Bước tới nội dung

BTR-40

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
BTR-40
Xe BTR-40 tại một cuộc triển lãm công cộng ở Ba Lan, 2008
LoạiXe thiết giáp chở quân bánh lốp
Xe trinh sát
Nơi chế tạoLiên Xô
Lược sử hoạt động
Phục vụ1950–thập niên 1980
Sử dụng bởiXem Các bên sử dụng
Lược sử chế tạo
Người thiết kếV. A. Dedkov
Năm thiết kế1947–1950
Nhà sản xuấtGorkovsky Avtomobilny Zavod
Một nhà sản xuất Trung Quốc không xác định
Giá thànhBản mẫu:Currency (giá xuất khẩu sang Libya, 1970-1973)[1]
Giai đoạn sản xuất1950–1960 (biến thể BTR-40ZhD sản xuất đến năm 1969)
Số lượng chế tạoKhoảng 8.500 chiếc [2]
Các biến thểXem Các biến thể
Thông số
Khối lượng5,3 tấn
Chiều dài5 m
Chiều rộng1,9 m
Chiều cao2,2 m (1,83 m nếu không tính vũ khí)
Kíp chiến đấu2 + 8 binh sĩ (BTR-40 và BTR-40V)
2 + 6 binh sĩ (BTR-40B)

Phương tiện bọc thép6-8 mm
Vũ khí
chính
Súng máy trung liên 7,62 mm SGMB (tổng cộng 1.250 viên) (tùy chọn)
Vũ khí
phụ
2 × súng máy trung liên 7,62 mm SGMB (tổng cộng 1.250 viên) (tùy chọn)
Động cơGAZ-40, 6 xi-lanh
80 mã lực (60 kW) tại 3.400 vòng/phút
Công suất/trọng lượng15.1 hp/tấn (11.3 kW/tấn)
Hệ thống treoBánh lốp 4x4, nhíp lá
Khoảng sáng gầm400 mm
Sức chứa nhiên liệu122 l
Tầm hoạt động430 km (đường nhựa)
385 km (vượt địa hình)
Tốc độ80 km/h

BTR-40 (БТР, từ Бронетранспортёр, hay Bronetransporter, nghĩa đen là "xe thiết giáp vận tải".[3]) là một loại xe thiết giáp chở quân bánh lốp hở nóc và là xe trinh sát của Liên Xô.[4] Trong quân đội Liên Xô, nó thường được gọi với biệt danh là Sorokovka. Nó dần được thay thế trong vai trò xe APC bởi chiếc BTR-152 và trong vai trò xe trinh sát bởi chiếc BRDM-1.

Lịch sử phát triển

Việc phát triển BTR-40 bắt đầu vào đầu năm 1947 tại cục thiết kế của Nhà máy Ô tô Gorky dưới sự lãnh đạo của V. A. Dedkov. Ý tưởng thiết kế là tạo ra một thế hệ kế nhiệm cho xe thiết giáp BA-64B, vốn đã ngừng sản xuất vào năm 1946. Nhóm thiết kế còn bao gồm L. W. Kostikin và P.I. Muziukin. Hai mẫu thử nghiệm mang định danh BTR-141 đã được hoàn thành vào năm 1947.

Mẫu thử nghiệm đầu tiên được trang bị hai súng máy hạng nặng KPVT 14,5 mm đồng trục trên một giá gắn xoay, được bảo vệ bởi tấm giáp ở phía trước và hai bên. Mẫu thứ hai không có vũ khí cố định. Cả hai mẫu này đều không được chấp nhận đưa vào biên chế. Đến năm 1950, hai mẫu thử nghiệm mới được chế tạo. Những mẫu này có hình dạng lớp giáp khác biệt, bao gồm cả phần giáp đuôi dựng đứng. Một lần nữa, một mẫu không có vũ khí cố định và mẫu thứ hai được trang bị hai súng máy KPVT 14,5 mm đồng trục. Những mẫu này lần lượt được chấp nhận đưa vào sử dụng với tên gọi BTR-40 và BTR-40A.

Những nhược điểm của phương tiện này, chẳng hạn như khả năng vượt địa hình kém và gặp khó khăn khi băng qua các vật cản nước, đã buộc nhóm thiết kế phải sản xuất một biến thể lội nước cho BTR-40 vào cuối năm 1954. Biến thể này nhận định danh BTR-40P (với chữ 'P' viết tắt của plavayushchiy – "lội nước"). Trong quá trình thiết kế, phương tiện này đã tách dần khỏi khái niệm xe APC và trở thành một loại xe thiết giáp trinh sát lội nước. Nó nhận được định danh mới là BRDM.

Mô tả

Tổng quan

Thiết kế của BTR-40 dựa trên xe tải dẫn động bốn bánh GAZ-63 (bắt đầu sản xuất từ năm 1946), sử dụng khung gầm và hầu hết các thành phần cơ khí nội bộ của loại xe này, trong khi động cơ sáu xi-lanh được phát triển dựa trên thiết kế của bộ phận động cơ GAZ-12 ZIM. Một đặc điểm nổi bật là xe sở hữu cấu trúc thân xe chịu lực, đây là một tính năng mới trên các phương tiện của Liên Xô thời bấy giờ. Thân xe có hai cửa hông dành cho chỉ huy và lái xe, cùng một cửa phía sau. Xe có thể vận chuyển tới tám binh sĩ được trang bị đầy đủ hoặc 1 tấn hàng hóa.

