Bước tới nội dung

Barbie

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bản mẫu:Infobox toy

Barbie là một thương hiệu búp bê thời trang được tạo ra bởi nữ doanh nhân người Mỹ Ruth Handler, được sản xuất bởi công ty đồ chơi và giải trí Mỹ Mattel và ra mắt vào ngày 9 tháng 3 năm 1959. Đồ chơi này dựa trên búp bê Bild Lilli của Đức mà Handler đã mua khi ở châu Âu. Barbie là biểu tượng của một thương hiệu cùng tên bao gồm một loạt các búp bê thời trang và phụ kiện. Barbie đã là một phần quan trọng của thị trường búp bê thời trang. Mattel đã bán được hơn một tỷ búp bê Barbie, biến nó trở thành dòng sản phẩm lớn nhất và sinh lời nhất của công ty.[1] Thương hiệu này đã mở rộng sang lĩnh vực truyền thông đa phương tiện kể từ năm 1984, bao gồm trò chơi điện tử, phim hoạt hình, phim truyền hình/phim chiếu mạng và phim người đóng.

Barbie và người bạn nam của cô ấy, Ken, được mô tả là hai loại búp bê nổi tiếng nhất thế giới.[2] Mattel sản xuất một phần lớn búp bê Barbie. Doanh thu đến từ các mặt hàng liên quan như phụ kiện, quần áo, bạn bè và người thân của Barbie. Viết cho Tạp chí Văn hóa Đại chúng năm 1977, Don Richard Cox nhận xét rằng Barbie có tác động đáng kể đến các giá trị xã hội bằng cách truyền tải đặc điểm của sự độc lập nữ giới, và với vô số phụ kiện, một lối sống thượng lưu lý tưởng có thể được chia sẻ với những người bạn giàu có.[3]

Lịch sử

Phát triển

Tập tin:Ruth Handler in 1961.jpg
Ruth Handler, người sáng tạo ra búp bê Barbie, cùng với một loạt các sản phẩm của Barbie và Mattel (năm 1961)

Ruth Handler, người đồng sáng lập công ty đồ chơi Mattel cùng chồng là Elliot, đã quan sát con gái Barbara chơi với búp bê giấy và nhận thấy rằng bé thường thích cho chúng đóng vai người lớn. Vào thời điểm đó, hầu hết các búp bê đồ chơi trẻ em đều mô phỏng trẻ sơ sinh. Nhận thấy rằng có thể có một khoảng trống trên thị trường, Handler đã đề xuất ý tưởng về một con búp bê có thân hình người lớn cho Elliot, nhưng ông không mấy hào hứng với ý tưởng này, cũng như các giám đốc của Mattel.[4]

Trong một chuyến đi đến Thụy Sĩ năm 1956 cùng các con Barbara và Kenneth, Ruth Handler đã tình cờ bắt gặp một con búp bê đồ chơi của Đức có tên là Lilli.[5] Một đoạn trailer mới cho bộ phim Barbie cho thấy cô ấy đến thăm thế giới thực. Trên thực tế, con búp bê này được dựa trên một món đồ chơi tình dục của Đức có tên là Lilli.[6][lower-alpha 1] Con búp bê hình người lớn chính xác là thứ Handler đang tìm kiếm, vì vậy bà đã mua ba con. Bà tặng một con cho con gái và mang hai con còn lại trả lại cho Mattel. Búp bê Lilli được dựa trên một nhân vật nổi tiếng xuất hiện trong một truyện tranh châm biếm do Reinhard Beuthin vẽ cho tờ báo Bild.[6] Búp bê Lilli lần đầu tiên được bán ở Tây Đức vào năm 1955, và mặc dù ban đầu được bán cho người lớn, nhưng nó đã trở nên phổ biến với trẻ em, những người thích mặc cho búp bê những bộ trang phục được bán riêng.[6][7]

Sau khi trở về Hoa Kỳ, Handler đã thiết kế lại búp bê (với sự giúp đỡ của nhà phát minh kiêm nhà thiết kế địa phương Jack Ryan) và đặt cho búp bê một cái tên mới là "Barbie", theo tên con gái bà, Barbara (sinh ngày 21 tháng 5 năm 1941).[8] Barbara Handler "ghét việc được biết đến là nguồn cảm hứng cho búp bê Barbie."[9] Búp bê này ra mắt lần đầu tại North American International Toy FairThành phố New York vào ngày 9 tháng 3 năm 1959.[10] Ngày này cũng được dùng làm ngày sinh nhật chính thức của Barbie.

