2S1 Gvozdika
| 2S1 Gvozdika (SAU-122) | |
|---|---|
Pháo tự hành 2S1 Gvozdika trưng bày tại đồi Poklonnaya, Moscow. | |
| Loại | Pháo tự hành |
| Nơi chế tạo | Liên Xô |
| Lược sử hoạt động | |
| Phục vụ | 1972–nay |
| Sử dụng bởi | xem phần Các quốc gia sử dụng |
| Trận |
|
| Lược sử chế tạo | |
| Người thiết kế | Nhà máy máy kéo Kharkiv (KhTZ) |
| Năm thiết kế | 1956–1961 |
| Giai đoạn sản xuất | 1971–1991 |
| Số lượng chế tạo | 10.000+ |
| Các biến thể | xem phần Các biến thể |
| Thông số | |
| Khối lượng | 16 t (16 tấn Anh; 18 tấn Mỹ) |
| Chiều dài | 7,26 m (23 ft 10 in) |
| Độ dài nòng | 4,27 m (14 ft 0 in)[1] |
| Chiều rộng | 2,85 m (9 ft 4 in) |
| Chiều cao | 2,73 m (8 ft 11 in) |
| Kíp chiến đấu | 4 |
| Đạn pháo | 122 x 447mm .R nạp rời, liều phóng dạng vỏ kim loại |
| Cỡ đạn | 122 mm (4,8 in) |
| Khóa nòng | Khóa nòng trượt thẳng đứng[2], bán tự động |
| Góc nâng | -3 đến +70 độ |
| Xoay ngang | 360 độ |
| Tốc độ bắn | Tối đa: 5 phát/phút Duy trì: 1–2 phát/phút |
| Sơ tốc đầu nòng | 680 m/s (2.200 ft/s) |
| Tầm bắn xa nhất | Thông thường: 15,3 km (9,5 mi) Tăng tầm: 21,9 km (13,6 mi) |
| Phương tiện bọc thép | 7–20 mm (0,28–0,79 in) |
Vũ khí chính | Lựu pháo 2A18 122 mm (4,8 in) |
| Động cơ | YaMZ-238N diesel 220 kW (300 hp) |
| Hệ thống treo | Thanh xoắn |
| Tầm hoạt động | 500 km (310 mi) |
| Tốc độ | Đường nhựa: 60 km/h (37 mph) Dã chiến: 30 km/h (19 mph) Dưới nước: 4,5 km/h (2,8 mph) |
2S1 Gvozdika (tiếng Nga: 2С1 «Гвоздика», nghĩa là "Hoa cẩm chướng") là một mẫu lựu pháo tự hành của Liên Xô, được ra mắt vào năm 1972 và hiện vẫn đang phục vụ trong quân đội Nga cũng như nhiều quốc gia khác tính đến năm tính đến năm 2026[cập nhật]. Xe được phát triển dựa trên khung gầm đa năng MT-LBu, lắp đặt một khẩu lựu pháo 122 mm 2A18. "2S1" là định danh theo GRAU. Một định danh khác của Nga là SAU-122, nhưng trong Quân đội Nga, nó thường được gọi phổ biến với cái tên Gvozdika. 2S1 có khả năng lội nước hoàn toàn mà không cần chuẩn bị nhiều; khi nổi trên mặt nước, xe được đẩy đi nhờ chuyển động của hệ thống xích. Xe có nhiều tùy chọn độ rộng bản xích khác nhau để cho phép 2S1 hoạt động trong điều kiện tuyết hoặc đầm lầy. Ngoài ra, xe còn được trang bị hệ thống phòng chống NBC và có khả năng nhìn đêm bằng hồng ngoại.