Khả năng bảo vệ

Vỏ giáp của BTR-40 có độ dày từ 6 mm đến 8 mm, giúp bảo vệ kíp xe khỏi hỏa lực bộ binh hạng nhẹ và các mảnh văng đạn pháo thời bấy giờ. Tuy nhiên, nó không thể chống lại các mảnh pháo hiện đại và hỏa lực súng máy hạng nặng cỡ nòng .50 (12,7 mm). Lốp xe của dòng BTR-40 không được bọc thép, nên chúng đặc biệt dễ bị hư hỏng bởi mọi loại hỏa lực. Xe không có nóc cứng và thường được che bằng bạt để bảo vệ kíp lái, hàng hóa hoặc binh sĩ khỏi mưa tuyết. Tuy nhiên, việc che bạt khiến xe không thể lắp đặt bất kỳ khẩu súng máy SGMB nào.

Vũ khí

Biến thể xe thiết giáp chở quân (APC) không có vũ khí cố định, nhưng có các giá súng trục xoay (pintle mounts) cho ba súng máy trung liên 7,62 mm SGMB: một cái ở phía trước khoang chở quân và hai cái ở hai bên hông. Xe cũng có hai lỗ châu mai ở cả hai bên thân xe, cho phép tối đa bốn binh sĩ sử dụng vũ khí cá nhân khi đang được bảo vệ bởi lớp giáp của xe.

Khả năng cơ động

Giống như xe tải GAZ-63, BTR-40 sử dụng hệ dẫn động bốn bánh (4x4). Tuy nhiên, khung gầm của nó ngắn hơn so với GAZ-63. Điểm khác biệt duy nhất giữa khung gầm BTR-40 và GAZ-63 là việc bổ sung các bộ giảm chấn. BTR-40 cũng sở hữu động cơ mạnh mẽ hơn. Bán kính vòng quay của xe là 7,5 m.

Trang bị

Xe được trang bị đài vô tuyến thu phát 10RT-12 với tầm liên lạc khoảng 20–25 km, và một tời kéo ở phía trước với tải trọng tối đa 4,5 tấn và 70 m dây cáp. Xe không có hệ thống phòng chống vũ khí hạt nhân, sinh học và hóa học (NBC), cũng như không có thiết bị quan sát ban đêm.

Các quốc gia vận hành

Các bên vận hành
  Hiện nay
  Trước đây
Xe BTR-40 được hiện đại hóa của lực lượng an ninh Indonesia.

Hiện đang vận hành

Trước đây

Tham khảo

  1. ^ Efrat, Moshe (1983). "The Economics of Soviet Arms Transfers to the Third World. A Case Study: Egypt". Soviet Studies. 35 (4): 437–456. doi:10.1080/09668138308411496. ISSN 0038-5859. JSTOR 151253.
  2. ^ Jane's Armour and Artillery 2005–2006.
  3. ^ "Soderzhaniye" (PDF). Military Parade (bằng tiếng Nga và Anh). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 3 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2011.
  4. ^ a ă â b Christopher F. Foss (ngày 16 tháng 5 năm 2000). Jane's Tanks and Combat Vehicles Recognition Guide (ấn bản thứ 2000). Harper Collins Publishers. tr. 290. ISBN 978-0-00-472452-2.
  5. ^ The Military Balance 2021, tr. 453.
  6. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p "Trade Registers". Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2014.
  7. ^ "BTR-40 : Panser Yang Nyaris Jadi Besi Tua". IndoMiliter. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2014.
  8. ^ a ă United States Army War College (tháng 8 năm 1993). The Challenge of Chinese Arms Proliferation: U.S. Policy for the 1990s (PDF). Strategic Studies Institute (Báo cáo). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2022.
  9. ^ "Yemen" (PDF). Tel-Aviv: Institute For National Security Studies. ngày 6 tháng 10 năm 2013. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2017.
  10. ^ a ă â b c d Foss 1989, tr. 420
  11. ^ "Handbook of Major Foreign Weapons Systems Exported to the Third World: 1981-86" (PDF). Langley: CIA. tháng 11 năm 1987. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2017.
  12. ^ John Pike. "People's Liberation Army". Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2014.
  13. ^ "Harju malev". harju.kaitseliit.ee. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2024.
  14. ^ Cordesman, Anthony (tháng 10 năm 2016). After The Storm: The Changing Military Balance in the Middle East. London: Bloomsbury Publishing. tr. 241. ISBN 978-1-4742-9256-6.
  15. ^ Keegan, John (1983). World Armies . Basingstoke: Palgrave-Macmillan. tr. 408. ISBN 978-0333340790.
  • Foss, Christopher F., biên tập (1989). Jane's Armour and Artillery 1989–90 . Coulsdon, UK: Jane's Defence Date. ISBN 0-7106-0885-3.
  • International Institute for Strategic Studies (tháng 2 năm 2021). The Military Balance 2021. Quyển 121. Routledge. ISBN 9781032012278.

Liên kết ngoài

Lỗi kịch bản: Không tìm thấy mô đun “Military navigation”.