Ra mắt

Búp bê Barbie đầu tiên mặc bộ đồ bơi sọc đen trắng ngựa vằn và búi tóc đặc trưng đuôi ngựa, và có hai phiên bản tóc vàng hoặc tóc nâu. Búp bê này được tiếp thị như một "người mẫu thời trang tuổi teen", với trang phục do nhà thiết kế thời trang Charlotte Johnson của Mattel tạo ra.[11]

Đó là một quyết định chiến lược của Handler khi đặt tủ quần áo của búp bê ở vị trí trung tâm. Búp bê Barbie nguyên bản được bán lẻ với giá ba đô la và bộ sưu tập quần áo đầu tiên của cô bao gồm hai mươi hai bộ trang phục có giá từ một đến năm đô la Mỹ. Mattel đã thiết kế búp bê Barbie để thúc đẩy doanh số bán quần áo liên tục sau khi búp bê được mua lần đầu.[12]

Các nhà phân tích dự đoán búp bê này sẽ bán kém do vẻ ngoài người lớn của nó và những giả định phổ biến về sở thích của người tiêu dùng vào thời điểm đó. Ruth Handler tin rằng việc Barbie có vẻ ngoài trưởng thành là rất quan trọng, nhưng các nghiên cứu thị trường ban đầu cho thấy một số phụ huynh không hài lòng về phần ngực của búp bê, vốn có bầu ngực rõ rệt.[13]

Barbie đã bán được khoảng 350.000 con trong năm đầu tiên, vượt xa kỳ vọng của thị trường và tạo ra rủi ro tăng trưởng cho các nhà đầu tư. Doanh số bán Barbie vượt quá khả năng sản xuất của Mattel trong ba năm đầu tiên. Thị trường ổn định trong thập kỷ tiếp theo trong khi khối lượng và lợi nhuận tăng lên nhờ xuất khẩu búp bê được tân trang sang Nhật Bản. Búp bê Barbie được sản xuất tại Nhật Bản trong thời gian này, với quần áo được may thủ công bởi những người thợ may tại nhà người Nhật.[14]

Louis Marx and Company đã kiện Mattel vào tháng 3 năm 1961. Sau khi được cấp phép sử dụng búp bê Lilli, họ tuyên bố rằng Mattel đã "vi phạm bằng sáng chế của Greiner & Hausser về khớp hông của Bild-Lilli", và cũng cho rằng Barbie là "bản sao chép trực tiếp" của Bild-Lilli. Công ty này còn cáo buộc Mattel "đã tự nhận mình là người tạo ra thiết kế một cách sai lệch và gây hiểu nhầm". Mattel đã phản tố và vụ kiện được giải quyết ngoài tòa án vào năm 1963. Năm 1964, Mattel đã mua bản quyền và bằng sáng chế của Greiner & Hausser cho búp bê Bild-Lilli với giá 21.600 đô la Mỹ.[15][16]

Tập tin:Charlotte Johnson with 1965 Barbie doll.jpg
Nhà thiết kế thời trang Charlotte Johnson với búp bê Barbie năm 1965

Ngoại hình của Barbie đã được thay đổi nhiều lần, đáng chú ý nhất là vào năm 1971, khi mắt của búp bê được điều chỉnh để nhìn thẳng về phía trước thay vì nhìn nghiêng e lệ như mẫu ban đầu. Đây sẽ là sự điều chỉnh cuối cùng mà Ruth thực hiện đối với tác phẩm của chính mình, vì ba năm sau, bà và chồng là Elliot đã bị cách chức khỏi Mattel sau một cuộc điều tra kết luận họ phạm tội phát hành báo cáo tài chính sai lệch và gây hiểu nhầm.[13]

Barbie là một trong những món đồ chơi đầu tiên có chiến lược tiếp thị dựa nhiều vào quảng cáo truyền hình, và chiến lược này đã được nhiều đồ chơi khác sao chép rộng rãi. Năm 2006, người ta ước tính rằng hơn một tỷ búp bê Barbie đã được bán trên toàn thế giới tại hơn 150 quốc gia, với Mattel tuyên bố rằng cứ mỗi giây lại có ba búp bê Barbie được bán ra.[17]

Doanh số bán búp bê Barbie đã giảm mạnh từ năm 2014 đến năm 2016.[1] Theo MarketWatch, việc phát hành bộ phim Barbie năm 2023 dự kiến sẽ tạo ra "sự tăng trưởng đáng kể" cho thương hiệu này ít nhất cho đến năm 2030.[18] Cùng với việc thúc đẩy doanh số bán hàng, việc phát hành bộ phim đã tạo ra một xu hướng thời trang được gọi là "Barbiecore"[19] và một hiện tượng văn hóa liên quan đến phim có tên là Barbenheimer.

Xuất hiện trên truyền thông

Bản mẫu:Further

Tập tin:Margot Robbie (53012385004).jpg
Margot Robbie tại buổi ra mắt phim Barbie năm 2023 ở Sydney, Úc

Từ năm 1984, để đáp ứng sự trỗi dậy của kỹ thuật sốphương tiện truyền thông tương tác và sự suy giảm dần doanh số bán đồ chơi và búp bê vào thời điểm đó, Barbie đã được giới thiệu trong một thương hiệu truyền thông cùng tên, bắt đầu với việc phát hành hai trò chơi điện tử cùng tên, một trò chơi vào năm đómột trò chơi khác vào năm 1991 và hai chương trình truyền hình đặc biệt phát sóng trên truyền hình được phát hành vào năm 1987; Barbie and the Rockers: Out of This Worldphần tiếp theo của nó. Sau đó, cô bắt đầu xuất hiện với tư cách là một nữ diễn viên ảo trong một loạt phim hoạt hình phát hành trực tiếp trên video với Barbie and the Nutcracker vào năm 2001,[20] những bộ phim này cũng được phát sóng trên Nickelodeon ở Hoa Kỳ như các chương trình quảng cáo đặc biệt cho đến năm 2017.[21] Từ năm 2017, loạt phim đã được làm mới thành phim truyền hình trực tuyến, mang thương hiệu dưới dạng các "chương trình đặc biệt" hoạt hình và được phát hành thông qua các dịch vụ truyền phát đa phương tiện, chủ yếu trên Netflix.[22][23][24]