2S1 được phát triển tại Kharkiv, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraina. Xe có bảy bánh tì mỗi bên; hệ thống vận hành có thể lắp các bản xích với độ rộng khác nhau để phù hợp với từng loại địa hình. Nội thất xe được chia thành khoang lái ở bên trái, khoang động cơ ở bên phải và khoang chiến đấu ở phía sau. Trong khoang chiến đấu, trưởng xe ngồi bên trái, pháo thủ nạp đạn ngồi bên phải và xạ thủ ngồi ở phía trước. Tháp pháo được làm bằng thép hàn hoàn toàn, đặt phía trên khoang chiến đấu. 2S1 sử dụng lựu pháo 122 mm dựa trên mẫu lựu pháo kéo D-30. Khẩu pháo này được trang bị hệ thống nạp đạn bằng điện, loa giảm chấn hai vách ngăn và thiết bị hút khói. Xe có khả năng bắn các loại đạn nổ mạnh (HE), đạn rải truyền đơn, HE/RAP, đạn nổ mạnh xuyên giáp (APHE), đạn flechette và đạn hóa học.[3]
Lịch sử sản xuất
Nguyên mẫu đầu tiên được hoàn thành vào năm 1958. 2S1 chính thức biên chế trong Quân đội Liên Xô vào đầu những năm 1970 và xuất hiện công khai lần đầu tại một buổi duyệt binh của Quân đội Ba Lan vào năm 1974. Loại xe này đã được triển khai với số lượng lớn (72 khẩu cho mỗi sư đoàn tăng, 36 khẩu cho mỗi sư đoàn bộ binh cơ giới). Quân đội Hoa Kỳ định danh mẫu này là M1974. Xe được sản xuất tại các nhà máy quốc doanh của Liên Xô, Ba Lan và Bulgaria.
Các biến thể
Iran
- Raad-1 ('Sấm sét') – Biến thể của Iran dựa trên khung gầm của xe bọc thép chở quân Boragh.
Myanmar
- 2S1U – Vào tháng 3 năm 2019, công ty Great Export Import của Ukraine và quân đội Myanmar đã ký thỏa thuận liên doanh để xây dựng một nhà máy có khả năng sản xuất xe bọc thép chở quân (APC) và pháo tự hành. Các loại APC được sản xuất tại nhà máy được cho là dòng BTR-4U tám bánh, trong khi pháo tự hành sẽ là 2S1U, dựa trên khung gầm đa năng MT-LBu.[4][5]
Ba Lan
2S1 Gvozdika cùng các phương tiện liên quan như MT-LB và Opal được sản xuất tại Ba Lan bởi tập đoàn Huta Stalowa Wola dưới tên gọi 2S1 Goździk.
- 2S1M Goździk – Phiên bản trang bị bộ thiết bị lội nước đặc biệt giúp tăng cường khả năng bơi.
- 2S1T Goździk – Phiên bản trang bị hệ thống điều khiển hỏa lực kỹ thuật số TOPAZ của WB Electronics. Hệ thống bao gồm hệ thống liên lạc nội bộ kỹ thuật số FONET-IP, đài vô tuyến kỹ thuật số mới, máy thu GPS quân sự và máy tính chuyên dụng.
Romania
- OAPR model 89 (Obuzierul autopropulsat românesc, model 89) – Biến thể của Romania kết hợp tháp pháo của 2S1 Gvozdika và khung gầm cải tiến của xe thiết giáp MLI-84. Xe được thiết kế vào khoảng năm 1978 và sản xuất từ năm 1987 đến 1992, thường được gọi đơn giản là Model 89.[6][7]
Nga
- 2S34 Khosta – Phiên bản hiện đại hóa của 2S1 với pháo 2A31 122 mm được thay thế bằng súng cối-pháo 2A80-1 120 mm. Các cải tiến khác bao gồm hệ thống điều khiển hỏa lực Malakhit mới, hệ thống quan sát chiến trường và khả năng bắn đạn dẫn đường Kitolov-2M.
Serbia
- 2S1 hiện đại hóa - Quá trình hiện đại hóa được thực hiện dựa trên chương trình lựu pháo kéo 122 mm của Serbia. Tầm bắn được tăng khoảng 40%, từ 15,200 đến 22,000 m (0,009445 đến 0,013670 mi). Máy tính đạn đạo và hệ thống điều khiển hỏa lực mới giúp chuẩn bị tác xạ nhanh hơn nhiều. Xe cũng trang bị hệ thống định vị quán tính, GPRS và khả năng bắn nhiều đạn đồng thời vào một mục tiêu (MRSI - 6 viên mỗi phút). Để tăng cường khả năng phòng thủ, một tháp súng máy 12,7 mm đã được bổ sung.
Liên Xô
- 2S15 Norov – Nguyên mẫu xe diệt tăng trang bị hệ thống điều khiển hỏa lực dựa trên radar và pháo 100 mm.[8]
- UR-77 Meteorit – Xe rà phá bom mìn trang bị bệ phóng dây nổ phá mìn.
