếc vào các năm 2001, 2003 và 2005.[38]
- Việt Nam - 280 chiếc đang được Quân đội Nhân dân Việt Nam sử dụng, một số ở trong trạng thái niêm cất bảo quản.[39]
- Yemen – Được chuyển giao từ Nam Yemen
Các quốc gia vận hành cũ
- Bulgaria – 700 chiếc đặt hàng năm 1959 từ Liên Xô và bàn giao trong giai đoạn 1960–1963.[21] Đã loại biên.
- Croatia – 26 chiếc BTR-50P và BTR-50PK thu được từ Quân đội Nhân dân Nam Tư (JNA). Có 18 chiếc hoạt động năm 1991 và 2003.[40] Sau đó chúng được thay thế bằng Patria AMV.[41]
- Đông Đức – 200 chiếc SPW-50P và SPW-50PK được đặt hàng năm 1958 từ Liên Xô và bàn giao trong giai đoạn 1959–1962 (bao gồm cả xe chỉ huy).[21] Được chuyển giao lại cho quốc gia Đức thống nhất.
- Phần Lan – Tổng cộng khoảng 80 chiếc đã sử dụng. 60 chiếc BTR-50PK bàn giao từ Liên Xô năm 1964–68. 40 chiếc BTR-50PK được hoán cải thành biến thể BTR-50YVI từ năm 1993. Các xe BTR-50PU bàn giao từ Liên Xô năm 1967–76. Thêm nhiều xe được bàn giao từ Đông Đức cũ năm 1991. Hoán cải sang BTR-50PUM từ năm 1985 và nâng cấp lên BTR-50PUM1 từ năm 1993. Tất cả các phiên bản đã được rút khỏi biên chế vào năm 2018 và bị tháo dỡ.
- Đức – Tiếp nhận từ quân đội Đông Đức. Tất cả đã bị tháo dỡ hoặc bán cho các nước khác.
- Hungary – 150 chiếc đặt hàng năm 1959 từ Liên Xô và bàn giao năm 1960. 20 chiếc BTR-50PU-II hoạt động năm 2019.[21] Hiện đã nghỉ hưu.[41]
- Ấn Độ – 200 chiếc đặt hàng năm 1977 từ Liên Xô và bàn giao giai đoạn 1978–1979. Đã loại biên tính đến năm 2026.[21]
- Iraq – 250 chiếc đặt hàng năm 1968 từ Liên Xô và bàn giao giai đoạn 1969–1973.[21] Tất cả đã bị phá hủy hoặc tháo dỡ.
- Israel – Thu được một số lượng xe APC BTR-50 từ Ai Cập và Syria trong Chiến tranh Sáu ngày. Một số chiếc được sửa đổi và phục vụ trong Quân đội Israel. Loại biên năm 2002.[42][43]
- România - BTR-50PU, BTR-50PK đã nghỉ hưu.[41]
- Quân đội miền Nam Li-băng – Nhận 20 xe APC BTR-50PK dưới dạng viện trợ từ Israel trong khoảng 1985–1986 (các xe này trước đó thuộc biên chế Israel).[21]
- Slovenia – BTR-50PU. Đã nghỉ hưu.[44]
- Liên Xô – Chuyển giao lại cho các quốc gia kế thừa.
- Bắc Việt Nam – Nhận 400 chiếc dưới dạng viện trợ từ Liên Xô trong khoảng 1969–1973 (một số xe có khả năng đã phục vụ trong quân đội Liên Xô trước đó).[21] Được chuyển giao lại cho quốc gia Việt Nam thống nhất.
- Nam Yemen – 100 chiếc đặt hàng năm 1972 từ Liên Xô và bàn giao năm 1973 (các xe này trước đó thuộc biên chế Liên Xô).[21]
- Nam Tư – 217 chiếc (131 BTR-50PU và 86 PK) được đặt hàng từ 1964 đến 1967 từ Liên Xô, và bàn giao từ 1965 đến 1976.[21] Chuyển giao lại cho các quốc gia kế thừa.
Tham khảo
- ^ Haryadi 2019, p. 437
- ^ a b Haryadi 2019, p. 450
- ^ "†" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 3 tháng 11 năm 2006.
- ^ a b c d e f g h i j k "Account Suspended". morozov.com.ua. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2014.
- ^ a b "Yad la-Shiryon BTR-50 description plate". Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2009.
- ^ John Pike. "Tiran 4/5 (T-54/T-55)". GlobalSecurity. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2014.
- ^ Malyasov, Dylan (ngày 23 tháng 2 năm 2023). "Russia to deploy vintage tracked carriers to Ukraine". Defence Blog. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2023.
- ^ UAWeapons (ngày 14 tháng 10 năm 2023). "The first confirmed loss of a Russian BTR-50 APC". UAWeapons. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2023.