Vào thời điểm phát hành Barbie and the Pink Shoes vào ngày 26 tháng 2 năm 2013, loạt phim này đã bán được hơn 110 triệu bản trên toàn cầu.[25] Từ năm 2012, cô ấy đã xuất hiện trong một số truyền hìnhphim ngắn, bao gồm; Barbie: Life in the Dreamhouse, Barbie: Dreamtopia, Barbie: Dreamhouse Adventures, Barbie: Cần hai ngườiBarbie: A Touch of Magic. Ngoài các vai chính, cô ấy còn xuất hiện với tư cách là nhân vật phụ trong loạt phim Toy Story giữa phần phần thứ haiphần thứ ba, cùng với một vai khách mời trong phần thứ tư và loạt phim truyền thông My Scene.[22] Năm 2015, Barbie bắt đầu xuất hiện với tư cách là một vlogger trên YouTube có tên là Barbie Vlogger, nơi cô ấy nói về cuộc sống hư cấu của mình, thời trang, bạn bè và gia đình, và thậm chí cả những chủ đề nhạy cảm như sức khỏe tâm thầnphân biệt chủng tộc.[26][27][28] Cô ấy được thủ vai bởi nữ diễn viên người Úc Margot Robbie trong một bộ phim chuyển thể người đóng[29] được phát hành vào ngày 21 tháng 7 năm 2023 bởi Warner Bros. Pictures tại Hoa Kỳ.[30]

Tiểu sử hư cấu

Bản mẫu:Infobox character Tên đầy đủ của Barbie là Barbara Millicent Roberts. Trong loạt tiểu thuyết do Random House phát hành vào thập niên 1960, cha mẹ của cô được giới thiệu là George và Margaret Roberts, cư dân của thị trấn hư cấu Willows, Wisconsin.[31][32] Trong loạt tiểu thuyết của Random House, Barbie theo học tại Trường Trung học Willows. Tuy nhiên, trong cuốn Generation Girl do Golden Books xuất bản năm 1999, cô được mô tả là học sinh của Trường Trung học Quốc tế Manhattan hư cấu tại Thành phố New York, được xây dựng (dựa trên Trường Trung học Stuyvesant ngoài đời thực).[33]

Nhân vật được xây dựng với một mối quan hệ mang tính lãng mạn trong sáng với bạn trai Ken (“Kenneth Sean Carson”), người lần đầu được giới thiệu vào năm 1961. Một thông cáo từ Mattel phát hành vào tháng 2 năm 2004 cho biết Barbie và Ken đã chia tay,[34] tuy nhiên vào tháng 2 năm 2006, Mattel thông báo rằng hai nhân vật được kỳ vọng sẽ nối lại mối quan hệ sau khi Ken được thiết kế lại.[35] Năm 2011, Mattel triển khai một chiến dịch truyền thông nhằm mô tả Ken nỗ lực giành lại tình cảm của Barbie.[36] Hai nhân vật được mô tả là chính thức tái hợp vào Ngày lễ Tình nhân năm 2011.[37] Bắt đầu với Barbie Dreamhouse Adventures năm 2018, cả hai được xem như những người bạn hoặc hàng xóm thân thiết cho đến khi có sự trở lại ngắn ngủi với phong cách trước năm 2018 trong chương trình truyền hình năm 2023, Barbie: A Touch of Magic.

Mattel đã tạo ra một loạt các bạn đồng hành và người thân cho búp bê Barbie. Cô ấy có ba em gái: Skipper, StacieChelsea (tên cũ là Kelly cho đến năm 2011).[38] Các em gái của cô ấy đã cùng đóng vai chính trong nhiều phần của loạt phim. Loạt phim Barbie, bắt đầu với Barbie & Her Sisters in A Pony Tale năm 2013. Các thành viên "đã nghỉ hưu" trong gia đình Barbie bao gồm Todd (anh trai sinh đôi của Stacie), Krissy (em gái) và Francie (em họ). Bạn bè của Barbie bao gồm Teressa người gốc Tây Ban Nha, Midge, người Mỹ gốc Phi Christie và Steven (bạn trai của Christie). Barbie cũng thân thiết với Blaine, một vận động viên lướt sóng người Úc, trong thời gian cô chia tay Ken vào năm 2004.[39]

Barbie cũng được xây dựng là sở hữu hơn 40 vật nuôi, bao gồm mèo, chó, ngựa, gấu trúc, sư tử con và ngựa vằn. Nhân vật từng được mô tả là sở hữu nhiều loại phương tiện khác nhau, bao gồm xe mui trần Beetle và Corvette màu hồng, xe kéo và xe Jeep. Barbie cũng được mô tả là có bằng phi công và từng đảm nhiệm vai trò điều hành các hãng hàng không thương mại, bên cạnh công việc tiếp viên hàng không. Sự nghiệp của Barbie được xây dựng nhằm phản ánh quan điểm rằng phụ nữ có thể đảm nhiệm nhiều vai trò khác nhau trong xã hội. Qua thời gian, sản phẩm đã được phát hành với nhiều phiên bản nghề nghiệp, bao gồm Miss Astronaut Barbie (1965), Doctor Barbie (1988) và Nascar Barbie (1998).