Ukraine
- Kevlar-E – Xe chiến đấu bộ binh dựa trên nền tảng 2S1, trang bị trạm vũ khí điều khiển từ xa Shturm và có chỗ cho 6 binh sĩ ngoài kíp lái 3 người. Động cơ diesel V8 gốc đã được thay thế bằng động cơ diesel của Caterpillar, Cummins hoặc Deutz, tăng tốc độ tối đa lên 70 km/h (43 mph).
- Vào ngày 21 tháng 1 năm 2025, Bộ Quốc phòng Đan Mạch đã bổ sung pháo tự hành 2S1 Gvozdika 122mm vào danh sách viện trợ quân sự cho Ukraine.[9]
Việt Nam
- PTH-01 – Phiên bản năm 2025 của dòng 2S1 do Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng Việt Nam thực hiện hiện đại hóa.
Các quốc gia sử dụng




Quốc gia vận hành hiện tại
Algérie – 140 chiếc tính đến năm 2024[10]
Angola − 9+ chiếc tính đến năm 2024[11]
Armenia – 9 chiếc tính đến năm 2024[12]
Azerbaijan − 68 chiếc tính đến năm 2024[13]
Belarus – 125 chiếc tính đến năm 2024[14]
Bulgaria – 48 chiếc tính đến năm 2024[15]
Tchad – 10 chiếc tính đến năm 2024[16]
Congo-Brazzaville − 3 chiếc tính đến năm 2024[17]
- Bản mẫu:Country data Congo-Kinshasa − 6 chiếc tính đến năm 2024[18]
Cuba[19]
Croatia – 8 chiếc tính đến năm 2024[20]Eritrea – 32 chiếc tính đến năm 2024[21]
Ethiopia[22]
Phần Lan – 74 chiếc tính đến năm 2024[23]
Gruzia − 20 chiếc tính đến năm 2024[24]
- Bản mẫu:Country data Hezbollah − Sử dụng tại Syria[25]
Iran − 60+ chiếc 2S1 và Raad-1 tính đến năm 2024[26]
Kazakhstan – 60 chiếc tính đến năm 2024[27]
Kurdistan − Một số lượng không xác định được vận hành bởi lực lượng Peshmerga[28]
Kyrgyzstan − 18 chiếc tính đến năm 2024[29]
Libya − Được sử dụng bởi Quân đội Quốc gia Libya[30]
Ba Lan – 206 chiếc tính đến năm 2024[31]
România − 6 chiếc 2S1 và 34 chiếc Model 89 tính đến năm 2024[32]
Nga – 130 chiếc trong Lục quân, 85 chiếc trong Thủy quân lục chiến, cùng một số lượng không xác định do Quân đoàn 1, Quân đoàn 2 và biên phòng vận hành. Ước tính có khoảng 1.800 chiếc trong kho lưu trữ tính đến năm 2024[33]
Serbia – 67 chiếc tính đến năm 2024[34]
Sudan[35]
Nam Sudan[36]
Syria[37]
Tajikistan − 3 chiếc tính đến năm 2024[38]
Turkmenistan – 40 chiếc tính đến năm 2024 [39]- Bản mẫu:Country data Ukraine – 125+ chiếc trong biên chế Lục quân Ukraine, Thủy quân lục chiến Ukraine và Lực lượng đổ bộ đường không Ukraine tính đến năm 2024[40]
Uruguay – 6 chiếc tính đến năm 2024[41]
Uzbekistan − 18 chiếc tính đến năm 2024[42]
Việt Nam[43]
Yemen[44]
Zimbabwe − 12 chiếc tính đến năm 2024[45]
Quốc gia từng vận hành
Czech Republic – 91 chiếc vào năm 1999[46]
Tiệp Khắc – 230 chiếc vào năm 1989.[47] Chuyển giao cho các quốc gia kế thừa.
Đông Đức – 300 chiếc vào năm 1989.[48] Loại biên năm 1990 sau khi tái thống nhất nước Đức.
Hungary[49]
Iraq – Một số lượng không xác định còn khả năng hoạt động trước Cuộc tấn công Iraq 2003[50]
- Bản mẫu:Country data Islamic State[51]
Libya − 130 chiếc vào năm 2004[52]
- Bản mẫu:Country data Republika Srpska − 24 chiếc vào năm 2004[53]
Slovakia[54]
Slovenia – 8 chiếc vào năm 1999[55]
Liên Xô – 3.200 chiếc trong Lục quân và 90 chiếc trong Thủy quân lục chiến vào năm 1989.[56] Chuyển giao cho các quốc gia kế thừa.