- ^ "Attack on Europe: Documenting Russian Equipment Losses During the Russian Invasion of Ukraine".
- ^ "Russian troops who failed to retake a Ukrainian town were sent into battle in obsolete Soviet-era armored vehicles: reports". Business Insider (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2026.
- ^ Oryx. "Attack On Europe: Documenting Russian Equipment Losses During The Russian Invasion Of Ukraine". Oryx. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2024.
- ^ a b "Development". Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2014.
- ^ Gau, Lutz-Reiner; Plate, Jürgen; Siegert, Jörg (2001). Deutsche Militärfahrzeuge: Bundeswehr und NVA (bằng tiếng Đức). Motorbuch Verlag. ISBN 3-613-02152-8.
- ^ Siegert, Jörg (2008). Panzer der NVA: 1956-1990 (bằng tiếng Đức). Motorbuch Verlag. ISBN 978-3-613-02954-5.
- ^ "NIMDA – BTR-50 and PT-76". nimda.co.il. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2021.
- ^ Haryadi 2019, p. 452
- ^ "Kinerja Terjaga, Sejumlah Tank Amfibi PT-76M Korps Marinir Mendapatkan Rekondisi". indomiliter.com (bằng tiếng Indonesia). ngày 25 tháng 5 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2022.
- ^ "LUMINDO BERHASIL REKONDISI BEBERAPA ALUTSISTA KORPS MARINIR". lumindoartha.com (bằng tiếng Indonesia). ngày 20 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2022.
- ^ a b "Indonesia Defense". Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2014.
- ^ "Ukrainian army land ground forces military equipment armoured vehicle pictures information". Army Recognition (bằng tiếng Pháp). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2026.
- ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s t u v "Trade Registers". SIPRI. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2014.
- ^ "BTR-50". Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 2 năm 2008.
- ^ "Algerian army land forces modern military equipment vehicle pictures description". Army Recognition (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2026.
- ^ "Cuba Army Equipment". Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2014.
- ^ International Institute for Strategic Studies (2021). The Military Balance. Taylor & Francis. tr. 461. ISBN 9781032012278.
- ^ "Egyptian army land forces military army modern equipment vehicle pictures description". Army Recognition (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2026.
- ^ Binnie, Jeremy (ngày 29 tháng 7 năm 2014). "Egyptian BTR-50 upgrade close to completion". IHS Jane's 360. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2014.
- ^ "BTR-50PK Korps Marinir: Masih 'Orisinil' Với Hiệu Suất Tối Đa". indomiliter.com (bằng tiếng Indonesia). ngày 5 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2021.
- ^ "CÁC XU HƯỚNG GẦN ĐÂY TRONG MUA SẮM VŨ KHÍ CỦA IRAN - Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ". Foreign Relations of the U.S., 1969–1976, Volume E–4, Documents on Iran and Iraq, 1969–1972. tháng 5 năm 1972 – qua Office of the Historian.
- ^ John Pike. "Iranian Ground Forces Equipment". GlobalSecurity. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2014.
- ^ John Pike. "Kazakhstan Land Forces Equipment". Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2014.
- ^ "Trade Registers". Armstrade.sipri.org. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2013.
- ^ John Pike. "Army Equipment". Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2014.
- ^ "Libyan modern army land ground forces military equipment armoured vehicle information description". Army Recognition (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2026.
- ^ "Equipment Holdings – Korean People's Army". globalsecurity.org (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2026.
- ^ "Russian Armed Forces: 1999 - 2003". warfare.be (bằng tiếng Anh). Warfare.ru. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2026.
- ^ "Nga đưa BTR-50 thời Xô viết trở lại hoạt động".
- ^ John Pike. "Syria – Army Equipment". GlobalSecurity. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2014.
- ^ "Vietnamese army developed BTR-152 armored vehicle medevac variant". Army Recognition (bằng tiếng Anh). ngày 30 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2026.
- ^ Ivan Bajlo. "Croatian Armor". vojska.net. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2014.
- ^ a b c International Institute for Strategic Studies (ngày 14 tháng 2 năm 2021). The Military Balance 2022. Routledge. tr. 192–195. ISBN 978-0367466398.
- ^ Gawrych, George W. (1996). The Albatross of Decisive Victory. Leavenworth Papers. Greenwood. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 6 năm 2007. tr. 111
- ^ "Army Equipment – Israel". globalsecurity.org (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2026.
- ^ Ivan Bajlo. "Slovenian Armor". vojska.net. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2014.
Liên kết ngoài
- BTR-50[liên kết hỏng] FAS.org
- (bằng tiếng Pháp) Armyrecognition.com
- (bằng tiếng Nga) "Armored.vif2.ru". Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2012.
- Communication system of a formation at the Finnish Defense Forces website Lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2008 tại Wayback Machine
- OT-62 / TOPAS at Globalsecurity.org
- "Type 77 APC at Sinodefence.com". Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2012.