Di sản và tầm ảnh hưởng

Barbie đã trở thành một biểu tượng văn hóa và được vinh danh những điều hiếm thấy trong thế giới đồ chơi. Năm 1974, một phần của Quảng trường Thời đại ở thành phố New York đã được đổi tên thành Đại lộ Barbie trong một tuần. Bảo tàng Nghệ thuật Trang trí Musée des Arts Décoratifs, Paris tại Louvre đã tổ chức một triển lãm Barbie vào năm 2016. Triển lãm trưng bày 700 búp bê Barbie trên hai tầng, cùng với các tác phẩm của các nghệ sĩ đương đại và các tài liệu (báo chí, ảnh, video) làm rõ bối cảnh của Barbie.[40]

Năm 1986, họa sĩ Andy Warhol đã vẽ một bức tranh về Barbie. Bức tranh đã được bán đấu giá tại Christie's, London với giá 1,1 triệu đô la. Vào năm 2015, Quỹ Andy Warhol đã hợp tác với Mattel để tạo ra búp bê Barbie Andy Warhol.[41][42]

Nghệ sĩ tự học Al Carbee đã chụp hàng ngàn bức ảnh Barbie và tạo ra vô số tranh ghép và mô hình thu nhỏ với Barbie trong nhiều bối cảnh khác nhau.[43] Carbee là nhân vật chính trong bộ phim tài liệu dài tập năm 2013 Vũ trụ kỳ diệu. Tác phẩm nghệ thuật cắt dán của Carbee đã được trưng bày trong triển lãm Barbie năm 2016 tại Musée des Arts Décoratifs, Paris trong phần về các nghệ sĩ thị giác lấy cảm hứng từ Barbie.[44]

Tập tin:Interior of the Barbie Cafe.jpg
Nội thất quán cà phê Barbie ở Đài Loan năm 2013

Vào năm 2013, tại Đài Loan, nhà hàng theo chủ đề Barbie đầu tiên có tên "Barbie Café" được khai trương dưới tên tập đoàn Sinlaku.[45]

Tạp chí The Economist đã nhấn mạnh tầm quan trọng của Barbie đối với trí tưởng tượng của trẻ em:Bản mẫu:Blockquote

Vào ngày 7 tháng 9 năm 2021, sau khi điện ảnh truyền hình trực tuyến Barbie: Big City, Big Dreams ra mắt trên Netflix, Barbie đã hợp tác với nhà sản xuất âm nhạc, nhạc sĩ, ca sĩ và diễn viên được đề cử giải Grammy Ester Dean và Girls Make Beats – một tổ chức chuyên mở rộng sự hiện diện của nữ giới trong lĩnh vực sản xuất âm nhạc, DJ và kỹ sư âm thanh – để truyền cảm hứng cho nhiều bé gái hơn khám phá tương lai trong ngành sản xuất âm nhạc.[46][47][48]

Búp bê Barbie hình mẫu lý tưởng

Vào tháng 3 năm 2018, đúng dịp Ngày Quốc tế Phụ nữ, Mattel đã ra mắt chiến dịch "Barbie tôn vinh những hình mẫu lý tưởng" với một loạt 17 búp bê, được gọi một cách không chính thức là "nữ anh hùng", đến từ nhiều hoàn cảnh khác nhau "để giới thiệu những tấm gương về những người phụ nữ phi thường".[49][50] Mattel đã phát triển bộ sưu tập này để đáp ứng mối quan tâm của các bà mẹ về việc con gái họ có những hình mẫu nữ tích cực hay không. Các búp bê trong bộ sưu tập này bao gồm Frida Kahlo, Patti Jenkins, Chloe Kim, Nicola Adams, Ibtihaj Muhammad, Bindi Irwin, Amelia Earhart, Misty Copeland, Helene Darroze, Katherine Johnson, Sarah Gamma, Martyna Wojciechowska, Sonia Peronaci, Gabby Douglas, Quan Hiểu Đồng, Ava Duvernay, Tân Viên Viên, Iris Apfel, Ashley GrahamLeyla Piedayesh.[49] Vào năm 2020, công ty đã thông báo rằng họ sẽ ra mắt một phiên bản mới của búp bê "shero", bao gồm nhà vô địch Paralympic Madison de Rosario,[49] và nhà vô địch kiếm saber bốn lần thế giới Olga Kharlan.[51][52] Vào tháng 7 năm 2021, Mattel đã phát hành búp bê Barbie Osaka Naomi như một phần của loạt 'Barbie Role Model'. Osaka Naomi ban đầu đã hợp tác với Barbie hai năm trước đó.[53] Một tháng trước đó, một búp bê Julie Bishop đã được phát hành để tưởng nhớ cựu nghệ sĩ này. Nữ chính trị gia người Úc,[54] cũng như một giải thưởng dành cho bác sĩ đa khoa Kirby White vì công việc của bà trong đại dịch COVID-19 ở Úc.[55] Vào tháng 8 năm 2021, một búp bê Barbie được mô phỏng theo nữ phi hành gia Samantha Cristoforetti của Cơ quan Vũ trụ Châu Âu đã được phát hành.[56]

Sưu tầm

Dòng búp bê Barbie tiêu chuẩn và các phụ kiện liên quan được sản xuất theo tỷ lệ xấp xỉ 1/6, còn được gọi là tỷ lệ chơi.[57] Búp bê tiêu chuẩn cao khoảng Trang Bản mẫu:Phân số/styles.css không có nội dung.11+12 inch (29 cm) inch.