Nam Tư – Chuyển giao cho các quốc gia kế thừa[57]
Các cuộc xung đột
- Chiến tranh Chechnya lần thứ nhất
- Chiến tranh Nam Ossetia 2008
- Chiến tranh vùng Vịnh (lần 1-2)
- Chiến tranh Kosovo
- Chiến tranh Chechnya lần thứ hai
- Nội chiến Libya (2011)
Chú thích
- ^ "2S1 Gvozdika". Mortar Investments (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2022.
- ^ "2S1 Gvozdika". thesovietarmourblog.blogspot.com. Tankograd. 2019. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2025.
- ^ Marat Kenzhetaev (1998). "Self Propelled Artillery and Mortars". armscontrol.ru. MIPT Center for Arms Control, Energy and Environmental Studies. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2010.
- ^ "myanmar-ukrainian firming aims plant deal". ngày 9 tháng 3 năm 2019.
- ^ "Joint venture to supply Ukrainian APCs to Myanmar army". www.armyrecognition.com. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2026.
- ^ http://www.worldwar2.ro/documents/004-artileria-romana-in-date-si-imagini.pdf p. 164
- ^ "Obuzierul Autopropulsat Românesc, Model 1989". ngày 23 tháng 6 năm 2018.
- ^ "САУ 2С15 "Норов". СССР". Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2014.
- ^ "Exclusive: Denmark strengthens Ukraine's artillery with a discreet delivery of 2S1 Gvozdika self-propelled howitzers".
- ^ IISS 2024, tr. 343.
- ^ IISS 2024, tr. 471.
- ^ IISS 2024, tr. 178.
- ^ IISS 2024, tr. 180.
- ^ IISS 2024, tr. 183.
- ^ IISS 2024, tr. 77.
- ^ IISS 2024, tr. 481.
- ^ IISS 2024, tr. 482.
- ^ IISS 2024, tr. 486.
- ^ IISS 2024, tr. 428.
- ^ IISS 2024, tr. 79.
- ^ IISS 2024, tr. 490.
- ^ IISS 2024, tr. 491.
- ^ IISS 2024, tr. 89.
- ^ IISS 2024, tr. 185.
- ^ IISS 2024, tr. 369.
- ^ IISS 2024, tr. 353.
- ^ IISS 2024, tr. 186.
- ^ International Institute for Strategic Studies (tháng 2 năm 2016). The Military Balance 2016. Quyển 116. Routledge. tr. 491. ISBN 9781857438352.
- ^ IISS 2024, tr. 188.
- ^ IISS 2024, tr. 371.
- ^ IISS 2024, tr. 125.
- ^ IISS 2024, tr. 131.
- ^ IISS 2024, tr. 193,198,201,205.
- ^ IISS 2024, tr. 133.
- ^ IISS 2024, tr. 521.
- ^ IISS 2024, tr. 520.
- ^ IISS 2024, tr. 386.
- ^ IISS 2024, tr. 207.
- ^ IISS 2024, tr. 209.
- ^ IISS 2024, tr. 212−214.
- ^ IISS 2024, tr. 452.
- ^ IISS 2024, tr. 215.
- ^ IISS 2024, tr. 324.
- ^ IISS 2024, tr. 394.
- ^ IISS 2024, tr. 529.
- ^ IISS 1999, tr. 51.
- ^ IISS 1989, tr. 46.
- ^ IISS 1989, tr. 47.
- ^ IISS 2004, tr. 55.
- ^ Cordesman, Anthony H. (ngày 7 tháng 2 năm 2003). Iraqi Armed Forces on the Edge of War (PDF) (Báo cáo). Center for Strategic and International Studies. tr. 6. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2015.
- ^ Mitzer, Stijn; Oliemans, Joost. "Vehicles and equipment captured by the Islamic State inside Syria until November 2014". Oryx Blog.
- ^ IISS 2004, tr. 130.
- ^ IISS 2004, tr. 84.
- ^ IISS 2004, tr. 68.
- ^ IISS 1999, tr. 97.
- ^ IISS 1989, tr. 34,37.
- ^ Kočevar, Iztok (tháng 8 năm 2014). "Micmac à tire- larigot chez Tito: L'arme blindée yougoslave durant la Guerre froide" [Lực lượng bọc thép Nam Tư trong Chiến tranh Lạnh]. Batailles et Blindés (bằng tiếng Pháp). Số 62. Caraktère. tr. 66–79. ISSN 1765-0828.