Mattel ước tính có hơn 100.000 người đam mê sưu tập búp bê Barbie. Chín mươi phần trăm là phụ nữ, ở độ tuổi trung bình là 40, mua hơn hai mươi búp bê Barbie mỗi năm. Bốn mươi lăm phần trăm trong số họ chi hơn 1000 đô la mỗi năm. Búp bê Barbie cổ điển từ những năm đầu là những món đồ có giá trị nhất tại các cuộc đấu giá, và trong khi búp bê Barbie nguyên bản được bán với giá 3 đô la vào năm 1959, một búp bê Barbie còn nguyên hộp từ năm 1959 đã được bán với giá 3552,50 đô la trên eBay vào tháng 10 năm 2004.[58] Vào ngày 26 tháng 9 năm 2006, một búp bê Barbie đã lập kỷ lục thế giới tại phiên đấu giá với giá 9.000 bảng Anh (17.000 đô la Mỹ) tại Christie's ở London. Búp bê này là Barbie màu Đỏ Nửa Đêm từ năm 1965 và là một phần của bộ sưu tập tư nhân gồm 4.000 búp bê Barbie được bán bởi hai phụ nữ Hà Lan, Ietje Raebel và con gái Marina của bà.[59]

Trong những năm gần đây, Mattel đã bán một loạt búp bê Barbie nhắm đến đối tượng sưu tầm, bao gồm cả phiên bản sứ, bản sao cổ điển và hình ảnh Barbie trong vai các nhân vật từ phim và chương trình truyền hình như The MunstersStar Trek.[60][61] Ngoài ra còn có các phiên bản búp bê sưu tập mô tả búp bê Barbie với nhiều bản sắc dân tộc khác nhau.[62] Năm 2004, Mattel đã giới thiệu hệ thống Color Tier cho búp bê Barbie phiên bản sưu tập của mình, bao gồm màu hồng, bạc, vàng và bạch kim, tùy thuộc vào số lượng búp bê được sản xuất.[63] Năm 2020, Mattel giới thiệu búp bê Barbie phiên bản sưu tầm Dia de Muertos, phiên bản sưu tầm thứ hai được phát hành như một phần của dòng sản phẩm La Catrina của công ty, ra mắt năm 2019.[64]

Cạnh tranh từ búp bê Bratz

Vào tháng 5 năm 2001, MGA Entertainment đã cho ra mắt loạt búp bê Bratz, một động thái tạo ra đối thủ cạnh tranh nghiêm túc đầu tiên cho Barbie trên thị trường búp bê thời trang. Năm 2004, số liệu bán hàng cho thấy búp bê Bratz bán chạy hơn búp bê Barbie tại Vương quốc Anh, mặc dù Mattel vẫn khẳng định rằng xét về số lượng búp bê, quần áo và phụ kiện bán ra, Barbie vẫn là thương hiệu dẫn đầu.[65] Năm 2005, số liệu cho thấy doanh số bán búp bê Barbie đã giảm 30% tại Hoa Kỳ và 18% trên toàn thế giới, phần lớn nguyên nhân là do sự phổ biến của búp bê Bratz.[66]

Vào tháng 12 năm 2006, Mattel đã kiện MGA Entertainment đòi 1 tỷ đô la, cáo buộc rằng người sáng tạo ra Bratz, Carter Bryant, đang làm việc cho Mattel khi ông nảy ra ý tưởng về Bratz.[67] Vào ngày 17 tháng 7 năm 2008, bồi thẩm đoàn liên bang đã đồng ý rằng dòng sản phẩm Bratz được tạo ra bởi Carter Bryant khi ông đang làm việc cho Mattel và rằng MGA cùng giám đốc điều hành Isaac Larian phải chịu trách nhiệm về việc chiếm đoạt tài sản của Mattel để sử dụng cho mục đích riêng của họ và cố ý can thiệp vào các nghĩa vụ hợp đồng mà Bryant nợ Mattel.[68] Vào ngày 26 tháng 8, bồi thẩm đoàn phán quyết rằng Mattel sẽ phải được bồi thường 100 triệu đô la. Vào ngày 3 tháng 12 năm 2008, Thẩm phán Tòa án Quận Hoa Kỳ Stephen Larson đã cấm MGA bán búp bê Bratz. Ông cho phép công ty tiếp tục bán búp bê cho đến khi mùa lễ hội mùa đông kết thúc.[69][70] Khi kháng cáo, Tòa án Phúc thẩm Hoa Kỳ khu vực 9 đã ra lệnh tạm dừng thi hành án; Tòa án cũng đã bác bỏ phán quyết ban đầu của Tòa án Quận đối với Mattel, theo đó MGA Entertainment bị yêu cầu phải từ bỏ toàn bộ thương hiệu Bratz.[71][72]

Công ty MattelCông ty MGA Entertainment đã trở lại tòa án vào ngày 18 tháng 1 năm 2011 để tiếp tục cuộc chiến tranh giành quyền sở hữu "Bratz", lần này bao gồm cả cáo buộc từ cả hai công ty rằng phía bên kia đã đánh cắp bí mật thương mại.[73] Vào ngày 21 tháng 4 năm 2011, một bồi thẩm đoàn liên bang đã đưa ra phán quyết ủng hộ MGA.[74] Vào ngày 5 tháng 8 năm 2011, Mattel cũng bị yêu cầu phải trả cho MGA 310 triệu đô la cho phí luật sư, đánh cắp bí mật thương mại và các khiếu nại sai sự thật, thay vì 88,5 triệu đô la được đưa ra vào tháng Tư.[75]

Vào tháng 8 năm 2009, MGA đã giới thiệu một loạt búp bê có tên Moxie Girlz, nhằm thay thế cho búp bê Bratz.[76]

Toàn cầu hóa văn hóa và sự thể hiện

Các học giả nữ quyền đã nghiên cứu cách truyền thông phương Tây và văn hóa tiêu dùng lan truyền các hình ảnh mang tính giới tính và chủng tộc trên toàn thế giới.[77] Kể từ khi ra mắt vào năm 1959, Barbie đã trở thành một mặt hàng toàn cầu vừa phản ánh vừa tái tạo các lý tưởng về vẻ đẹp của phương Tây, chẳng hạn như màu tóc, màu da và hình dáng cơ thể. Mattel tiếp thị Barbie như một biểu tượng của sự trao quyền cho phụ nữ; Tuy nhiên, các học giả lưu ý rằng hình ảnh này che giấu sự bóc lột kinh tế đối với các nước đang phát triển để sản xuất những con búp bê này.[77][78]

Thông qua việc phân phối toàn cầu, Barbie cho phép phương Tây áp đặt và bình thường hóa các tiêu chuẩn về vẻ đẹp và nữ tính của phụ nữ, ảnh hưởng đến cách phụ nữ và trẻ em gái nhìn nhận bản thân và cách xã hội định nghĩa về nữ tính. Ngay cả những búp bê đa dạng về văn hóa, chẳng hạn như những búp bê trong bộ sưu tập Dolls of the World của Mattel, cũng bị chỉ trích vì đơn giản hóa các bản sắc văn hóa phức tạp thành những hình ảnh rập khuôn, đơn giản phù hợp với các chuẩn mực vẻ đẹp chính thống.[77][79]

Các nhà thiết kế nổi bật

  • Kitty Black Perkins, người tạo ra búp bê Barbie da đen đầu tiên
  • Byron Lars, nhà thiết kế khách mời cho Barbie
  • Bob Mackie, nhà thiết kế khách mời cho Barbie
  • Carol Spencer, nhà thiết kế thời trang Barbie từ năm 1963 đến năm 1999

Xem thêm

Ghi chú

  1. ^ Trong một cuộc phỏng vấn với Mary G. Lord, tác giả của cuốn sách "Forever Barbie", Ruth Handler cho biết bà đã nhìn thấy con búp bê này ở Lucerne, Thụy Sĩ. Tuy nhiên, cuốn sách chỉ ra rằng trong những dịp khác, Handler nói rằng bà đã nhìn thấy con búp bê ở Zurich hoặc Vienna.

Tham khảo

  1. ^ a ă Ziobro, Paul (ngày 28 tháng 1 năm 2016). "Mattel to Add Curvy, Petite, Tall Barbies: Sales of the doll have fallen at double-digit rate for past eight quarters". Wall Street Journal. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2020.
  2. ^ Norton, Kevin I.; Olds, Timothy S.; Olive, Scott; Dank, Stephen (ngày 1 tháng 2 năm 1996). "Ken and Barbie at life size". Sex Roles (bằng tiếng Anh). 34 (3): 287–294. doi:10.1007/BF01544300. ISSN 1573-2762. S2CID 143568530.
  3. ^ Don Richard Cox, "Barbie and her playmates." Journal of Popular Culture 11.2 (1977): 303–307.
  4. ^ Lord, M. G. (2004). Forever Barbie: The Unauthorized Biography of a Real Doll. Bloomsbury Publishing USA. ISBN 978-0-8027-7694-5.Bản mẫu:Pn
  5. ^ Javaid, Maham (ngày 25 tháng 5 năm 2023). "Barbie's 'pornographic' origin story, as told by historians - A new trailer for the Barbie movie shows her visiting the real world. In reality, the doll was based on a German sex toy called Lilli". The Washington Post. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2023.
  6. ^ a ă â "Sassy with a sidelong glance: Meet Lilli, Barbie's German inspiration". Sydney Morning Herald. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2023. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; tên "Lilli" được định nghĩa nhiều lần với nội dung khác nhau
  7. ^ "Meet Lilli, the High-end German Call Girl Who Became America's Iconic Barbie Doll". Messy Nessy. ngày 29 tháng 1 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2018.
  8. ^ Bản mẫu:Cite magazine
  9. ^ Bản mẫu:Cite magazine
  10. ^ "Ruth Mosko Handler unveils Barbie Doll". Jewish Women's Archive. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2014.
  11. ^ "Barbie". FirstVersions.com. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2021.
  12. ^ Feder, Karan (ngày 3 tháng 10 năm 2023). Barbie Takes the Catwalk, A Style Icon's History in Fashion (bằng tiếng Anh) . San Rafael, California, USA: Weldon Owen. tr. 12. ISBN 979-8-88674-049-3.
  13. ^ a ă "Mattel, Inc. History". International Directory of Company Histories. Vol.61. St. James Press (2000). Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2014.
  14. ^ Dean, Grace. "Barbie is the star of the summer's hottest blockbuster. The much-hyped movie is the pinnacle of a 60-year history filled with rejections, lawsuits, and controversies for the world's most iconic doll". Business Insider. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2023.
  15. ^ Oppenheimer, Jerry (2009). Toy monster: the big, bad world of Mattel. Hoboken, N.J.: Wiley. tr. 33–34. ISBN 978-0071402118.
  16. ^ "Mattel Wins Ruling in Barbie Dispute". Los Angeles Times. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2015.
  17. ^ "Vintage Barbie struts her stuff". BBC News. ngày 22 tháng 9 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2010.
  18. ^ "2023 "Barbie Doll Market" Regional Sales and Future Trends Analysis". MarketWatch (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2023.
  19. ^ Bản mẫu:Cite magazine
  20. ^ "Barbie Animated Film Series". IMDb. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2021.
  21. ^ "Barbie shows signs of life as Mattel plots comeback". Detroit Free Press. ngày 18 tháng 4 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2017.
  22. ^ a ă "Barbie in pop culture". Barbie Media. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2022.
  23. ^ Laurie, Virginia (ngày 22 tháng 1 năm 2022). "The Legacy of the Barbie Cinematic Universe". Study Breaks (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2022.
  24. ^ "Barbie® Makes Music in Mattel Television's New Animated Movie". Mattel Television (Thông cáo báo chí). Mattel. ngày 1 tháng 8 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2020.
  25. ^ Bản mẫu:Cite magazine
  26. ^ "Barbie Vlogger". Mattel Television (Animation). Mattel. ngày 19 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2022.
  27. ^ Scott, Ellen (ngày 30 tháng 5 năm 2017). "Why it's so powerful for Barbie to talk about mental health". Metro (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2022.
  28. ^ Mitchell, Skylar (ngày 10 tháng 10 năm 2020). "Barbie confronts racism in viral video and shows how to be a White ally". CNN (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2022.
  29. ^ "Everything to Know About Margot Robbie's Live-Action 'Barbie' Movie". Us Weekly (bằng tiếng Anh). ngày 26 tháng 3 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2022.
  30. ^ Donnelly, Matt (ngày 26 tháng 4 năm 2022). "Margot Robbie's Barbie Sets 2023 Release Date, Unveils First-Look Photo". Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2022.
  31. ^ Lawrence, Cynthia; Bette Lou Maybee (1962). Here's Barbie. Random House. OCLC 15038159.
  32. ^ "Original Model Barbie Doll". Wisconsin Historical Society. ngày 23 tháng 4 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2021.
  33. ^ Biederman, Marcia (ngày 20 tháng 9 năm 1999). "Generation Next: A newly youthful Barbie takes Manhattan". New York. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2009.
  34. ^ The Storybook Romance Comes To An End For Barbie And Ken Lưu trữ ngày 1 tháng 11 năm 2017 tại Wayback Machine Mattel February 12, 2004
  35. ^ Madeover Ken hopes to win back Barbie Lưu trữ ngày 27 tháng 1 năm 2023 tại Wayback Machine CNN February 10, 2006
  36. ^ Bản mẫu:Cite magazine
  37. ^ Kavilanz, Parija (ngày 14 tháng 2 năm 2011). "Barbie and Ken: Back together on Valentine's Day". CNN. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2020.
  38. ^ "About Barbie: Family and friends". Mattel. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2022. Barbie has three sisters: Skipper, Stacie, Chelsea
  39. ^ Joseph Lee (ngày 29 tháng 6 năm 2004). "Chàng trai Úc chinh phục trái tim Barbie". CNN Money. CNN. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2011.
  40. ^ "Musée des Arts Décoratifs". Musée des Arts Décoratifs. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2016.
  41. ^ Neuendorf, Henri (ngày 3 tháng 12 năm 2015). "Limited Edition Andy Warhol Barbie Hits the Shelves". Artnet. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2016.
  42. ^ Moore, Hannah (tháng 10 năm 2015). "Why Warhol painted Barbie". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2018.
  43. ^ Gómez, Edward (ngày 10 tháng 5 năm 2014). "Al Carbee's Art of Dolls and Yearning: "Oh, for a real, live Barbie!"". Hyperallergic.
  44. ^ Bender, Silke (ngày 12 tháng 3 năm 2016). "Widerlegt! Die 10 größten Irrtümer über Barbie". Die Welt (bằng tiếng Đức). Welt.
  45. ^ "First Barbie-themed restaurant opens in Taiwan". Daily Times. ngày 31 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2013.[liên kết hỏng vĩnh viễn]
  46. ^ "Barbie® Launches New Music Producer Doll to Highlight the Gender Gap in The Industry". Mattel News (bằng tiếng Anh). ngày 13 tháng 9 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2021.
  47. ^ "Barbie". Girls Make Beats (bằng tiếng Anh). ngày 7 tháng 9 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2021.
  48. ^ "Barbie Makes Big Announce With Girls Make Beats Introducing New Doll". Stichiz on iHeartRadio (bằng tiếng Anh). ngày 14 tháng 9 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2021.
  49. ^ a ă â "Barbie | Role Models | Inspiring Women | You Can Be Anything". Barbie.com by Mattel. 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2018.
  50. ^ Leguizamon, Mercedes; Ahmed, Saeed (ngày 7 tháng 3 năm 2018). "Barbie unveils dolls based on Amelia Earhart, Frida Kahlo, Katherine Johnson and Chloe Kim". CNN News. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2018. {{Chú thích báo}}: |ngày lưu trữ= cần |url lưu trữ= (trợ giúp)
  51. ^ Toma Istomina (ngày 5 tháng 3 năm 2020). "Barbie launches doll inspired by Ukrainian fencer Olga Kharlan". Kyiv Post. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2023.
  52. ^ "Fencing focus: Olga Kharlan". FIE official website. ngày 30 tháng 6 năm 2020.
  53. ^ "Barbie Doll Modeled After Naomi Osaka Sells Out Within Hours of Release". Black Enterprise (bằng tiếng Anh). ngày 18 tháng 7 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2021.
  54. ^ Singer, Melissa (ngày 15 tháng 6 năm 2021). "'It sent a message': Julie Bishop just got her own Barbie doll". The Sydney Morning Herald (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2021.
  55. ^ Price, Kimberley (ngày 5 tháng 8 năm 2021). "Aussie GP honoured as one of six special Barbies". Daily Liberal (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2021.
  56. ^ "Samantha Cristoforetti Barbie Doll". Mattel Creations. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 12 năm 2022. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2022.
  57. ^ "Playscale per About.com". About.com. ngày 2 tháng 3 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2011.
  58. ^ "1959 Blonde Ponytail Barbie Brings Over $3,000!". Scoop. ngày 16 tháng 10 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 2 năm 2006. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2010.
  59. ^ "Midnight Red Barbie Doll sets auction record". London: Yahoo! Australia. ngày 27 tháng 9 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2010.
  60. ^ "Welcome to the official Mattel site for Barbie Collector". BarbieCollector.com. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2012.
  61. ^ "Welcome to the official Mattel site for Barbie Collector". BarbieCollector.com. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2012.
  62. ^ "Welcome to the official Mattel site for Barbie Collector". BarbieCollector.com. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2012.
  63. ^ "Collectible Barbie Dolls: Become A Barbie Collector : Barbie Signature". Barbie by Mattel.com. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 8 năm 2008.
  64. ^ Kelly Murray (ngày 12 tháng 9 năm 2020). "Mattel releases second edition of 'Day of the Dead' Barbie". CNN (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2020.
  65. ^ "Bratz topple Barbie from top spot". BBC News. ngày 9 tháng 9 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2010.
  66. ^ "Barbie blues for toy-maker Mattel". BBC News. ngày 17 tháng 10 năm 2005. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2010.
  67. ^ "Barbie sues Bratz for $1bn". The Daily Telegraph. London. ngày 22 tháng 8 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2015.
  68. ^ "Jury rules for Mattel in Bratz doll case". The New York Times. ngày 18 tháng 7 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2008.
  69. ^ "Barbie beats back Bratz". CNN Money. ngày 4 tháng 12 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2008.
  70. ^ Colker, David (ngày 4 tháng 12 năm 2008). "Bad day for the Bratz in L.A. court". Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2008.
  71. ^ "Court throws out Mattel win over Bratz doll". Reuters. ngày 22 tháng 7 năm 2010. Bản gốc lưu trữ tháng 7 24, 2011. Truy cập tháng 7 22, 2010.
  72. ^ Mattel Inc. v. MGA Entertainment, Inc. Lưu trữ ngày 31 tháng 7 năm 2010 tại Wayback Machine, no. 09-55763 (9th Cir. Jul 22, 2010)
  73. ^ Chang, Andrea (ngày 18 tháng 1 năm 2011). "Mattel, MGA renew fight over Bratz dolls in court". Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2019.
  74. ^ "Federal jury says MGA, not Mattel, owns Bratz copyright". Southern California Public Radio. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2011.
  75. ^ Chang, Andrea (ngày 5 tháng 8 năm 2011). "Mattel must pay MGA $310 million in Bratz case". Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2011.
  76. ^ Anderson, Mae (ngày 3 tháng 8 năm 2009). "Bratz maker introduces new doll line". Associated Press. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2009.
  77. ^ a ă â Hobbs, Margaret; Rice, Carla, biên tập (2018). "Transnational Feminismgia". Gender and Women's Studies: Critical Terrain (ấn bản thứ 2). Women's Press. tr. 709–723. {{Chú thích sách}}: |first= thiếu |last= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |lastchapter= (trợ giúp)
  78. ^ Chan, Shuk Ying; Patten, Alan (2024). "What's Wrong with Neocolonialism: The Case of Unequal Trade in Cultural Goods". American Political Science Review (bằng tiếng Anh). 118 (4): 1643–1657. doi:10.1017/S0003055423000795. ISSN 0003-0554.
  79. ^ McGee, Alexis (ngày 8 tháng 8 năm 2026). "Barbie goes abroad: Critiquing feminism, technology, and stereotypes in the narratives and social media strategies of Barbie". Trong Medina, Cruz; Pimentel, Octavio (biên tập). Racial Shorthand. CCDigitalPress.

Liên kết ngoài

Bản mẫu:Barbie